Đề xuất phương hướng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2015-2020 định hướng 2030 - Pdf 28

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .12
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 12
1.2. Khái quát những kết quả nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài và
những vấn đề đặt ra 31
Chương 2 34
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 34
2.1. Cơ sở lý luận việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp 34
2.2. Mối quan hệ giữa việc làm cho lao động nông nghiệp với quá trình
xây dựng nông thôn mới 58
Chương 3 69
TÌNH HÌNH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NỘI 69
3.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Nội có ảnh hướng
đến giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới 69
3.2. Tác động của việc xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội tới việc
làm cho lao động nông nghiệp 75
3.3. Thực trạng về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội 93
Chương 4 117
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG NÔNG NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
117

USD
Đô la Mỹ
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
3
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành 72
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hà Nội giai đoạn 2011-2013 và đóng
góp của các ngành vào mức tăng trưởng chung 73
Bảng 3.3: Dân số từ 15 tuổi trở lên và dân số trong độ tuổi lao động có việc làm
chia theo huyện ở khu vực nông thôn (năm 2012) 97
Bảng 3.4: Cơ cấu lao động nông nghiệp có việc làm trong tuổi LĐ ở khu vực
nông thôn Hà Nội năm 2012 chia theo trình độ CMKT và giới tính 108
Bảng 4.1: Dự kiến tốc độ tăng trưởng dân số 119
Bảng 4.2: Dự báo dân số Thủ đô Hà Nội có tác động tới việc làm 120
Bảng 4.3: Dự báo cơ cấu sử dụng lao động nông nghiệp trong quá trình xây
dựng nông thôn mới 121
Bảng 4.4: Kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 121
Bảng 4.5: Kế hoạch giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá
trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 123
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Số cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ huyện Từ Liêm
từ năm 2010 đến năm 2013 84
Hình 3.2. Số lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ của huyện Từ Liêm các
năm 2010 đến 2013 84
Hình 3.3. Sự thay đổi về mục đích sử dụng đất ở Huyện Từ Liêm 85
Hình 3.4. Số lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở huyện Phúc Thọ
qua các năm 86

địa giới hành chính Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị
lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về xây
dựng nông thôn mới (NTM) với quan điểm chỉ đạo là: “Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển
kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc
phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái của đất nước. Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông
thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là khâu then
chốt” [22]; Chương trình số 02-CTr/TU ngày 29/8/2011 của Thành ủy Hà Nội
về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời
sống nông dân” giai đoạn 2011-2015 [55] với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn
mới Thủ đô Hà Nội có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được
6
xây dựng đồng bộ, hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày
càng được nâng cao. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nông thôn được
bảo đảm, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại”; Thực
hiện Nghị quyết 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 của Hội đồng nhân dân
Thành phố về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020,
định hướng 2030 [31]. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Hà Nội
những năm qua đã làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động nông
nghiệp theo hướng tích cực, hiện đại; nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế
nông nghiệp, góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông
nghiệp. Xây dựng nông thôn mới tạo thêm nhiều việc làm trong khu vực phi
chính thức phù hợp với lao động nông thôn.
Xây dựng nông thôn mới thúc đẩy mở rộng không gian đô thị, cải tạo, xây
dựng phát triển hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng, tạo ra nhiều việc làm cho lao
động ở nông thôn và cơ hội cho lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các
ngành nghề khác.
Xây dựng nông thôn mới làm thay đổi cơ cấu việc làm thúc đẩy nâng cao

làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô
Hà Nội” được lựa chọn để nghiên cứu làm luận án tiến sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận thức cơ sở khoa học về vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Đánh giá, phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội
giai đoạn 2008 -2013.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp để gắn giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội giai
đoạn 2015 - 2020 định hướng 2030.
8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Đề tài nghiên cứu về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông
nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
- Phạm vi đề tài: Luận án tập trung nghiên cứu việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở một số huyện của Thủ
đô Hà Nội theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2013.
4. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
4.1. Phư ơ ng pháp tiế p cậ n
Đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận theo vùng: Mỗi vùng có những điều
kiện tự nhiên kinh tế xã hội khác nhau, xuất phát điểm xây dựng nông thôn mới
khác nhau. Theo đó, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp cũng
không giống nhau ở mỗi địa phương về quy mô, số lượng, chất lượng, cơ cấu.
Do đó tiếp cận vùng sẽ cho phép nghiên cứu những yếu tố riêng biệt của mỗi
vùng từ đó có những giải pháp cụ thể phù hợp với mỗi vùng.
Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá tình hình lao động, việc làm và giải quyết

01/TĐTNN-HO của Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản
trung ương trong đó tác giả luận án là trưởng ban chỉ đạo điều tra của toàn bộ
các hộ thường trú ở khu vực nông thôn tại huyện Từ Liêm. Số liệu được thu thập
và tổng hợp bằng công nghệ quét (scanning): phiếu mẫu số 01/TĐTNN-HO của
Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp, thủy sản trung ương được ghi
chép, bảo quản, vận chuyển cẩn thận theo đúng quy trình tránh bị quăn, rách,
ẩm… và được bảo quản theo đúng quy trình trách nhiệm từ điều tra viên, tổ
trưởng đến ban chỉ đạo các xã và huyện.
10
4.2.2. Phương pháp xử lý số liệu
4.2.2.1. Với số liệu thứ cấp
Với số liệu thứ cấp được sử dụng phân nhóm theo nội dung của đề tài
nhằm chứng minh làm rõ những nội dung mà đề tài yêu cầu. Các số liệu thứ cấp
này đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
4.2.2.2. Với số liệu sơ cấp
Với số liệu sơ cấp luận án đã phân nhóm theo các tiêu thức phân tổ và tính
các chỉ tiêu phân tích trên bảng tính excel.
4.2.3. Phương pháp khác
Đề tài sử dụng và tuân theo cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử để luận giải phân tích các vấn đề. Cụ thể:
Trong đó luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu: trừu tượng hóa khoa
học; phương pháp nghiên cứu hệ thống tổng hợp phân tích thống kê so sánh,
phương pháp phân tích thực chứng và chuẩn tắc; phương pháp định tính và định
lượng… đồng thời sử dụng phương pháp tổng kết tình hình thực tiễn để tìm ra
những đặc trưng của vấn đề nghiên cứu và tính quy luật của đối tượng nghiên cứu
Chương 1: Luận án đã tổng hợp và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về
các phạm trù lao động và lực lượng lao động, việc làm, thất nghiệp, trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của các học giả ngoài nước và trong nước. Đề tài cũng
đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu từ đó phân tích đánh giá tìm ra các vấn đề có
tính kế thừa bổ sung và hoàn thiện, đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề còn chưa

trình thực hiện xây dựng nông thôn mới tới việc làm cho lao động nông nghiệp
trong điều kiện đặc thù của Thủ đô Hà Nội. Trên cơ sở phân tích thực trạng việc
làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới và dự
báo tình hình phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030,
luận án đã đưa ra các phương hướng, giải pháp để giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp gắn với quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thủ đô Hà Nội.
12
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
Việc làm cho người lao động là một vấn đề luôn được quan tâm. Bởi lẽ,
đây không chỉ là vấn đề có liên quan đến cuộc sống của người lao động, mà còn
liên quan đến tất cả các quá trình phát triển xã hội. Đây là một vấn đề có liên hệ,
liên kết giữa các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu. Quá trình đó diễn ra
trong mỗi quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong
đó có liên quan đến các lợi ích kinh tế và luật pháp. Đây là vấn đề chủ yếu của
toàn bộ đời sống xã hội. Nhưng vào mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, giải quyết
việc làm cho người lao động cũng có những đặc điểm khác nhau.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về việc làm cho người lao động được nhiều
nhà khoa học, nhà quản lý cả trong và ngoài nước quan tâm. Trong phạm vi của
luận án, chương tổng quan tình hình nghiên cứu chỉ tập trung giới thiệu một số
công trình tiêu biểu liên quan đến việc làm cho người lao động, trong đó có lao
động nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở thủ đô Hà Nội.
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Tài liệ u chuyên khả o và tham khả o nư ớ c ngoài
1.1.1.1 Sách tham khảo và bài báo khoa học
* Các Mác (1818-1883) - nhà kinh tế học và triết học người Đức có công
trình vĩ đại “Tư bản” được phát hành vào năm 1867 [5]. Sự xuất hiện của công
trình này đã đưa ông trở thành nhà khoa học kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XIX.
Trong tác phẩm nổi tiếng này, Ông đã đưa ra lý thuyết giá trị thặng dư và

