BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ NGỌC DUNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI HỆ THỐNG CÂY TRỒNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện
cùng với sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Thị Thanh Bình – Học viện Nông nghiệp
Việt Nam. Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kỳ một công trình nào khác. Tôi cam đoan rằng các thông tin,
trích dẫn trong luận văn đó được chỉ dẫn nguồn gốc và nghiên cứu đầy đủ. Nếu sai
tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Trần Thị Ngọc Dung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận
được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Hà Thị Thanh Bình đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn
chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Ban quản lý đào tạo,
khoa Nông học, Bộ môn Canh tác học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ các lãnh đạo cơ quan, đơn vị: Trung
tâm khí tượng láng Mê Linh: Văn phòng UBND huyện, Phòng kinh tế huyện,
Phòng LĐLĐ &XH huyện, chi cục Phòng thống kê huyện và cán bộ, nhân dân địa
phương nơi tôi tiến hành điều tra nghiên cứu đề tài, đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này.
2.
Mục đích và yêu cầu 2
2.1.
Mục đích nghiên cứu 2
2.2.
Yêu cầu 2
3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1.
Ý nghĩa khoa học 3
3.2.
Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.
Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2.3 Thử nghiệm các mô hình trên đồng ruộng 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 30
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 30
2.3.2 Điều tra nông hộ 30
2.3.3 Các mô hình thử nghiệm 30
2.3.4 Phương pháp phân tích thống kê mô tả số liệu: 32
CHƯƠNG 3 . KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mê Linh. 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2
Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Mê Linh 40
3.2
Thực trạng sản xuất trồng trọt của huyện. 48
3.2.1
3.3 Kết quả thử nghiệm một số giống cây trồng mới trên địa bàn huyện
Mê Linh 66
3.3.1. Kết quả thử nghiệm mô hình trồng giống lúa PC6 trong vụ xuân trong
công thức luân canh: Lúa xuân – Lúa mùa – Ngô đông 66
3.3.2
Kết quả thử nghiệm mô hình trồng giống bí đỏ F1-868 trong vụ xuân,
trong công thức luân canh: Lúa xuân – Lúa mùa – lạc thu đông 68
3.3.3 Kết quả thử nghiệm mô hình giống bí xanh số 1 vụ xuân trong công
thức luân canh Ngô xuân – lúa mùa – bắp cải. 70
3.4.
Đề xuất cơ cấu cây trồng huyện Mê Linh giai đoạn 2015-2018 75
3.4.1
Cơ sở đề xuất 75
3.4.2
Phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng của huyện Mê Linh giai đoạn
2015-2018 75
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.5
3.1. Diễn biến một số yếu tố khí hậu trung bình 5 năm (2009-2013). 34
3.2. Hiện trạng sử dụng đất của huyện năm 2013 38
3.3. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Mê Linh 40
3.4. Giá trị, cơ cấu ngành nông – lâm – thủy sản huyện Mê Linh 41
3.5. Chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông nghiệp huyện Mê Linh 42
3.6. Diện tích gieo trồng các loại cây trồng huyện Mê Linh từ năm 2009-
2013 43
3.7. Phát triển chăn nuôi huyện Mê Linh năm 2009-2013 44
3.8. Tình hình dân số lao động huyện Mê Linh năm 2013 45
3.9. Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính huyện
Mê Linh từ năm 2009-2013 48
3.10. Cơ cấu cây trồng chính vụ xuân năm 2013 50
3.11. Cơ cấu cây trồng chính vụ mùa năm 2013 52
3.12. Cơ cấu cây trồng chính vụ đông năm 2013 53
3.13. Hiện trạng sử dụng giống lúa năm 2013 55
3.14. Diện tích, cơ cấu một số giống cây màu năm 2013 56
3.27. So sánh hiệu quả kinh tế giữa công thức luân canh cũ: Ngô xuân –
Lúa mùa – Bắp cải và công thức luân canh mới: Bí xanh số 1 – Lúa
mùa – Bắp cải đông 74
3.28. Phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng hàng năm của
huyện Mê Linh giai đoạn 2015 – 2018 76
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang3.1. Cơ cấu sử dụng đất tự nhiên của huyện năm 2013 39
3.2. Cơ cấu cây trồng vụ mùa năm 2013 52
3.3 Cơ cấu cây trồng vụ đông năm 2013 54
3.4. Cơ cấu một số giống cây trồng màu năm 2013 57
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
nghiệp phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước
đang phát triển. Ở Việt Nam, nông thôn là nơi sinh sống, làm việc của 4/5 dân số và
3/4 lao động cả nước. Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động rất
lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội. Ở nước ta trong những năm
qua, nông nghiệp đã có sự tăng trưởng vượt bậc và khá bền vững, trung bình là
4,5%/năm, góp phần to lớn cho ổn định an ninh lương thực và xuất khẩu. Chính vì
vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp luôn là “Mặt trận hàng
đầu” và quá trình đổi mới của đất nước cũng tập trung vào “công nghiệp hóa – hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.
