BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ KIỀU ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VACXIN CIRCOVAC
Ở ĐÀN LỢN NUÔI TẠI TRẠI THÀNH LONG
LƯƠNG SƠN - HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử
dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Phạm Thị Kiều Anh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 3
3. Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Tình hình nghiên cứu về PCV2 4
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước về PCV2 4
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về PCV2 5
1.2. Bệnh do PCV2 gây ra và biện pháp phòng bệnh 8
1.2.1. Một số hiểu biết về PCV2 và bệnh do PCV2 gây ra 8
1.2.2. Một số biện pháp phòng bệnh do PCV2 gây ra 15
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
2.1. Đối tượng , thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.1.1. Đối tượng 18
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 18
2.2. Nội dung nghiên cứu 18
2.3. Nguyên liệu 19
2.4. Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu và phân tích số liệu 20
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu 20
2.4.3. Phương pháp ELISA xác định kháng thể kháng PCV2 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
2.4.4. Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của đàn
Bảng 3.6. Tình hình dịch bệnh ở đàn lợn con qua 4 năm 2010 – 2013 41
Bảng 3.7. Số mẫu huyết thanh được thu thập 44
Bảng 3.8. Tỷ lệ phát hiện kháng thể kháng PCV2 trong huyết thanh lợn 45
Bảng 3.9. Hiệu giá kháng thể kháng PCV2 ở lợn 47
Bảng 3.10. Tình hình sinh sản của nái 2 lô thí nghiệm và đối chứng 48
Bảng 3.11. Khối lượng lợn con lúc sơ sinh 50
Bảng 3.12. Khối lượng lợn con lúc cai sữa 51
Bảng 3.13. Khối lượng lợn con 60 ngày tuổi 52
Bảng 3.14. Khối lượng lợn con 90 ngày tuổi 53
Bảng 3.15. Tổng hợp kết quả theo dõi tăng trọng của lợn con 54
Bảng 3.16. Tình hình dịch bệnh của lợn con 55 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CP : Charoen Pokphand Việt Nam
Cs. : Cộng sự
DTL : Dịch tả lợn
ĐC : Đối chứng
IM : Tiêm bắp
KT : Kháng thể
KST : Ký sinh trùng
LMLM : Lở mồm long móng
MH : Minh Hiếu
P : Thể trọng
PCV2 : Porcine Circovirus type 2
lợn do Porcine Epidemic Diarrhea Virus (PEDV), Porcine Reproductive and
Respiratory Syndrome – hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) đã gây
những thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi.
Mục đích cuối cùng của ngành công nghiệp chăn nuôi lợn là đạt được
hiệu quả kinh tế cao nhất. Tuy nhiên, Porcine circovirus type 2 (PCV2) là
nguyên nhân khởi phát gây các hội chứng liên quan tới PCV2 ( Procine
circovirus type 2-asociated, PCVAD) làm thiệt hại kinh tế nghiêm trọng.
PCV2 có liên quan đến Hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa (postweaning
multisytemic wasting syndrome – PMWS); Hội chứng viêm da và viêm thận(
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Porcine dermatitis and nephropathy syndrome – PDNS); Hội chứng viêm
đường hô hấp (Porcine respiratory diseases complex) và Hội chứng rối loạn
sinh sản ở lợn (Porcine reproductive disorders); làm giảm sức sản xuất của
đàn lợn. Hội chứng gầy còm ở lợn sau cai sữa hay có tên gọi khác là Hội
chứng 30kg (The 30kg syndrome) do lợn bệnh chỉ đạt khối lượng khoảng
30kg trong khi lợn bình thường cùng lứa tuổi có thể đạt 100kg. Thiệt hại kinh
tế do PCV2 gây ra ước tính khảng 600 triệu Euro/ năm đối với khối EU (
Segales và cs., 2011).
PCV2 là tác nhân gây suy giảm hệ thống miễn dịch, cùng với các tác
nhân gây bệnh khác gây nên hội chứng bệnh liên quan đến PCV2 (PCVAD)
gồm: Hội chứng còi cọc trên lợn sau cai sữa (PMWS), hội chứng viêm da và
sưng thận trên lợn (PDNS), tổ hợp bệnh hô hấp trên lợn (PRDC), viêm phổi
hoại tử tiến triển trên lợn (PNP) (Allan và Ellis, 2000).
