224
COMMINITY BASED TOURISM DEVELOPMENT
ORDER TO CONTRIBUTE TO POVERTY REDUCTION IN SON LA
Being the third largest in Vietnam, Son La province has a great potential for
tourism development. But until now Son La is still one of the poorest provinces in the
country, GDP per capita is only one sixth the national average. Tourism accounts for
more than 3% of GDP of the province. It is necessary to implement appropriate
measures to develop tourism for promoting the existing potentials, contributing to
economic restructuring, reducing poverty, improving living standards and improving
spirit of the community. Those measures are development of tourist products; human
resource development and community capacity building, protection of the
environment, and tourism promotion Hopefully, the potential exploitation of nature
and culture to attract tourists will contribute to poverty reduction, improving living
standards of the minority communities in Son La. PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM GÓP PHẦN XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở SƠN LA
Trần Đức Thanh
1
Nguyễn Thị Hạnh
2
1. Đặt vấn đề
Là một tỉnh miền núi, Sơn La có diện tích lớn thứ 3 trong cả nước. Trên 60%
diện tích tự nhiên của tỉnh là đất rừng, địa hình chia cắt mạnh, quỹ đất nông nghiệp ở
đây rất hạn chế, trung bình chỉ có khoảng 0,2ha/đầu người. Đại đa số cư dân sống ở
nông thôn, do vậy đời sống của đồng bào ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn. GDP của
toàn tỉnh năm 2009 chỉ đạt khoảng 4600 tỷ đồng, GDP bình quân đầu người là
là cơ sở để Sơn La phát triển loại hình du lịch thể thao - mạo hiểm.
Khí hậu Sơn La mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Hàng năm, trên lãnh thổ
của tỉnh nhận được lượng bức xạ dồi dào, khoảng 130 – 135kcal/cm
2
. Tổng nhiệt độ
hoạt động bình quân đạt 8000
0
C/năm; tổng số giờ nắng trong năm là 2.000 – 2.500
giờ. Trên phạm vi toàn tỉnh nhiệt độ trung bình năm là 21
0
C. Bên cạnh đó, theo quy
luật phi địa đới, cao nguyên Mộc Châu (1.050m) và cao nguyên Nà Sản (800m) có
điều kiện khí hậu mát mẻ (thấp hơn 5-6
0
C so với Hà Nội). Như vậy điều kiện khí hậu
226
của Sơn La khá thuận lợi cho các hoạt động tham quan, dã ngoại và cho hoạt động du
lịch nghỉ dưỡng, cuối tuần trong tương lai.
Sơn La có hệ thống sông suối khá dày đặc trong đó nổi bật là sông Đà và sông
Mã. Dọc theo các sông này là những ghềnh, thác với độ cao không lớn, có thể khai
thác những đặc điểm này để phát triển du lịch thể thao mạo hiểm nước. Cùng với hệ
thống sông suối, Sơn La còn có nhiều hồ lớn cùng với sự phát triển của các công trình
thủy điện như: Thủy điện Sơn La, thủy điện Huổi Quảng, thủy điện Nậm Chiến, thủy
điện Suối Sập. Đặc biệt, hồ Sơn La khi hình thành sẽ là hồ nước lớn nhất nước ta với
chiều dài hồ là 150km, diện tích khoảng 16.000ha. Những hồ nước lớn bên cạnh các
giá trị về sản xuất điện năng, phục vụ thủy lợi còn rất có giá trị đối với phát triển du
lịch.
Nước khoáng, đặc biệt là nước khoáng nóng, hiện được xem là nguồn tài
nguyên du lịch có giá trị đã và đang được khai thác để tạo thành các sản phẩm du lịch
giam giữ nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam. Ban đầu đây chỉ là nhà tù nhỏ cấp tỉnh
với diện tích 500m
2
, sau được thực dân Pháp mở rộng lên gấp ba lần vào những năm
1930 - 1940 và giai đoạn 1930 – 1945. Đây là nơi giam cầm hàng ngàn tù chính trị,
trong đó có nhiều cán bộ chủ chốt của cách mạng Việt Nam như Lê Duẩn, Trường
Chinh, Văn Tiến Dũng, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị … Đặc biệt tại di tích
nhà tù còn có cây đào do đồng chí Tô Hiệu trồng khi bị giam giữ và hy sinh tại đây.