Trồng trọt là ngành mũi nhọn trong sản xuất nông nghiệp của huyện Mê Linh
nhưng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên kết quả chưa cao, chưa ổn
định. Đời sống nông dân phần lớn phụ thuộc vào sản xuất của ngành trồng trọt, việc
chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp còn chậm, phát triển nông nghiệp
hàng hóa còn dàn trải, chưa quy hoạch thành vùng sản xuất, nông sản hàng hóa sản
lượng còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có sản phẩm có thế mạnh, chất lượng nông sản
phẩm còn thấp, sản xuất nông sản chưa gắn được với chế biến và tiêu thụ. Do đó để
xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa cần phải có hệ thống cây trồng mới phù hợp
với tiềm năng của huyện.
Mặt khác huyện Mê Linh luôn nhận thức và khẳng định công tác xây dựng
nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và có tính chiến lược lâu dài;
bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng, đó là: đã hoàn thành Đề án xây dựng
nông thôn mới của huyện; đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng đồ án Quy hoạch tại
100% các xã trên địa bàn huyện; Đề án thí điểm mô hình xây dựng nông thôn mới
tại xã Liên Mạc được Thành phố phê duyệt đã được triển khai có hiệu quả.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Tuy nhiên, thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân còn nhiều vấn đề
phải quan tâm, như: sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ; tập quán canh tác
lạc hậu chưa theo kịp phương thức sản xuất hiện đại, theo cơ chế thị trường. Đời
Kết qủa nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng để chuyển đổi hệ thống
cây trồng theo hướng da dạng hóa sản phẩm góp phát triển nông nghiệp của huyện
Mê Linh.
Kết quả nghiên cứu cũng góp phần sáng tỏ phương pháp luận trong nghiên
cứu hệ thống cây trồng và xây dựng các công thức cây trồng hợp lý.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Trên cơ sở đánh giá được những ưu điểm và mặt hạn chế của công hệ thống
cây trồng hiện tại, nghiên cứu sẽ đề xuất một số công thức luân canh cây trồng hợp
lý hơn, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Mê linh, góp
phần phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.
- Đa dạng hóa cây trồng theo hướng tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ tài nguyên
môi trường, góp phần xây dựng nền nông ngiệp hàng hóa tại huyện Mê linh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Hệ thống
sở các quy luật khách quan của hệ sinh thái, là các đơn vị sản xuất nông nghiệp, là
các hệ sinh thái nhân tạo do con người tạo để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, sợi
và các sản phẩm nông nghiệp khác (Đào Thế Tuấn, 1984).
1.1.1.4. Hệ thống nông nghiệp (HTNN).
Hệ thống nông nghiệp là phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật
nuôi, lao động, các nguồn lợi và đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ
quản lý tùy theo sở thích, khả năng và kỹ thuật có thể.
Trong quá trình nghiên cứu và triển khai đã dần đi đến khái niệm HTNN.
