ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ
LÁY VÀ TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG
*********
Các nội dung chính trong đề tài
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/ Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng
Việt bậc Tiểu học.
2/ Thực trạng của việc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe
đọc, nói, viết cuả học sinh lớp 5/2 trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
3/ Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính
khóa đang hiện hành
a/ Mặt tích cực:
b/ Mặt hạn chế:
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương
trình chính khoá.
2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy
3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
4/ Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép
5/ Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép
6/ Kết qủa đạt được
7/ Bài học kinh nghiệm
III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
1/ Các kiến nghị, đề xuất
2/ Tài liệu tham khảo
1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ
TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/ Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng
lệch
b/ Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn.
c/ Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính xác.
d/ Kĩ năng xác định từ loại còn hạn chế.
Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục. Tuy nhiên , trong
phạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề . Đó là kĩ năng
phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế. Ở đơn vị kiến thức
naỳ, học sinh thường mắc các lỗi như sau:
• Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận cuả tiếng
giống nhau như các từ : nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chống
v v
• Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầu
thường là các từ tượng thanh, tượng hình.
• Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợp
trong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính
từ.
• Học sinh có vốn từ ghép và từ laý có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi.
Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nội
dung sách giáo khoa , phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học
tập của học sinh và một số vấn đề có liên quan khác.
3/ Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính
khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:
a/ Mặt tích cực:
Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,
quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh.
Sự thể hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng.
Các kiến thức học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiến
3
thức về câu, học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen với
4
cũng chính là yêu cầu của việc dạy học 2 buổi / ngày. Mặt khác , kiến thức về
cấu tạo từ , các em đã được học ở lớp 4. Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức
để học sinh tiếp thu có thể tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà GV
lớp 5 phải đảm nhận.
Sau đây , tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cố
kiến thức về cấu tạo từ cho HS lớp 5/2
2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy :
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy .
* Nhận dạng được từ láy.
* Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước.
* Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II/ Chuẩn bị:
• 4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy .
• Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.
III/ Các hoạt động dạy học:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích
yêu cầu tiết học.
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ ghép:
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:
Xếp những từ được in đậm trong đoạn văn
sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây
trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh,
như dâng cao lên chắc nịch. Trời âm u , mây
mưa, biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm
giông gió, biển đục ngầu giận dữ. Như một
các kiểu từ láy trên thành lọ . Cho HS thi cắm
hoa vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng kiểu từ
láy được ghi trên thành lọ hoa.
Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút.
GV chấm chọn đôị thắng cuộc và đặt những
câu hỏi để học sinh ghi nhớ sự khác biệt của
các kiểu từ láy.
- HS tham gia trò chơi
Từ láy từ ghép
Âm u
Xám xịt
Nặng nề
Ầm ầm
Hả hê
Lạnh lùng
Thay đổi
Màu sắc
Đục ngầu
Xanh thắm
Mây mưa
Đăm chiêu
- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ, êm
ái, ủn ỉn, ì ạch
- Có 4 kiểu từ láy: láy âm ,
láy vần , láy âm và vần , láy
tiếng.
HS tham gia trò chơi
Lọ 1: Láy âm: hồng hào,
vắng vẻ, chậm chạp, cần cù.
Lọ 2: Láy vần : lon ton, lao
Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau: xem
lại kiến thức về từ ghép.
Lọ 4: Láy tiếng: xanh xanh,
cào cào, chuồn chuồn, vui
vui.
- HS nêu.
- HS tìm thêm các ví dụ về
từ láy 3, 4 tiếng có cấu
tạo như GV vừa nêu.
HS làm bài cá nhân.
HS tham gia trò chơi:
Vui vui, vui vẻ vui vầy.
Nhanh nhanh, nhanh nhẹn,
nhanh nhảu.
Xa xa, xa xăm , xa xôi.
trắng trẻo, trăng trắng,
Tròn trịa, tròn trĩnh, tròn tròn.
3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép .
7
* Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại.
* Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc
cho trước.
* Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II/ Chuẩn bị:
• Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.
III/ Các hoạt động dạy học:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu : GV nêu mục đích yêu cầu tiết
Xanh um
Điệu hát
8
GV nhận xét, chấm chữa và công bố đội
thắng.
GV chốt ý: Từ láy là những từ có bộ phận
của tiếng được láy lại giống nhau. Từ ghép
là từ có nhiều tiếng được ghép lại với nhau
để tạo nên nghĩa chung. Trong từ ghép lại
có 2 kiểu : Từ ghép có nghiã tổng hợp và từ
ghép phân loại.