Ở Việt Nam, PCV2 được phát hiện ở một số tỉnh phía Nam từ năm
2000 với tỷ lệ nhiễm 38,97% nhưng đến năm 2006 tỷ lệ nhiễm đã tăng đến
96,47% (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2006).
Năm 2012, Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs. đã xác định được sự lưu hành và
genotype của PCV2 ở đàn lợn nuôi tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu về PCV2
1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước về PCV2
Ở Việt Nam, PCV2 được phát hiện ở một số tỉnh thành phía Nam từ
năm 2000 với tỷ lệ nhiễm 38,97% nhưng đến 2006 tỷ lệ nhiễm đã tăng đến
96,47%, chứng tỏ PCV2 đang lưu hành phổ biến trong chăn nuôi lợn (Nguyễn
Thị Thu Hồng và cs., 2006) và là một trong những nguyên nhân gây còi cọc
lợn con cai sữa ở một số trại lợn tại thành phố Hồ Chí Minh ( Nguyễn Thị
Thu Hồng và cs., 2010). Một số nghiên cứu của các tác giả như Lam Thu
Huong và Duong Chi Mai (2006); Lê Tiến Dũng (2006) đều cho thấy có sự
lưu hành của PCV2 ở đàn lợn nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị
Thu Hồng và cs., 2008).
Theo kết quả khảo sát của Lâm Thị Thu Hương và Đường Chi Mai
(2006) tại một số trại lợn công nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ
cận cho biết tỷ lệ nhiễm PCV2 trên lợn khá cao: 7 trại nhiễm trên 9 trại khảo
sát và tỷ lệ nhiễm ở các trại biến động từ 1,25- 83,33%.
Nguyễn Thị Thu Hồng và cs. (2006) khảo sát 988 mẫu huyết thanh
lợn và biện pháp khắc phục. Kết quả bước đầu cho thấy đã xác định và phân
lập được PCV2 ở đàn lợn nuôi tại một số tỉnh như Hà Nội, Bắc Giang, Hà
Nam, Phú Thọ (tài liệu trao đổi cá nhân).
1.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về PCV2
Hiện nay, PCV2 được ghi nhận ở rất nhiều nước trên thế giới. Các kết
quả nghiên cứu đã xác định được sự lưu hành, phân lập cũng như đánh giá
được đặc tính di truyền của PCV2. Một số nghiên cứu có thể được thống kê
như sau:
Nhật Bản: Shibahara T và cs., năm 2000 đã chứng minh rằng sự suy
giảm tế bào bạch huyết với cơ chế apoptotic tế bào lympho B là do PCV2.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Họ cho rằng một số cơ quan dung giải tế bào là do cơ chế này. Như vậy,
PCV2 kích thích sự phát triển hội chứng gầy mòn trên lợn con sau cai sữa
(PMWS) bằng cơ chế gây suy giảm hệ thống miễn dịch.
Thái Lan: Những trường hợp đầu tiên của PMWS được mô tả ở Thái
Lan vào năm 1998 nhưng có nghiên cứu chỉ ra đã phát hiện PMWS trên lợn từ
năm 1993. Dựa vào phương pháp PCR khảo sát sơ bộ tỷ lệ nhiễm PCV2 ở Thái
Lan là 10%. Phân loại các chủng PCV2 dựa trên nucleotide 262-267 của các
trình tự ORF2 phát hiện tại Thái Lan PCV2 đang tồn tại một subtype mới là
PCV2e. Trong đó dường như hai subtype PCV2b và PCV2e (PCV2b chiếm ưu
thế) đang tồn tại trong đàn lợn của Thái Lan.
Trung Quốc: Từ tháng 5-2003 đến tháng 8-2005 Zong Z.Y. và cs. đã
tiến hành thu thập ngẫu nhiên 1250 mẫu huyết thanh và các mẫu mô lợn nghi
nhiễm PCV2 bao gồm: lách, gan, hạch bạch huyết từ 6 quận huyện ở Hàng
Châu, tỉnh Chiết Giang. Sử dụng phương pháp ELISA đã phát hiện thấy 40%
mẫu huyết thanh dương tính với PCV2. Đồng thời, bằng phương pháp PCR
trên các mẫu mô cho thấy tại Hàng Châu đang lưu hành ngoài chủng PCV2
Trung Quốc còn lưu hành rộng rãi các chủng PCV2 khác trên thế giới như: Hà
trong giai đoạn 1980-1989 và 72% (289/400) mẫu trong giai đoạn 1990-2000.
Bằng chứng này chỉ ra rằng PCV2 có từ trước khi người ta phát hiện ra virus tại
Mexico.