Hiện nay có một số định nghĩa sau về HTNN:
+ HTNN là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và
các kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thỏa mãn các nhu cầu. Nó biểu hiện đặc biệt
sự tác động qua lại giữa một hệ thống sinh học - sinh thái mà môi trường tự nhiên là
đại diện và một hệ thống văn hóa - xã hội qua các hoạt động xuất phát từ nhứng
thành quả kỹ thuật (Vũ Đình Tôn, 2006)
Nhìn chung HTNN là một hệ thống hữu hạn, trong đó con người đóng vai
trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống theo những quy luật
nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cho HTNN. Trong HTNN có các hệ thống sinh
học (vật nuôi, cây trồng) hoạt động theo các quy luật sinh học (trao đổi năng lượng
vật chất) và các hệ thống hoạt động theo các quy luật kinh tế - xã hội. Như vậy
HTNN khác với hệ sinh thái nông nghiệp ở chỗ ngoài các yếu tố ngoại cảnh và sinh
học còn có yếu tố kinh tế - xã hội (dẫn theo Nguyễn Văn Lạng, 2002).
Như vậy hệ thống nông nghiệp chính là sự thống nhất và tác động qua lại
giữa 3 hệ thống: Sinh học, xã hội và kinh tế
1.1.1.5. Hệ thống trồng trọt (HTTT):
Theo Nguyễn Duy Tính và cộng sự (1995) hệ thống trồng trọt là bộ phận chủ
yếu của hệ thống canh tác, là trung tâm của hệ thống nông nghiệp. Nó quyết định sự
hoạt động của các hệ thống phụ khác nhau như: chăn nuôi, chế biến…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
lý, sinh học công nghệ, vốn, lao động và quản lý. Một CTLC bao gồm tất cả các
thành phần cần có cho việc sản xuất một tập hợp cây trồng trên một mảnh ruộng
trong một năm. Còn hệ thống canh tác bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho
sản xuất một tập hợp cây trồng ở nông trại (Phạm Thị Hương, 2006).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Quản lý (M) HTTT bao gồm việc bố trí cây trồng theo thời gian và không gian
cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác áp dụng. Các biện pháp kỹ thuật bao gồm
việc lựa chọn giống, thời vụ và phương pháp gieo trồng, bón phân, chăm sóc, quản
lý nước, bảo vệ thực vật và thu hoạch.
Môi trường (E) được tạo bởi thổ nhưỡng, các biến số khí hậu (lượng mưa,
nước tưới, đặc điểm đất đai, địa hình, mực nước ngầm, vị trí địa lý, nền nhiệt độ,
chế độ bức xạ…), điều kiện kinh tế (giá cả đầu vào, đầu ra…). Các biến số môi
trường mà các nhà nghiên cứu HTTT quan tâm là các biến số có thể kiểm soát được
bằng M ở chừng mực nào đó. Do vậy, nghiên cứu HTTT tập trung vào sự tương tác
giữa M và E.
Để đánh giá mối quan hệ Y = f(M,E) các nhà nghiên cứu HTTT tập trung
vào sự tương tác giữa M và E, tìm cách xác định biện pháp thay đổi CTLC sao cho
thu được kết quả tốt nhất cho các môi trường sản xuất khác nhau. Mục đích là để dự
báo cách quản lý tốt nhất từ các thông tin có được từ môi trường (E)
HTTT là một trong hai hệ thống phụ chủ yếu của hệ thống nông nghiệp hỗn
hợp. Những cây trồng nông nghịêp có thể có nhiều chức năng khác nhau, kể cả việc
tạo ra chỗ che chở cho con người, gia súc và cây trồng khác, chống xói mòn đất,
phục vụ mục đích giải trí (thảm cỏ, hoa, cây cảnh và cây bụi) và làm tăng độ phì
nhiêu của đất (bổ sung chất hữu cơ từ xác lá và rễ già hoặc đạm từ nốt sần cây họ
đậu). Tuy nhiên, những HTTT chủ yếu được xây dựng để sản xuất ra lương thực,
thực phẩm trực tiếp cho con người, thức ăn cho gia súc, sợi cho nguyên liệu công
nghiệp và một nhóm sản phẩm hỗn hợp khác như thuốc lá, chất thơm và dược liệu.
