BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN HỮU NGỌC
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG KALI VÀ LÂN ĐẾN
SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÂY TRẠCH TẢ
(ALISMA PLANTAGO AQUATICA L.) TRÊN ĐẤT 2 LÚA VỤ
ĐÔNG NĂM 2013 TẠI HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
văn là trung thực và chưa từng được sử dụng bảo vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ
rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Ngọc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với TS. Nguyễn Mai
Thơm đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công
trình nghiên cứu này.
Tôi xin cảm ơn Khoa Nông học đặc biệt là Bộ môn Canh tác học –
Khoa Nông học đã giúp đỡ tôi rất nhiều cho việc hoàn thành báo cáo này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm HTX nông nghiệp Khánh
Thủy, Lãnh đạo UBND xã Khánh Thủy huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình,
cùng toàn thể các hộ gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai và thực
hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả những bạn bè đồng nghiệp,
người thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
hoàn thiện luận văn.
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích và yêu cầu 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Giới thiệu về cây trạch tả 4
2.1.1. Phân loại thực vật 4
2.1.2. Đặc điểm sinh vật học bộ, họ trạch tả và loài trạch tả 4
2.1.3. Thu hái hạt, gieo hạt và hướng sử dụng trong trồng trọt 7
2.1.4. Tác dụng dược lý 8
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài 12
2.3. Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến cây trồng 19
2.4. Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc trên thế giới và ở Việt Nam 25
2.4.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc trên thế giới 25
2.4.2. Tình hình nghiên cứu và phát triển cây thuốc ở Việt Nam 27
4.1. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng và năng suất củ dược
liệu trạch tả tại Yên Khánh, Ninh Bình 43
4.1.1. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng qua các
giai đoạn 43
4.1.2. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến động thái tăng chiều cao cây 44
4.1.3. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến động thái đẻ nhánh 46
4.1.4. Ảnh hưởng lượng lân bón đến động thái ra lá 47
4.1.5. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến chỉ số diện tích lá 48
4.1.6. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến khả năng tích lũy chất khô 50
4.1.7. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến khả năng chống chịu sâu,
bệnh hại 51
4.1.8. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất 52
4.1.9. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến hiệu quả kinh tế 55
4.2. Ảnh hưởng của lượng lân, kali bón đến sinh trưởng, phát triển và năng
suất trạch tả 56
4.2.1. Ảnh hưởng của lượng lân và kali bón đến thời gian sinh trưởng 56
4.2.2. Ảnh hưởng của lượng lân và kali bón đến động thái tăng
PHỤ LỤC 86
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Từ viết tắt
CCCC Chiều cao cuối cùng
CT Công thức
Đ/C Đối chứng
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
FAO Food and Agriculture Organization
N:P:K Đạm – Lân - Kali
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
NXB Nhà xuất bản
SLCC Số lá cuối cùng
SNCC Số nhánh cuối cùng Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng qua
các giai đoạn 43
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của lượng lân bón đến động thái tăng chiều
Bảng 4.12b. Ảnh hưởng tương tác của lượng lân và kali bón đến động thái
ra nhánh 63
Bảng 4.13a. Ảnh hưởng riêng của của lượng lân và kali bón đến động thái
ra lá 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
Bảng 4.13b. Ảnh hưởng tương tác của của lượng lân và kali bón đến động
thái ra lá 66
Bảng 4.14a. Ảnh hưởng riêng của lượng lân và kali bón đến chỉ số
diện tích lá (LAI ) 67
Bảng 4.14b. Ảnh hưởng tương tác của lượng lân và kali bón đến chỉ số
diện tích lá (LAI) 69
Bảng 4.15a. Ảnh hưởng riêng của lượng lân và kali bón đến khả năng tích
lũy chất khô 70
Bảng 4.15b. Ảnh hưởng tương tác của lượng lân và kali bón đến khả năng
tích lũy chất khô 71
Bảng 4.16. Ảnh hưởng của phân bón lá đến mức độ nhiễm sâu,
bệnh hại 74
Bảng 4.17a. Ảnh hưởng riêng của lượng lân và kali bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất 75
mặt nông thôn một cách toàn diện và hiệu quả.