Hoạt động 2: Phân biệt từ ghép tổng hợp và
từ ghép phân loại:
GV yêu cầu học sinh tìm từ ghép phân loại và
từ ghép tổng hợp trong các từ ghép vừa tìm
được ở bài tập 1.
Cho HS trình bày.
GV cho HS thảo luận nhóm đôi, trả lời câu
hỏi sau: Tìm những tiếng có nghĩa rõ ràng
trong các từ ghép.
Cho HS trình bày.
GV hỏi: Dựa vào số lượng tiếng có nghĩa rõ
ràng cuả mỗi từ , em hãy nêu sự khác nhau
của từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại ?
Cho HS trình bày.
GV chốt: Các từ ghép tổng hợp thường có 2
tiếng đều có nghiã rõ ràng, từ ghép phân loại
thường chỉ có 1 tiếng có nghiã rõ ràng, một
tiếng mờ nghĩa ( không rõ nghĩa), hoặc cả 2
tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ 2 lệ thuộc
Cho HS trình bày.
GV chốt:
Từ ghép tổng hợp : Thường có 2 tiếng cùng
từ loại và có thể đổi vị trí cho nhau mà
nghĩa của từ không thay đổi : bản làng, làng
bản, núiđồi, đồi núi. sướng vui, vui sướng, cao
thấp, thấp cao. Hai tiếng trong từ ghép tổng
hợp thường là hai từ cùng nghĩa (gần nghiã)
như : vui sướng, đau khổ, xe cộ, xinh đẹp
hoặc trái nghiã nhau như : xa gần, cao thấp,
lớn bé, trẻ già.
Từ ghép phân loại : Thường có 2 tiếng khác từ
loại.( Trừ trường hợp từ ghép phân loại là
danh từ như: nhà sàn, nhà ngói, đất cát, đất
đỏ, đất phèn )
Hoạt động 3: Chơi trò chơi : Khám phá
vốn từ Tiếng Việt:
GV phát phiếu học tập nhóm ghi sẵn bài tập
sau:
Điền từ vào ô còn thiếu:
Tiếng gốc Từ ghép TH Từ ghép PL
Vui tính : động + danh
cao cờ : Tính + danh
đau lòng: động + danh
Mây mưa: Danh + Danh
Sướng vui: Động + động
Cao thấp: Tính + tính
HS làm bài
Tiếng
gốc
Nhận xét tiết học và dặn dò chuẩn bị bài sau.
Xe Xe cộ Xe tải
HS làm bài cá nhân
HS trả lời :
Có hai cách giúp phân biệt
nhanh từ ghép tổng hợp và từ
ghép phân loại là:
1/Dưạ vào nghĩa.
2/ Dựa vào cấu tạo cuả từ.
4/ Thiết kế tiết dạy giúp học sinh phân biệt từ láy và từ ghép
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép và từ láy .
* Nhận dạng được từ láy, từ ghép trong trường hợp từ ghép có tiếng có bộ
phận giống nhau.
* Tìm được từ láy, từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng
gốc cho trước.
* Biết sử dụng từ phức để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II/ Chuẩn bị:
- Bảng dạ cài các thẻ từ ghi sẵn từ ghép và từ láy.
- Bảng phụ.
- Băng giấy chuẩn bị cho trò chơi tìm từ ở giữa.
III/ Các hoạt động dạy học:
11
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu: GV nêu mục đích yêu cầu
tiết học.
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Trò chơi Tìm từ cho đúng:
GV treo bảng dạ cài sẵn những từ ngữ sau
và tổ chức cho HS tìm và phân ra thành 2
Âm ỉ mệt mỏi
Công kênh Chăn chiếu
HS trả lời:
Về nhà, đi chơi là cụm từ gồm 2
từ đơn.
Monh muốn , mệt mỏi là từ ghép
vì cả 2 tiếng trong từ đều có
nghiã.
Âm ỉ là từ láy đặc biệt.
Công kênh là từ láy vì âm c có 3
hình thức viết : c, k, q.
HS làm bài
Tiếng Từ
láy
TGTH TGPL
Nhà Nhà Nhà Nhà
12
Tìm từ và điền vào ô cho đúng:
Tiếng Từ láy TGTH TGPL
Nhà
Rộng
rãi
chật hẹp
Vui tính
Chậm
GV cho học sinh trình bày bài làm.
GV chấm chữa và chốt ý.