Phân tích tích trình tự PCV2 từ các vùng khác nhau, kết quả cho thấy tại
Mexico tồn tại 2 subgenotypes a và b, các virus này tương đồng 89-99%
Ireland: Allan G.M. và cs. đã phát hiện ra PCV2 từ mẫu phân từ các trại
lợn ở Bắc Ireland tháng 8 năm 2005. Bằng phương pháp PCR cho thấy ở đảo
Ireland lưu hành ít nhất hai nhóm PCV2. Không thấy xuất hiện mối quan hệ
giữa nhiễm trùng hai nhóm PCV2 trong tiến triển bệnh PMWS.
Canada: John C.S.H. năm 1998 đã xác định dịch tễ học và triệu chứng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
lâm sàng của lợn mắc PMWS: Ở lợn sau cai sữa tỷ lệ tử vong đạt mức cao nhất
vào tháng 9 của dịch (7,67%), sau đó trở lại 16 tháng sau với tỷ lệ 2,1% -2,5%.
Các nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất là còi cọc (giảm cân, hốc hác), vàng
da (bệnh gan) và khó thở (bệnh đường hô hấp).
Bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trên tế bào thận lợn PK-
15 nhiễm PCV, trên tế bào PK-15 nhiễm PCV1 và PCV2. Kết quả thu được sau
3 năm nghiên cứu là tỷ lệ huyết thanh dương tính với PCV2 nhiều hơn PCV1,
PCV2 là loại PCV lưu hành chính và lưu hành ít nhất trong 10 đàn lợn tại
Canada trước khi hội chứng PMWS được báo cáo.
Thụy Điển: Năm 2008 Per Wallgren đã tiến hành nghiên cứu 40 lợn
trung bình 37,5 ngày tuổi, theo dõi trong 55 ngày; trong huyết thanh lợn bệnh
không có kháng thể đủ để chống lại mầm bệnh. Số lượng PCV2 lớn hơn trong
lợn mắc bệnh nặng và trong giai đoạn đầu so với lợn khỏe mạnh. Ở 18/34 lợn
không có dấu hiệu lâm sàng PMWS có 10
7
ADN PCV2/ml huyết thanh, có thể
chúng mới bắt đầu sinh miễn dịch chống lại mầm bệnh.
1.2.1.2. Sức đề kháng:
PCV2 có sức đề kháng cao với nhiệt độ cao, formalin, pH thấp. Có thể
duy trì tính gây nhiễm trong điều kiện pH<2 nhưng giảm đi đáng kể ở pH= 11,
gần như biến mất tại pH=12. Tính gây nhiễm của virus giảm ở 56
0
C và không
còn ở 70
0
C trong 6 hoặc 24 giờ. Trong điều kiện khô, virus chịu được nhiệt độ
120
0
C trong 30 phút. Trong điều kiện ướt, virus còn sống ở nhiệt độ 75
0
C trong
15 phút và bị diệt ở 80
0
C trong 15 phút. Có thể phân lập virus trong mẫu bệnh
phẩm bảo quản ở -70
0
C (Kwang, 2009; Welch và cs., 2006).
Virus khó bị tiêu diệt bằng thuốc tẩy rửa chứa lipit hoà tan, iodine và
phenol nhưng không hoạt động bởi các chất tẩy kiềm (sodium hydroxide), tác
nhân oxyt (sodium hypochlorite), hỗn hợp 1/4 ammonium, 2% các chất diệt
trùng hỗn hợp 1 (20% glutaraldehyde, 12% 2-propenal, polymer với
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
formaldehyde), hỗn hợp 2 (55 acid formic%, 7% glyoxylic acid) sau 120 phút ở
20
0
3D4/31 (từ phế nang lợn) thông qua quá trình tiêu hóa nội bào (clathrin-
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
mediated Endocytosis) và trong môi trường axít (McCullough và cs., 2009).
1.2.1.4.Dịch tễ học
* Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, virus PCV có mặt trên toàn thế giới gây bệnh cho cả lợn
nhà và lợn rừng (Ellis, 2003).
Tỷ lệ mắc bệnh với PMWS thấp ở những thuần chủng hoặc lợn lai giữa
giống Pietrain với giống lai Large White Duroc. So sánh giữa ba giống lợn
Landrace, Duroc, Large White, kết quả cho thấy ở lợn Ladrace xu hướng
nhiễm và tổn thương bệnh lý do PCV2 là lớn nhất và khả năng sinh kháng thể
thụ động để bảo vệ cơ thể chậm. Lợn đực thiến mắc bệnh cao hơn lợn nái
(Meehan và cs., 1998).