1.1.1.6. Hệ thống canh tác (HTCT):
quả nghiên cứu về sau cho các vùng có điều kiện tương tự.
* Mô tả môi trường sản xuất: Một phương pháp tiếp cận tốt với các yếu tố
môi trường sản xuất liên quan đến hệ thống cây trồng hiện tại được đề xuất bởi
Zandstra (1981).
- Trước hết là các yếu tố khí hậu: Thu thập số liệu khí tượng như: Nhiệt độ,
chế độ bức xạ, chế độ mưa, điều kiện đất đai, chế độ nước, cấu trúc địa hình của đất,
độ phì và độ PH của đất.
- Hệ thống cây trồng hiện tại
Ghi chép các loại cây trồng chính trên từng loại đất và các công thức luân canh.
Để tiện biểu diễn cây trồng trong các công thức luân canh theo không gian và thời gian.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Điều kiện kinh tế - xã hội
Các điều kiện về kinh tế xã hội cần được thu thập phân tích, để phục vụ cho
việc xây dựng hệ thống cây trồng thích hợp
* Xây dựng hệ thống cây trồng mới
- Đề xuất các công thức luân canh mới
Sau khi phân tích những thông tin về tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng cùng
với những kiến thức về cây trồng, cần xác định những công thức luân canh phù hợp
nhất. Xây dựng hệ thống cây trồng hợp lý chính là lựa chọn và sắp xếp các giống, các
loại cây trồng theo không gian, thời gian và hệ thống các biện pháp kỹ thuật kèm
theo, sao cho phù hợp nhất với môi trường sản xuất của nó
Sự thích hợp đó được thể hiện ở 3 khía cạnh khác nhau: Thích hợp sinh học,
thích hợp kỹ thuật, thích hợp kinh tế - xã hội.
- Thử nghiệm hệ thống cây trồng mới
Thử nghiệm được thiết kế và tiến hành bởi các cán bộ nghiên cứu, có sự thảo
luận và kết hợp chặt chẽ với nông dân theo 3 hình thức
Thử nghiệm do cán bộ quản lý và nông dân thực hiện
Thử nghiệm do nông dân quản lý và nông dân thực hiện
- Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật thay thế được tiến hành bằng những thử
nghiệm do nông dân quản lý
* Sản xuất thử
Nhằm hoàn thiện toàn bộ quá trình sản xuất của hệ thống cây trồng trước
khi đưa vào sản xuất đại trà. Thành công của việc đưa hệ thống cây trồng mới vào
trong sản xuất của nông dân phụ thuộc vào cách mà chương trình sản xuất thử
được tổ chức.
1.1.3 Những căn cứ làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống cây trồng hợp lý
Trong hệ thống sinh thái nông nghiệp không phải chỉ có một loại cây trồng mà
là cả một hệ thống cây trồng được bố trí theo không giam và thời gian.
Để bố trí cây trồng hợp lý là phải biết tận dụng tốt nhất các nguồn tự nhiên,
kinh tế xã hội. Những nghiên cứu mới đây về hệ thống cây trồng của nhiều tác giả đã
chứng minh được mối quan hệ giữa cây trồng với yếu tố tự nhiện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
* Nhiệt độ:
Từng loại cây trồng mà các bộ phận sinh lý của cây sẽ phát triển tốt nhất ở
nhiệt độ thích hợp. Nhiệt độ có sự thay đổi giữa các tháng trong năm. Theo ông Đào
Thế Tuấn đã chia cây trồng ra làm 3 loại: Cây ưa nóng thì thường sinh trưởng, phát
triển, ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ 20
o
C như lạc, mía Cây ưa lạnh là cây sinh trưởng
tốt ở nhiệt độ 20
o
C như khoai tây, su hào. Cây trung gian là những cây yêu cầu nhiệt
độ xung quanh 20
o
C để sinh trưởng ra hoa, kết quả.