Hoạt động 3 : Trò chơi Tìm từ ở giữa:
GV lần lượt đưa ra những băng giấy, cho HS
phát hiện từ ở giữa thích hợp, sao cho tạo
Vui Vui
vẻ
Vui
buồn
Vui
tính
Chậm Chậm
chạp
Nhanh
Chậm
Nhanh
Trí
HS tham gia trò chơi:
1/ Nhân dân, dân chúng
2/ Khỏe mạnh, mạnh bạo
3/ Học hành, hành hạ
4/ Chăm chú, chú ý
5/ Đấu tranh , tranh giành.
HS làm bài cá nhân.
5/ Một số bài tập vận dụng kiến thức về từ láy và từ ghép
13
• Tìm từ ghép và từ láy có trong đoạn văn sau:
Ánh nắng lên tới bờ cát, lướt qua những thân tre nghiêng nghiêng,
vàng óng. Nắng đã chiếu sáng lòa cửa biển. Xóm lưới cũng ngập trong
nắng đó. Sứ nhìn những làn khói bay lên từ các mái nhà chen chúc của bà
con làng biển. Sứ còn thấy rõ những vạt lưới đan bằng sợi ni lông óng
vàng, phất phơ bên cạnh những vạt lưới đen ngăm, trùi trũi.
( Hòn Đất –Anh Đức)
Từ láy Từ ghép
Nghiêng nghiêng, chen chúc, phất phơ
cao
*Dựa vào từ đã có , hãy tìm từ còn thiếu:
Từ đơn Từ láy Từ ghép phân loại Từ ghép tổng hợp
đau đớn
Đẹp
trắng tay
nhanh chậm
* Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau đây thành 2 nhóm từ láy và từ
ghép
Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây trời. Trời xanh thẳm, biển cũng
thẳm xanh, như dâng cao lên chắc nịch. Trời âm u , mây mưa, biển xám xịt,
nặng nề. Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu giận dữ. Như một con người
biết buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi, hả hê, lúc đăm chiêu, gắt
gỏng.
* Điền các từ : loắt choắt, thoăn thoắt, nghênh nghênh, xinh xinh vào
những chỗ trống trong đoạn thơ sau đây sao cho hợp nghĩa:
Chú bé
Cái xắc
Cái chân
Cái đầu
• Trong các dòng sau đây từ nào dùng chưa đúng , hãy sửa lại cho
đúng:
a/ Dáng người cậu bé Chôm nhỏ nhen , thật đáng yêu.
b/ Trên cành cây cao thăm thẳm, mấy quả chín đỏ lủng lẳng trông ngon
lành quá.
c/ Cô giáo em có mái tóc dài ngoằn ngoeò.
d/ Tiếng hót của chim vàng anh mới óng ả làm sao.
15
( Các từ dùng sai là :
câu a/ nhỏ nhen ( vì nhỏ nhen là từ chỉ tính cách, sửa lại : nhỏ nhắn )
trình đổi mới sách giáo khoa lớp 4, chúng tôi đã đạt được những kết quả sau
đây:
TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SAU KHI ÁP DỤNG
*Chất lượng học tập môn luyện từ và
câu đạt được:
GIỎI : 15%
KHÁ : 30%
T.BÌNH : 40%
YẾU : 15%
* Học sinh còn lẫn lộn giữa từ láy với
từ ghép.
* Học sinh còn lẫn lộn giữa từ ghép
tổng hợp và ghép phân loại.
* Học sinh còn lẫn lộn giữa cụm từ với
từ phức.
* Khả năng vận dụng từ để viết văn
còn rất hạn chế.
* Tiết dạy tăng cường thường nặng nề,
không gây được hứng thú mà chưa
củng cố và mở rộng kiến thức vững
chắc cho học sinh.
*Chất lượng học tập môn luyện từ và
câu đạt được:
GIỎI : 35 %
KHÁ : 50 %
T.BÌNH : 15 %
YẾU : 0 %
* Học sinh phân biệt nhanh từ láy và từ
ghép.
* Học sinh xác địng đúng từ ghép tổng
• Cần biết giờ học tăng cường thành giờ chơi sáng tạo để gây hứng thú
cho học sinh , bớt đi sức ép nặng nề của cả một ngày học tập.
• Học sinh chỉ có thể nhớ lâu kiến thức khi được ôn tập và củng cố
thường xuyên nên thỉnh thoảng GV phải tổ chức cho học sinh ôn bài
hợp lí.
• Luôn luôn tạo điều kiện cho học sinh luyện viết đoạn văn bằng cách
vận dụng vốn từ ngữ được học để nâng cao chất lượng viết văn cho các
em.
• Học sinh nắm được loại từ thì mới xác định đúng từ, ngữ và các bộ
phận chính và phụ của câu một cách chính xác. Vì thế không nên xem
nhẹ phần kiến thức về loại từ.