Bên bức tường đá của nhà ngục cây đào luôn xanh tươi - biểu tượng cho ý chí bất
khuất của chiến sỹ cộng sản.Liền kề nhà tù là Bảo tàng tỉnh Sơn La, nơi trưng bày
nhiều hiện vật quý giới thiệu truyền thống lịch sử, văn hóa của cộng đồng 12 dân tộc
sinh sống trên lãnh thổ. Bảo tàng được xếp hạng năm 1962.
Di tích lịch sử Tượng đài chiến thắng Cò Nòi thuộc xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn.
Cụm tượng đài tưởng niệm 100 chiến sĩ thanh niên xung phong đã hy sinh khi phục vụ
chiến dịch Điện Biên Phủ được tái hiện tại bằng hình ảnh của 3 thanh niên xung phong
ở các tư thế khác nhau đang hiên ngang ngẩng cao đầu làm nhiệm vụ trước mưa bom
bão đạn.
Khu căn cứ cách mạng Mường Chanh là nơi thành lập lực lượng Thanh niên
Cứu quốc đầu tiên của tỉnh. Tại đây, dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Nhà tù Sơn La đội
thanh niên cứu quốc đã ra đời với 12 đội viên. Từ đó, Mường Chanh trở thành khu căn
228
cứ cách mạng, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng lực lượng cách mạng, giải
phóng Sơn La khỏi ách thống trị của thực dân Pháp vào ngày 26/08/1945.
Nói đến Sơn La hôm nay không thể không nhắc tới nhà máy thủy điện. Đây là
nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á được khởi công xây dựng ngày 2 tháng 12
năm 2006 tại xã Ít Ong, Mường La, Sơn La. Đập hồ gồm 4 cửa xả đáy được xây dựng
với gần 5 triệu m
3
bê tông như một bức tường chắn ngang dòng sông Đà dữ dội tạo
3. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Sơn La
3.1. Khách du lịch
Trong giai đoạn từ năm 2002 - 2011, lượng khách du lịch tới Sơn La có tốc độ
tăng trưởng khá. Năm 2002, mới có 82.000 lượt khách, năm 2011 con số này tăng lên
382.391, đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 18,67%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung
của cả nước. Trong tổng số khách đến Sơn La du lịch hàng năm, khách du lịch nội địa
chiếm trên 90%.
Với nhịp độ tăng trưởng như trên, du lịch Sơn La đã và đang từng bước bắt nhịp
được với sự phát triển du lịch cả nước. Tuy nhiên, tốc độ này vẫn chưa tương xứng với
vị trí quan trọng của tỉnh Sơn La trong chiến lược phát triển du lịch khu vực Tây Bắc
và nhất là chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh du lịch của tỉnh.
Bắt đầu thu hút khách du lịch quốc tế từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, năm 2002, Sơn La đã đón được 7.600 lượt khách. Năm 2011, toàn tỉnh Sơn La đã
đón 32.000 lượt khách quốc tế, gấp 4,21 lần so với năm 2002. Tuy có tốc độ tăng
trưởng cao 17,32%/năm nhưng tỷ trọng khách quốc tế không quá 10%. Mặt khác, số
ngày lưu trú bình quân của khách không cao, thậm chí trong những năm gần đây có
xu hướng giảm; Nếu năm 2002 số ngày lưu trú bình quân của khách giảm là 1,3-1,5
ngày/lượt khách,thì đến 2010 chỉ còn 1,0 ngày/lượt khách. Số ngày lưu trú thấp đồng
nghĩa với chi tiêu của khách quốc tế đến khu vực không cao, kinh doanh du lịch chưa
thực sự hiệu quả. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kỹ thuật, chất lượng phục vụ du lịch trên địa bàn chưa đảm bảo yêu cầu của
khách quốc tế.
Khách quốc tế thường có khả năng chi trả cao, đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng
kể cho khu vực phát triển du lịch và cho đất nước; họ cũng có ý thức trách nhiệm cao
trong việc tham quan du lịch, có nhu cầu tham gia nhiều hoạt động, nhiều loại hình du
lịch và vui chơi, giải trí trong chuyến đi của mình. Vì vậy, kéo dài thời gian lưu trú của
khách; đồng thời tạo sức sống mới cho các sản phẩm du lịch chất lượng, phù hợp với
sở thích của khách quốc tế là vấn đề mà ngành du lịch Sơn La cần phải chú trọng hơn
nữa.