Tuy nhiên, để xây dựng nông thôn mới thì tiêu chí quan trọng và khó
thực hiện nhất đó là nâng cao giá trị sản xuất nhằm tăng thu nhập. Hầu hết
dân cư ở nông thôn chủ yếu là làm nông nghiệp, thế nhưng trong những
năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, sự phát sinh của các dịch
bệnh nguy hiểm đã làm cho sản xuất nông nghiệp dần trở nên bấp bênh,
thêm vào đó giá cả vật tư đầu vào tăng cao, giá nông sản bán ra thấp đã làm
cho người dân không còn tha thiết với nông nghiệp, tình trạng bỏ ruộng, trả
ruộng diễn ra ở nhiều nơi. Trước tình hình đó Bộ Nông nghiệp & PTNT đã
đặt ra mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị
gia tăng và phát triển bền vững, sản xuất những cây trồng có giá trị kinh tế
cao và phát huy lợi thế riêng từng vùng
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam của vùng ĐBSH, cách Hà Nội
hơn 90 km về phía Nam, nằm trên tuyến giao thông huyết mạch Bắc -
Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam; Phía Đông Bắc giáp tỉnh Nam Định;
Phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông; Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh
Thanh Hoá; Phía Tây và Tây Bắc giáp tỉnh Hoà Bình.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 62.709,1 ha, trong đó diện tích
đất trồng lúa khoảng 40.000 ha. Lao động nông nghiệp là 254,2 nghìn
người (54,9%) tương đương với các tỉnh vùng ĐBSH.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Những năm gần đây Ninh Bình đã có những chủ trương, chính sách
lớn khuyến khích cho sản xuất nông nghiệp như chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, phát triển sản xuất lúa cao sản, phát triển sản xuất lúa chất lượng
cao, đặc biệt là phát triển vụ đông nhằm đưa vụ đông thành vụ sản xuất
chính. Cùng với chính sách này các địa phương trong tỉnh đã xuất hiện
nhiều mô hình giống cây mới có giá trị kinh tế cao là lợi thế riêng của từng
vùng cho hiệu quả cao trong sản xuất vụ Đông như ngô ngọt, bí xanh, ớt,
- Xác định được công thức bón phân đem lại hiệu quả sản xuất cao
nhất.
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa
học đối với cây trạch tả.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được công thức bón phân phù hợp sẽ góp phần tăng năng
suất, hiệu quả kinh tế, mở rộng diện tích trồng cây trạch tả tại địa phương,
phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Phân Kali và phân Lân, khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất
của củ trạch tả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Đề tài được tiến hành từ tháng 8 năm 2013 tại huyện Yên Khánh,
tỉnh Ninh Bình.
- Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng và năng
suất của củ cây trạch tả.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu về cây trạch tả
2.1.1. Phân loại thực vật
Giới (regnum)
Plantae
(không phân hạng)
Angiospermae
(không phân hạng)
Monocots
Bộ (ordo)
Phân bố, sinh thái:
Họ Alismataceae bao gồm các cây dạng thảo sống dưới nước và
được xác định có 11 đến 14 chi với xấp xỉ 100 loài hoang dại, trong đó 5
chi và 11 loài được tìm thấy ở Úc. Chi Alisma L. có 9 đến 11 loài, hầu hết
phân bố tự nhiên từ bắc bán cầu của … nhưng với 3 loài bản địa được ghi
nhận cho Bắc Mỹ. Cá biệt, A. plantago-aquatica L. và A. lanceolatum phổ
biến từ châu Âu tới châu Úc và sau đó tới Bắc Mỹ và New Zealand. Alisma
plantago-aquatica phân bố rộng rãi tự nhiên từ châu Âu qua vùng cận nhiệt
đới và các vùng ôn đới của Đông Nam Á bao gồm Trung Quốc, Miễn Điện,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Việt Nam, Đông nam nước Úc. Sự phân
bố tự nhiêu có thể là kết quả của các loài chim di chú mang theo, cần phải
có những nghiên cứu điều tra sâu hơn (John G. Conran, 2012).