Tác hại của độ ẩm quá thấp kèm theo nhiệt độ cao làm cho cây trồng phải
thoát hơi nước nhiều, hô hấp tăng làm tiêu hao chất khô, giảm năng suất sinh học của
cây. Độ ẩm không khí thấp còn làm giảm sức sống của hạt phấn, cản trở quá trình thụ
phấn của cây, do đó làm giảm tỷ lệ hoa có ích, tăng tỷ lệ lép dẫn đến giảm sản lượng
thu hoạch (Trần Đức Hạnh, Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết, 1997).
* Ánh sáng
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ cảu cây.
Ánh sáng là yếu tố biến động ảnh hưởng tới năng suát, cần phân biệt cây trồng theo
yêu cầu cường độ chiếu sáng, khả năng cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm
để bố trí cây trồng cho phù hợp. Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khí hậu trong
năm hoặc trong một thời kỳ, đồng thời căn cứ vào yếu cầu về nhiệt độ, ẩm độ, lượng
mưa, ánh sáng của từng loại cây trồng để bố trí mùa vụ, cây trồng thích hợp nhằm né
tránh được các điều kiện bất thuận, phát huy năng suất cây trồng (Trần Đức Hạnh,
Đoàn Văn Điếm, Nguyễn Văn Viết 1997).
* Giống cây trồng
Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học, các tính
trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái
giống nhau trong điều kiện kỹ thuật phù hợp. Vì vậy, giống cây trồng phải mang tính
khu vực hóa, tính di truyền đồng nhất và không ngừng thỏa mãn nhu cầu của con
người (Nguyễn Văn Hiển, 2000).
* Hiệu qủa kinh tế của hệ thống
Sau khi xác định hệ thống cây trồng cần tính toán đến giá trị kinh tế. Hệ thống
cây trồng mới phải đạt giá trị kinh tế cao hơn hệ thống cây trồng. Đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp là sản phẩm đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu, cần bố trí cây trồng
bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng, của từng cơ sở sản
xuất. Về mặt kinh tế hệ thống cây trồng cần phải đạt được tính chuyên canh, tỷ lệ sản
phẩm hàng hóa. Đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo yêu cầu hỗ trợ cho ngành sản xuất chính, phát triển chăn nuôi, tận
dụng các nguồn lợi tự nhiên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
* Thị trường:
Thị trường là tập hợp những người mua, người bán tác động qua lại lẫn nhau
dẫn đến khả năng trao đổi, thị trường là trung tâm của các loại hoạt động kinh tế.
Kinh tế hàng hóa là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng
để mua bán, trao đổi thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hóa phải thông qua thị
trường, được thị trường chấp nhận (Dẫn theo Hồ Gấm, 2003).
* Kinh tế - xã hội
Theo Phạm Chí Thành, Trần Đức Viên, 1992 các nhân tố kinh tế xã hội chủ
yếu ảnh hưởng đến xây dựng hệ thống cây trồng hợp lý là cơ sở vật chất kỹ thuật,
nguồn lao động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế, tập quán, kinh nghiệm sản
xuất truyền thống.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước:
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Để đáp ứng nhu cầu lương thực ngày càng tăng của con người, các nhà khoa
học trên thế giới từ lâu đã tập trung nghiên cứu hệ thống nông nghiệp bắt đầu từ
nghiên cứu chế độ luân canh, xen canh, gối vụ cây trồng để tăng năng suất và sản
lượng, đặc biệt là ở nước nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi có điều kiện sinh thái thuận lợi
cho việc luân canh, tăng vụ.
Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII, trong suốt 1000 năm chế độ luân canh phổ
biến trong nông nghiệp Châu Âu là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3
năm, với hệ thống cây trồng là ngũ cốc – bỏ hóa. Năng suất ngũ cốc trong suốt thời
kỳ này chỉ đạt 5-6 tạ/ha và đến thế kỷ 18 năng suất cũng chỉ mới có 7-8 tạ/ha
Sau khi tìm ra Châu Mỹ, một số loại cây trồng từ Châu Mỹ nhập vào Châu Âu
như khoai tây, ngô cùng với việc phát triển một số cây họ đậu, đã tạo luân canh có 4
lợi ích sau:
- Các cây trồng khác nhau sẽ hấp thu dinh dưỡng từ đất khác nhau