tương đối, số lượng việc làm tăng chậm hơn toàn bộ vốn của nền sản xuất xã
hội. Từ đó Mác đưa ra nhận định về nạn nhân khẩu thừa tương đối trong phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ông khẳng định, sự tăng lên của bộ phận tư bản
khả biến bao giờ cũng gắn liền với những biến động mạnh mẽ của việc sản xuất
14
ra số nhân khẩu thừa tạm thời. Và cùng với sự tích luỹ tư bản do bản thân nó đẻ
ra, nhân khẩu công nhân cũng sản xuất ra với một quy mô ngày càng lớn những
phương tiện làm cho họ trở thành nhân khẩu thừa tương đối. Dân cư dôi dư này
có ý nghĩa rất quan trọng để phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo lao
động thường xuyên cần thiết cho xã hội và cũng là đòn bẩy quan trọng cho việc
đẩy mạnh sản xuất giá trị thặng dư [dẫn theo 24].
Những nghiên cứu của C.Mác về hàng hoá sức lao động, về sự sản xuất ra
giá trị thặng dư, về ngày lao động, sự phân công lao động, sự thay đổi trong đại
lượng giá cả sức lao động và của giá trị thặng dư, sự chuyển hoá giá trị sức lao
động hay giá cả sức lao động thành tiền công, quá trình tích luỹ tư bản, nhất là
lý luận của ông về tích luỹ tư bản được chuyển tải trong tập 23 đã cung cấp
những cơ sở khoa học cơ bản, trong đó có quan niệm về lao động, việc làm cho
các nhà kinh tế Mác-xít, các nhà nghiên cứu về các nền kinh tế trên thế giới
cũng như các vấn đề phát sinh trong xây dựng và phát triển kinh tế của các quốc
gia [14]. Đồng thời, đây cũng là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng
đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới cũng như
giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nông nghiệp.
* John Maynard Keynes trong cuốn Lý luận chung về việc làm, lãi suất và
tiền tệ [32] đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng - thu nhập
- tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm. Vị trí trung tâm trong lý thuyết của ông là việc
làm. J.M.Keynes cho rằng, tình trạng việc làm được xác định trong mối quan hệ
giữa tác động các yếu tố thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp, tình
trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập, ông khẳng định: khi việc
làm tăng lên thì tổng thu nhập tăng lên. Cùng với sự tăng lên của thu nhập, ông