Hiện đã biết có 2 loài được dùng làm thuốc là Trạch tả (A. plantago
– aquatica L.) và loài A. canaliculatum Braunt et Bouché có ở Triều Tiên.
Ở Việt Nam người ta tìm thấy cây mọc tự nhiên trên các vùng ruộng
hoặc ao hồ ở Việt Nam, trạch tả chỉ thấy trồng ở các tỉnh phía Bắc như Thái
Bình, Hà Nam, Hà Tây (cũ) Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình. Về nguồn
gốc của cây trồng này không rõ được thuần hóa từ cây mọc tự nhiên hay
lấy giống từ nước ngoài.
Trạch tả là cây thủy sinh, có phần thân rễ sống trong bùn, toàn bộ
phần thân lá vượt khỏi mặt nước. Vì vậy chiều dài của lá 9 (cuống lá là
chính phụ thuộc vào mức độ bị ngập nước. Hoa trạch tả phải ở trên mặt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
nước mới thụ phấn được. Cây tái sinh chủ yếu từ hạt, phát tán nhờ nước.
Sau mùa hoa quả, phần trên mặt nước tàn lụi (Đỗ Duy Bích và cs., 2006).
Thành phần hóa học: Thân rễ trạch tả chứa tinh dầu, chất nhựa 7%,
protid, tinh bột 23% (Đỗ Tất Lợi, 2003).
Cụm hoa có nhiều phytohormon (CA. 125: 190.646 k).
0
C. Lượng mưa trung bình trên 2.200
mm/năm (Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Duy Thuần, 2005).
Trạch tả được trồng trên ruộng nước, ao hồ có lớp bùn dày và có
điều kiện tưới, tiêu chủ động ở một số tỉnh miền Bắc. Đất cần cày bừa, làm
cỏ sục bùn, bón lót mỗi hecta 25 -30 tấn phân chuồng, 500 – 600 kg super
lân, 150 - 200 kg sulfat kali hoặc 1,5 tấn tro bếp, san phẳng. Cây dược nhân
giống bằng hạt. Theo kinh nghiệm, hạt giống lấy từ cây 2 năm có chất
lượng tốt hơn. Cách làm như sau: Cây nhánh tách từ cây mẹ vào tháng 9 –
10 được trồng và chăm sóc như cây lấy củ nhưng trồng thưa hơn (40 x 30
cm). Khi quả chín cần thu hoạch ngay, nếu để muộn hạt sẽ rụng. Đem quả
phơi trên nong, nia, đập lấy hạt, sàng sảy, tiếp tục phơi đến khô, bảo quản
nơi khô ráo. Một sào Bắc Bộ có thể cho 13 – 16kg hạt.
Thời vụ gieo hạt ở miền núi vào tháng 6 – 7, ở đồng bằng vào tháng
7 – 8. Hạt được gieo ươm trên nền ruộng (nền đất bùn ướt – Công thức 4)
tạo điều kiện tốt nhất đến tỷ lệ mọc, chất lượng cây giống, sinh trưởng, phát
triển và năng suất cây trạch tả. Trước khi gieo, ngâm hạt với chất xử lý hạt
giống (thường là antonix) làm kích thích sự nảy mầm của hạt đồng thời làm
tăng sức sống cho cây, lấy ra để ráo trộn với cát hoặc tro để gieo cho đều.