• Tuyệt đối không lẫn lộn giữa từ loại và loại từ, cần cho học sinh ghi
nhớ 2 đơn vị kiến thức này bằng cách đơn giản như sau:
Loại từ : từ đơn , từ láy, từ ghép .( đều có từ từ đứng trước)
Từ loại: danh từ, động từ , tính từ , đại từ , quan hệ từ (đều có từ từ đứng
sau)
18
III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Để dạy tốt môn Tiếng Việt ở tiểu học , đòi hỏi người giáo viên phải tìm
tòi học hỏi, nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy ở từng phân môn cụ thể
như tập đọc , chính tả , luyện từ và câu, tập làm văn nhằm rèn luyện 4 kĩ năng
nghe, đọc , nói , viết cho học sinh. Bậc tiểu học là bậc học nền tảng nên học sinh
tiểu học học càng giỏi, càng nắm chắc kiến thức , có các phương pháp học tập
tốt, chắc chắn sẽ học tập giỏi hơn ở các cấp sau này.Với phân môn luyện từ và
câu, tập làm văn,nếu các em có kiến thức vững chắc về từ, từ loại , có kĩ năng
đặt câu,viết đoạn tốt thì việc học các dạng bài, kiểu bài tập làm văn như kể
chuyện, miêu tả,viết thư hay phát biểu cảm nghĩ, phân tích tác phẩm, giải thích,
chứng minh ở cấp trung học sẽ đạt chất lượng cao.
Việc tạo tiền đề để học sinh học sinh học tốt ở cấp sau và trở thành người
học sinh phát triển toàn diện có đạo đức, phẩm chất tốt đẹp trong sáng, có trí
PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở CẤP TIỂU HỌC
Chương I - Phần mở đầu
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
. Cơ sở lí luận
1.2.Cơ sở thực tiễn.
Chương II
20
Thực trạng dạy và học kiểu bài kể chuyện trong phân môn tập làm văn lớp
3,4,5 ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc
2.1 Thực trạng việc dạy kiểu bài kể chuyện của giáo viên
2.2 Thực trạng việc học kiểu bài kể chuyện của học sinh.
2.3 Đánh giá thực trạng việc dạy và học phân môn kể chuyện
2.4 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
Chương III
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn
kể chuyện ở cấp tiểu học.
3.1 Biện pháp 1 : Dựa vào các bài thơ mang tính chất tự sự tập diễn xuôi để
luyện tập thực hành kể chuyện
3.2 Biện pháp 2 : Dựa vào các trích đọan kịch để phát triển thành chuyện kể.
3.3 Biện pháp 3 : Dựa vào các cột chuyện cho sẵn để xây dựng thành câu
chuyện.
3.4 Biện pháp 4: Dựa vào các nhân vật cho sẵn để xây dựng thành câu chuyện.
3.5 Biện pháp 5 : Dựa vào các đọan văn kể chưa hòan chỉnh hoặc còn bỏ lững
để phát huy óc tưởng tượng kể thành câu chuyện.
Chương IV
Bài học kinh nghiệm và kết quả đạt được.
4.1 Bài học kinh nghiệm
4.2 Kết quả đạt được
Chương V Kết luận
1. Kết luận.
Vua Hùng một sang đi săn.
Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này
Dân dâng một quả xôi đầy
Bánh chưng mấy cặp bánh dày mấy đôi
Đẹp lòng vua phán bầy tôi
Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà
Trăm cô gái tựa tiên sa
Múa chày đôi với chày ba thậm thình….
Tự xa xưa thưở nào
Trong rừng xanh sâu thẳm
Đôi bạn sống bên nhau
Bê Vàng Và Dê Trắng
Một năm trời hạn hán
Suối cạn cỏ héo khô
Lấy gì nuôi đôi bạn
Chờ mưa đến bao giờ
23
Bê Vàng đi tìm cỏ
Lang thang quên đường về
Dê Trắng thương bạn quá
Chạy khắp nẻo tìm Bê
Đến bây giờ Dê Trắng
Vẫn kêu hoài : Bê! Bê!
3.2 Biện pháp 2 : Dựa vào các trích đọan kịch để phát triển thành chuyện kể.
3.3 Biện pháp 3 : Dựa vào các cột chuyện cho sẵn để xây dựng thành câu
chuyện.
3.4 Biện pháp 4: Dựa vào các nhân vật cho sẵn để xây dựng thành câu chuyện.
3.5 Biện pháp 5 : Dựa vào các đọan văn kể chưa hòan chỉnh hoặc còn bỏ lững
để phát huy óc tưởng tượng kể thành câu chuyện.