thấp, đa số là lao động chưa qua đào tạo nghề nên khả năng đáp ứng yêu cầu
phát triển rất hạn chế.
Điểm đáng chú ý nhất ở tác phẩm này là đã chỉ ra những hạn chế của
nguồn nhân lực và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế - xã hội và vấn đề
giải quyết việc làm ở nước ta giai đoạn 1986-2000. Những kết quả nghiên cứu
16
của công trình này, cũng như nghiên cứu của Slandes [49] đã cung cấp cho
người đọc có một cái nhìn tương đối khách quan, khoa học về lao động, việc
làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi
từ mô hình kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đó là những tư liệu giúp cho chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về lao động, việc
làm và nguồn nhân lực Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.
* Tuan Francis, Somwaru Agapi, Diao Xinshen trong cuốn Lao động
nông thôn di cư, đặc điểm và mô hình việc làm - Nghiên cứu dựa trên điều tra
nông nghiệp Trung Quốc [28] cho rằng quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh
mẽ ở Trung Quốc và sự gia tăng năng suất trong nông nghiệp hàm ý rằng những
lao động nông thôn sẽ được thu hút vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp.
Kết quả là họ sẽ có nhiều cơ hội để tăng thu nhập phi nông nghiệp. Công trình
này tập trung nghiên cứu cấu trúc lực lượng lao động nông thôn và những đặc
điểm của lao động nông thôn để đánh giá tiềm năng di cư lao động nông thôn
vào các lĩnh vực phi nông nghiệp. Công trình phân tích thị trường lao động nông
thôn Trung Quốc dựa trên điều tra dân số nông nghiệp Trung Quốc lần thứ nhất,
với những đặc điểm nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, tính liên
kết giữa các loại công việc, nơi làm việc và di cư lao động của lao động nông
thôn. Dựa trên sự phân bổ nhân khẩu học của lực lượng lao động nông thôn, các
tác giả đã tìm ra được mối liên hệ giữa lao động nông thôn với việc phân bổ các
nguồn lực khác, đặc biệt là quỹ đất đai ngày càng hạn chế, từ đó áp dụng kỹ
thuật logit polytomous tổng quát để phân tích các mô hình sử dụng lao động
nông thôn và dự báo quá trình di cư lao động nông thôn.Tác phẩm này cung cấp
cho các nhà nghiên cứu cơ cấu của lao động nông thôn có khả năng chuyển đổi

công cho trẻ em và chăm sóc người cao tuổi có thể giúp làm giảm bớt gánh nặng
của công việc đồng áng đối với những người phụ nữ này. Dịch vụ khuyến nông
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ có học vấn và kiến thức về nông
nghiệp thấp trong các gia đình có người di cư. Ngoài ra những chính sách xóa
đói giảm nghèo thông qua các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tín dụng, việc làm phi
18
nông nghiệp và mạng lưới an sinh xã hội an toàn cũng sẽ giúp những phụ nữ này
có cuộc sống tốt hơn. Từ đó, nghiên cứu đã đề nghị những chính sách nhằm tạo
việc làm, nâng cao thu nhập và chăm sóc toàn diện đối với người phụ nữ bị bỏ
lại ở nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc trong quá trình di cư lao động từ nông
thôn ra thành thị. Nội dung nghiên cứu của công trình sẽ giúp cho chúng ta có
cái nhìn thực tế, quan tâm nhiều hơn đến lao động nông nghiệp trong quá trình
xây dựng nông thôn mới trong đó có lao động nữ tại nông thôn Việt Nam.
* Li Luping trong báo cáo Biến đổi thu nhập hộ gia đình ở nông thôn
Trung Quốc [33] đã nghiên cứu những thay đổi trong sản xuất nông nghiệp và
hệ thống sinh kế của bốn khu vực nông thôn Trung Quốc trên cơ sở hai đợt khảo
sát các hộ gia đình trong giai đoạn 1999-2009. Kết quả cho thấy, trong các yếu
tố quan trọng giải thích cho sự thay đổi thu nhập của hộ gia đình thì giáo dục là
yếu tố chính ảnh hưởng đến tăng trưởng thu nhập của các hộ gia đình. Thời gian
đi học của người dân càng tăng lên thì thu nhập bình quân đầu người của họ
càng tăng lên nhiều hơn. Bên cạnh đó, quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra nhiều
việc làm phi nông nghiệp hơn cho các hộ gia đình ở nông thôn, đồng thời quá
trình đô thị hóa lại hấp thụ một lượng lớn lao động nông thôn trong lĩnh vực
dịch vụ. Kết quả của phân tích những biến động thu nhập của hộ gia đình nông
thôn Trung Quốc cho thấy nông dân nghèo là những người có thu nhập bình
quân đầu người tăng nhiều nhất trong một thập kỷ qua. Như vậy có thể thấy
công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn đã và đang cung cấp nhiều hơn những
cơ hội cho người nghèo thoát nghèo và tăng thu nhập bình quân đầu người cho
họ. Vấn đề còn lại là ở chính những người nông dân đó, tự họ có đủ năng động
để tranh thủ những cơ hội thoát nghèo đó hay không. Những nội dung này cũng