Mỗi mét vuông vần gieo 2 – 2,5 g hạt. Gieo xong tháo nước từ từ cho ngập
2 – 3 cm. Khi có mưa to cần chờ cho tạnh mưa mới tháo bớt nước để tránh
trôi hạt và dập cây con. Có thể tưới phân chuồng, nước giải pha loãng hoặc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
đạm 2% cho cây mau lớn, cứ 10 – 15 ngày tưới 1 lần (Đinh Thị Hồng Liên,
2013).
Sau khi gieo 45 – 50 ngày, cây con cao 15 - 20 cm là có thể nhổ đi
trồng. Cách trồng như trồng lúa với khoảng cách 25 x 30 cm hoặc 30 x 45
cm. Nếu đất xấu có thể trồng dày, ở đất tốt trồng thưa hơn. Nên trồng vào
chi với tỷ lệ 4:3: 3:2:1 thì dùng trạch tả sống hoặc muối đều thể hiện tác
dụng lợi tiểu. Người khỏe mạnh uống nước sắc trạch tả thì lượng bài tiết
nước tiểu, urê và Na
+
tăng, còn trên thỏ uống trạch tả tác dụng rất yếu,
nhưng nếu dùng dạng cao lỏng bằng đường tiêm xoang bụng lại có tác
dụng lợi tiểu. Tác dụng lợi tiểu của trạch tả có liên quan đến hàm lượng
muối kali cao (147,5mg%) tồn tại trong dược liệu.
2. Ảnh hưởng đối với chuyển hóa mỡ: Thí nghiệm trên thỏ gây
lipid máu cao, thành phần tan trong dầu của trạch tả trộn với thức ăn
hàng ngày với tỷ lệ 0,5% có tác dụng hạ lipid máu và chống xơ vữa động
mạch một cách rõ rệt. Trên chuột cống trắng có lipid máu tăng cao thực
nghiệm, các chất alisol A và alisol A, B, C monoacetat trộn trong thức
ăn hàng ngày với tỷ lệ 0,05 - 0,1% đều có tác dụng hạ cholesterol máu
đạt 50%. Cơ chế làm hạ cholesterol máu của trạch tả chưa được xác định
đầy đủ. Thí nghiệm bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cho thấy chất
alisol A có tác dụng ức chế quá trình ester hóa cholesterol ở ruột non
chuột nhắt trắng đồng thời làm giảm tỷ lệ hấp thu cholesterol ở ruột đạt
34%. Trên thỏ có chế độ ăn giàu cholesterol và lipid, trạch tả có tác dụng
làm hạ lượng lipid ở gan. Đối với chuột cống trắng có chế độ ăn thiếu
protein dẫn đến gan nhiễm mỡ, trạch tả có tác dụng điều trị rõ rệt. Trên
lâm sàng ở những bệnh nhân có lipid máu tăng, hàng ngày uống viên
trạch tả với liều 4,2g/người, dùng từ 2 – 4 tuần lễ có tác dụng làm hạ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
cholesterol, β-lipoprotein và triglycerid trong máu. Nước sắc trạch tả thí
nghiệm trên chuột cống trắng với liều 20g/kg cho thẳng vào dạ dày dùng
trong 7 tuần lễ có tác dụng làm giảm lượng triglycerid trong máu, lượng
mỡ ở các tạng phủ và giảm trọng lượng của chuột béo phì do dùng
1. Dùng làm thuốc lợi tiểu thông lâm, trị các chứng phù, viêm đường
tiết niệu, viêm thận:
Trạch tả 10g, Xa tiền thảo 10g, Trư linh 10g, Thạch vỹ 10g, Mộc
thông 6g, Bạch mao căn 15g, sắc nước uống.
Trạch tả, Bạch linh, Trư linh, Xa tiền tử đều 12g, sắc nước uống. Trị
viêm cầu thận cấp.
Trạch tả, Bạch truật đều 10g, Cúc hoa 12g, sắc uống trị viêm thận
mạn, váng đầu.