Ellis và cs. (2001) đã chứng minh ngựa, trâu, bò thịt, bò sữa không cảm
nhiễm với căn bệnh. Không thấy bệnh tích đại thể và vi thể, không phát hiện
kháng nguyên trong các mô sau khi gây nhiễm vào cừu hoặc bê.
Chuột nhắt và chuột nhà quanh những trại lợn mắc bệnh dương tính với
PCV2 và kháng thể được tìm thấy trong huyết thanh chuột gây nhiễm. Không
phát hiện thấy kháng thể Porcine Circovirus ở người, nhưng không hoàn toàn
không quan tâm trong những trường hợp như ghép thận, đặc biệt là những
người tương lai sẽ cấy ghép các cơ quan nội tạng của con vật (Ellis, 2003).
* Lứa tuổi mắc bệnh
Hội chứng PMWS do PCV2 thường gây bệnh ở lợn 2-17 tuần tuổi, chủ
yếu ở lợn 2-5 tuần tuổi, tại thời điểm lợn con không còn bú sữa mẹ, không còn
được nhận kháng thể từ mẹ. Trong lứa tuổi mắc bệnh không có sự ảnh hưởng
của tuổi đến số lượng virus trong huyết thanh và mức tổn thương mô bào
(T.Opriessnig và cs., 2008).
Virus tìm thấy trong tinh dịch lợn đực dưới 71 tuần tuổi, nhưng không
chết sau cai sữa do PMWS là 6,7 ±5,1% cao nhất lên tới 18%. Tỉ lệ tử vong
bình thường ở lợn con là 2-3%, có thể tăng lên 14-30% ở những đàn nhiễm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
PCV2 (Harding, 1998; Kawashima và cs., 2007).
Tại Việt Nam: tỷ lệ nhiễm PCV2 tăng từ 38,97% năm 2000 đến 90,26% năm
2005 và 60% trong mẫu thu từ lợn trong dịch bệnh sốt cao liên quan đến PRRS.
Tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào quá trình chăm sóc, quản lý và vệ sinh thú
y tại trang trại, con giống, việc xác định và cách ly lợn bệnh (Trần Thị Dân và
cs., 2010).
Đường truyền lây: PMWS lúc đầu xuất hiện ở một khu nhất định, nhưng
lây lan nhanh chóng toàn bộ khu vực do vận chuyển lợn không có triệu chứng
(nhưng nhiễm PCV2). Bệnh lây truyền trong bán kính khoảng 2-3km, lây từ
lợn rừng sang lợn nhà và ngược lại (Meehan và cs., 1997).
PCV2 có thể truyền ngang qua tiếp xúc trực tiếp miệng mũi, qua
không khí, gió, bụi, qua dụng cụ chăn nuôi, quần áo, ủng ô nhiễm và truyền
dọc từ lợn mẹ sang con, qua phối giống tinh dịch lợn đực nhiễm bệnh
(Zvonimir và cs., 2010).
PCV2 có thể gây nhiễm cho lợn qua tiêm bắp hoặc qua xoang mũi, gây
bệnh cho chuột Côn Minh qua đường uống, tiêm, tiếp xúc trực tiếp (Jun Li và
cs., 2010).
1.2.1.5.Triệu chứng, bệnh tích:
PCV2 được coi là nguyên nhân gây hội chứng còi cọc sau cai sữa
(Postweaning Multisystemic Wasting Syndrome – PMWS). Một số trường
hợp khác là hội chứng viêm da thận (Porcine Dermatitis and Nephropathy
Syndrome – PDNS), hội chứng rối loạn hô hấp (Porcine Respiratory Disease
Complex – PRDC), hội chứng rối loạn sinh sản ở lợn PCV2 – Associated
Reproductive Failure), hội chứng viêm ruột ở lợn (PCV2 – Associated
Enteritis) Hiện nay tên gọi phổ biến để mô tả các bệnh liên quan đến PCV2 là
PVC2 có liên quan đến hiện tượng sảy thai và thai chết non, tuy nhiên trong
thực tế hiếm gặp. Trong những trường hợp rối loạn sinh sản do PCV2, triệu
chứng đặc trưng là lợn xảy thai, chết yểu. Mổ khám thai chết có hiện tượng
gan xung huyết, tim sưng to, trên bề mặt có nhiều điểm hoại tử. Bệnh tích vi
thể rõ nhất là hiện tượng cơ tim bị viêm tơ huyết và hoặc hoại tử.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Hội chứng rối loạn hô hấp ở lợn xảy ra ở lợn từ 8 – 26 tuần và thường
cộng phát với một số nguyên nhân khác. Triệu chứng bao gồm giảm khả năng
tăng trọng, giảm chuyển hóa thức ăn, lợn mệt mỏi, sốt, ho và khó thở. Bệnh
tích đặc trưng gồm viêm kẽ phổi, phế quản viêm loét hoặc hoại tử nặng, phế
nang viêm tơ huyết.