20
* Arnab K. Basu trong Impact of Rural Employment Guarantee Schemes
on Seasonal Labor Markets: Optimum Compensation and Workers' Welfare [1]
cho rằng việc ban hành Đạo luật quốc gia về Bảo lãnh việc làm nông thôn ở Ấn
Độ được ca ngợi như một chính sách cung cấp một mạng lưới an sinh xã hội cho
người nghèo nông thôn để tăng thu nhập, ổn định sản xuất nông nghiệp và làm
giảm tốc độ di cư từ nông thôn ra đô thị. Bài báo phân tích tác động của Chương
trình đảm bảo việc làm trong bối cảnh của một nền kinh tế nông nghiệp đặc
trưng bởi lao động thất nghiệp theo mùa vụ như một hệ quả của hợp đồng ràng
buộc lao động. Dựa trên những kết quả kiểm tra lao động và sản lượng đáp ứng
thị trường để có thể thực hiện đề án “Bảo lãnh việc làm cho lao động nông thôn
và xác định việc bồi thường cho người lao động phù hợp với các mục tiêu”: (i)
hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp và (ii) phúc lợi tối đa hóa của người lao
động. Từ đó, tác giả cung cấp khung lý thuyết cho việc đánh giá những quan sát
và kết quả thực nghiệm về tác động của đề án: bảo lãnh việc làm cho lao động
nông thôn với tiền lương nông nghiệp, việc làm, đầu ra của nông nghiệp và nhấn
mạnh tầm quan trọng của năng suất tương đối của người lao động trong các
chương trình này với đối tác của họ khi tham gia sản xuất nông nghiệp.
* Jonna Estudillo và các cộng sự trong Labor markets, occupational choice,
and rural poverty in four Asian countries [26] đã khám phá những cơ chế cơ bản
trong thị trường lao động nông thôn dẫn đến tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo
ở các vùng nông thôn của Philippines, Việt Nam, Bangladesh và Sri Lanka. Việc
gia tăng thu nhập phi nông nghiệp, trong đó tăng thu nhập từ việc làm chính thức,
được xem là một động lực quan trọng của tăng trưởng thu nhập và giảm nghèo. Vì
vậy, để giảm đói nghèo ở nông thôn, các chính phủ cần phải có chính sách nhằm
tạo ra nhiều việc làm chính thức, vì vấn đề chất lượng công việc có tác động lớn
trong việc cải thiện mức sống của người lao động nông thôn.
Từ một số công trình nêu trên của các tác giả nước ngoài, có thể thấy, vấn
đề việc làm cho lao động nông thôn, lao động nông nghiệp có mối quan hệ hữu
21