2. Trị tiêu chảy do viêm ruột cấp và mạn tính:
Bạch truật 10g, Bạch linh 10g, Trần bì 6g, Cam thảo 3g, Trạch tả
10g, Sa nhân 3g, Thần khúc 10g, Mạch nha 10g, sắc nước uống, tùy chứng
gia giảm:
Trạch tả, Trư linh, Xích phục linh đều 10g, Bạch đầu ông 15g, Xa
tiền tử 6g, sắc uống trị viêm ruột cấp.
3. Trị lipid huyết cao: Tác giả dùng viên Trạch tả chế (hàm lượng
thuốc sống mỗi viên 3g), mỗi ngày 9 viên chia 3 lần uống, liệu trình 1
tháng. Kết quả theo dõi 110 ca lipid huyết cao trong đó 44 ca cholesterol
cao lượng bình quân từ 258,4mg% hạ xuống còn bình quân 235,2mg%;
103 ca triglycerit tăng từ bình quân 337,1mg% xuống còn bình quân
258,0mg%, bình quân giảm 23,5mg% trong đó số hạ thấp trên 10% chiếm
65%, hạ thấp trên 30% chiếm 40,8%, có 18,4% hạ thấp trên 50% (Báo cáo
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
của Bệnh viện Trung sơn thuộc Viện Y học số 1 Thượng hải, Báo Y học
Trung hoa 1976,11:693).
4. Trị chứng huyễn vựng: Tác giả Dương phúc Thành dùng Trạch tả
thang gồm Trạch tả 30 - 60g, Bạch truật 10 - 15g, ngày 1 thang sắc chia 2
lần uống. Theo dõi 55 ca, uống từ 1 - 9 thang có tùy chứng gia vị kết quả
cây trồng trong quá trình sinh trưởng, do đó phải bón bổ sung. Hiện
tượng cây thiếu các nguyên tố vi lượng vẫn xảy ra do trong đất quá
nghèo hoặc bón không đủ phân hữu cơ, nhu cầu dinh dưỡng của cây cao
mà đất không cung cấp đủ. Việc bón phân cho cây trồng phải tiến hành
thường xuyên và được chú trọng để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt
và nâng cao sức sống cho cây trồng.
Bón phân cũng như những biện pháp kỹ thuật canh tác khác nhau,
thường không chỉ gây ra một tác động trực tiếp dẫn đến một kết quả nào
đó mà thường có nhiều tác động lên các thành tố trong hệ sinh thái và có
thể dẫn đến những kết quả khác nhau. Do đặc điểm của quá trình phản
ứng dây truyền và quá trình tiếp nhận các tác động từ bên ngoài vào các
hệ sinh thái mà có thể có những tác động rất mạnh nhưng không gây ra
hiệu quả gì đáng kể, trong khi đó, có những tác động nhẹ nhàng, nhưng
được nhân lên trong phản ứng dây chuyền và tạo nên những hiệu quả rất
lớn. Bón phân hợp lý có thể không cần sử dụng những lượng phân bón
mà có thể đạt được hiệu quả rất cao.
Đối với thực vật nói chung và cây trồng nói riêng Nitơ có vai trò sinh
lý đặc biệt sinh lý quan trọng đối với sinh trưởng phát triển và hình thành
năng suất… N có mặt trong rất nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng có vai trò
quyết định trong quá trình trao đổi chất và năng lượng, đến hoạt động sinh
lý của cây: N là nguyên tố đặc thù của protein mà protein có vai trò quan
trọng đối với cây, protein là thành phần chủ yếu tham gia vào thành phần
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
cấu trúc nên hệ thống chất nguyên sinh trong tế bào, cấu tạo nên hệ thống
màng sinh học các cơ quan trong tế bào… Protein là thành phần bắt buộc
của enzim có hai thành phần cấu thành: phân tử pr (apoenzim) và nhóm
hoạt động (coenzim); N có thành phần của axit nucleic. Ngoài chức năng
duy trì truyền thông tin di truyền axit nu còn đóng vai trò quan trọng trong