Hội chứng viêm ruột ở lợn xảy ra ở lợn từ 8 – 16 tuần tuổi, gây chứng
viêm hồi tràng mạn tính có liên quan đến Lawsonia intracellularis. Lợn bị
bệnh có triệu chứng tiêu chảy, còi cọc, giảm tăng trọng và tăng tỷ lệ chết.
Bệnh tích bao gồm viêm ruột dạng hạt, rõ nhất là ở các mảng Payer. Hạch
màng treo ruột bị sưng to, niêm mạc ruột tăng sinh dày lên.
1.2.2. Một số biện pháp phòng bệnh do PCV2 gây ra
1.2.2.1. Vệ sinh phòng bệnh
Cách phòng ngừa hợp lý và hữu hiệu nhất được khuyến cáo để phòng
bệnh do PCV2 gây ra là:
- Hạn chế sự thăm viếng chuồng trại nhằm giảm thiểu nguy cơ làm lây
bệnh cho đàn lợn; khi vào chuồng nái bắt buộc phải thay ủng và quần áo.
- Có chương trình diệt trừ chuột, ruồi muỗi giúp hạn chế lây lan mầm bệnh;
- Thực hiện biện pháp chăn nuôi cùng vào - cùng ra Chăn nuôi với mật
độ hợp lý.
- Định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng
các loại thuốc sát trùng.
- Lợn mua về cần được kiểm dịch, cách ly triệt để lợn mới mua về.
bảo hộ cao, đáp ứng miễn dịch tối đa.
Vacxin dùng cho lợn con khỏe mạnh từ 3 tuần tuổi trở lên (tiêm bắp với
liều lượng 2ml/con, tiêm nhắc lại sau 3 tuần), có tác dụng giảm tỷ lệ chết, phòng
circovirus lưu hành trong máu và ngăn chặn bài xuất virus ra ngoài môi trường.
- Vacxin Ingelvac Circoplex (Boehringer Ingelheim): là vacxin PCV2
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
ORF2 protein được gắn trên baculovirus vô hoạt.
Vacxin dùng để tiêm bắp (liều lượng 1 ml/con) cho lợn khỏe mạnh từ 3
tuần tuổi trở lên, giúp tăng cường mô lympho, hạn chế hiện tượng viêm và số
lượng PCV2 trong mô bào. Độ dài miễn dịch kéo dài 4 tháng.
- Vacxin Suvaxyn
®
PCV2 One Dose
TMm
(Fort Dodge Animal Health): là
vacxin vô hoạt kết hợp PCV1-2.
Vacxin dùng để tiêm bắp (liều lượng 2 ml/con) cho lợn khỏe mạnh từ 4
tuần tuổi trở lên, giúp tăng cường mô lympho, không bị ảnh hưởng bởi PCV2.
Độ dài miễn dịch kéo dài 4 tháng.
- Pro-vac Circomaster Vac (Komipharm international): là vacxin tiểu
phần tái tổ hợp dùng phòng các bệnh do PCV2 gây ra, lịch sử dụng như sau:
+ Nái mang thai:
Mới tiêm vacxin Circo lần đầu: tiêm bắp 2 lần, mỗi lần 2ml vào lúc 4 -
5 tuần và 2 - 3 tuần trước khi sinh. Tiêm lứa kế tiếp trở đi: tiêm bắp 1 lần 2ml
vào lúc 2 - 3 tuần trước khi sinh.
+ Lợn con:
Nếu sinh ra từ lợn mẹ đã tiêm phòng: tiêm bắp 1 lần 2ml lúc 4 - 5 tuần
tuổi. Nếu lợn mẹ chưa tiêm phòng: tiêm bắp 2 lần, mỗi lần 1ml vào lúc 3-4