khó khăn khi mưu sinh ở thành thị dẫn đến hiện tượng dòng di cư “đảo chiều”
về nông thôn, gây nên tình trạng thiếu việc làm cho lao động nông thôn không di
cư. Phân tích các chính sách giảm nghèo, hỗ trợ sản xuất và tiếp cận các dịch vụ
xã hội cơ bản ở nông thôn, tác giả cũng chỉ ra những bất cập trong xây dựng và
thực hiện chính sách của Nhà nước.
Ngoài ra, đề tài cấp Bộ Hiện trạng cung - cầu nguồn lao động kỹ thuật
thành phố Hồ Chí Minh và định hướng giải pháp đào tạo, sử dụng cho giai đoạn
tới 2010 do Nguyễn Trần Dương làm chủ nhiệm [45] cũng đề cập đến rất nhiều
vấn đề quan trọng liên quan đến chủ đề nghiên cứu này. Đặc biệt, đề tài đã cung
cấp một hệ thống giải pháp đào tạo, sử dụng lao động kỹ thuật cho thành phố Hồ
Chí Minh. Các kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo rất tốt khi tìm
kiếm các giải pháp về lao động, việc làm cho thủ đô Hà Nội.
1.1.2.2. Luận án Tiến sỹ
* Luận án của Trần Thị Bích Hạnh [57] đã nghiên cứu để tìm kiếm các
giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lao động, xem đây là những vấn đề có
tính chủ yếu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của khu vực. Tuy
vậy, luận án mới chỉ tập trung nghiên cứu, tìm kiếm các biện pháp, các cách
thức dưới góc độ quản lý, gợi mở các phương án có tính kỹ thuật, luận án chưa
đi sâu nghiên cứu về bản chất của tình hình lao động, việc làm để từ đó có thể đề
ra những giải pháp mang tính bền vững, lâu dài, có thể dẫn dắt các biện pháp có
tính tình thế trong việc xử lý các vấn đề lao động, việc làm khi có phát sinh. Bên
cạnh đó, công trình trên chưa phát hiện được những vấn đề có tính quy luật của
sự vận động về việc làm và chất lượng nguồn lao động, nên các giải pháp đưa ra
mang đậm tính kỹ thuật, thiếu một sự khái quát có tính nguyên lý, giúp cho
chúng ta có thể kế thừa nó trong việc nhận diện các hiện tượng nảy sinh về vấn
đề việc làm, lao động trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói chung, tiến trình đẩy mạnh công nghiệp,
hiện đại hoá và xây dựng nông thôn mới nói riêng.
23
* Luận án của Phạm Đức Chính [47] với mục tiêu cải thiện việc sử dụng

Dũng và Trần Hữu Trung [37] nghiên cứu về chính sách việc làm ở Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nội dung công
trình có thể khái quát trên một số vấn đề chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
chính sách việc làm. Các tác giả cho rằng: “vấn đề cốt lõi, bao trùm nhất là phải
tạo ra điều kiện và cơ hội để người lao động có việc làm, thu nhập đảm bảo cuộc
sống của bản thân và gia đình, đồng thời góp phần cho xã hội. Đó là nội dung cơ
bản của chính sách việc làm”.
Thứ hai, tiếp cận phương pháp nghiên cứu chính sách việc làm. Các tác
giả cho rằng, chính sách việc làm phải được đặt trong hoàn cảnh của quá trình
chuyển đổi nền kinh tế cũng như chủ trương đa phương hoá các quan hệ quốc tế.
Đồng thời, chính sách việc làm cũng phải dựa trên sự sáng tạo của quần chúng
nhân dân, nhằm phát huy tối đa sức sáng tạo của nhân dân, phục vụ hiệu quả
công cuộc đổi mới phát triển đất nước.
Thứ ba, công trình đã hệ thống khái niệm về lao động, việc làm. Các tác
giả đã nghiên cứu và đề cấp đến các nội dung chủ yếu như: quan niệm cơ bản về
lao động và việc làm; hệ thống khái niệm cơ bản về lao động và việc làm được
vận dụng ở nước ta. Ở những nội dung này, trên cơ sở kế thừa các công trình
nghiên cứu có trước, các phạm trù: việc làm, lực lượng lao động, người có việc
làm, người thất nghiệp, những người không thuộc lực lượng lao động được tác
giả giới thiệu một cách khái quát, nhằm phục vụ cho mục tiêu làm rõ những vấn
đề có liên quan đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam.
Thứ tư, công trình phân tích làm rõ nguyên nhân và những mâu thuẫn chủ
yếu của vấn đề thị trường lao động và việc làm ở Việt Nam trong những năm
đầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thứ năm, công trình đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng giải
quyết việc làm phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam.
25
Và cho rằng: một trong những vấn đề cơ bản nhất của sự thay đổi trong nhận
thức về việc làm là coi trọng yếu tố tự tạo việc làm của người lao động trong các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status