địa. Tổng hợp cơ cấu doanh thu du lịch thì nguồn thu từ dịch vụ lưu trú chiếm 24,4%;
231
ăn uống 41,3%; doanh thu bán hàng hóa 17,8%; dịch vụ vận chuyển khách 1,7%; lữ
hành 3,6%; thu khác 11,2%.
Theo báo cáo tổng kết của Sở văn hóa Thể thao Du lịch, năm 2010 công suất buồng
phòng trung bình năm của hệ thống cơ sở lưu trú ở Sơn La đạt tới 62,3%, nếu tính theo
phòng (mỗi phòng có 1 khách lưu trú), còn nếu tính theo công suất giường (tất cả các
giường đều có khách lưu trú) thì chỉ đạt 35,2%.
Cơ cấu doanh thu du lịch Sơn La 2011
Như vây, công suất sử dụng phòng trung bình năm của hệ thống cơ sở lưu trú ở
Sơn La chưa thật sự cao. Trong thời gian tới, tỉnh cần có những chiến lược phát triển
nhất định để thu hút khách ngày một nhiều hơn và số ngày lưu trú của khách cao hơn.
3.3. Sự tham gia của cộng đồng
Sơn La là một tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn so với
nhiều tỉnh thành của nước ta. Nhưng nơi đây lại có nhiều tiềm năng để phát triển các
loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng Trong
những năm qua, Sơn La đã có những chiến lược phát triển nhất định để thu hút khách
du lịch, thu hút các nhà đầu tư. Tuy nhiên, lượng khách đến du lịch tại Sơn La còn
thấp, vì vậy doanh thu từ hoạt động du lịch của tỉnh không nhiều.
232
Lực lượng cộng đồng tham gia phục vụ khách du lịch chủ yếu tập trung ở thành
phố Sơn La và Mộc Châu. Công việc chủ yếu của họ là cho thuê phòng trọ và bán
hàng ăn. Tổng doanh thu lưu trú trên 24% và ăn uống trên 41% có được tập trung chủ
yếu ở một số khách sạn nhà hàng đặt tại Sơn La và Mộc Châu. Hầu hết các dịch vụ
này là do các công ty lữ hành từ Hà Nôi, thành phố Hồ Chí Minh và một số địa
phương khác đặt theo tour cho khách. Số gia đình trong các bản cho khách thuê nghỉ
du lịch theo các hướng:
- Du lịch sinh thái, tỉnh cần có hướng tập trung phát triển các loại hình du lịch
kayaking trên sông, hồ, thác nước; du lịch leo núi, tham quan khám phá hang động
Thẩm Tét Toong, du lịch tham quan, nghiên cứu rừng; du lịch dã ngoại, du lịch mạo
hiểm, du lịch trekking…
- Đối với du lịch văn hóa, hướng phát triển chính là các hoạt động: du lịch tham
quan bảo tàng cách mạng, các di tích lịch sử văn hóa (nhà tù Sơn La, Văn bia Quế
Lâm Ngự Chế, Tượng đài chiến thắng Cò Nòi, Di tích cây Me) và tìm hiểu, khám phá
phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc bản địa như Thái , Mông, Mường,
Dao, Tày, KhMú ….
- Du lịch nghỉ dưỡng cần có hướng tập trung phát triển mạnh mẽ hơn nữa loại
hình tắm suối nước nóng tự nhiên.
- Đầu tư phát triển rộng rãi du lịch homstay tại các bản văn hóa của Sơn La.
- Đẩy mạnh phát triển các làng nghề truyền thống như dệt thổ cẩm của người
Thái, Lào…
4.3. Giải pháp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cộng đồng
4.3.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Hiện nay do yêu cầu phát triển ngành, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đã gia
nhập WTO, du lịch Việt Nam đang vươn tới hội nhập với du lịch các nước trong khu
vực và trên thế giới, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong ngành cần
phải được nâng lên để đạt được những chuẩn mực quy định của quốc gia và quốc tế.
Để đáp ứng được yêu cầu trên, Sơn La cần phải có một chương trình đào tạo toàn diện
với những kế hoạch cụ thể về đào tạo mới và đào tạo bổ túc, nâng cao kiến thức và
trình độ nghiệp vụ du lịch của đôi ngũ cán bộ nhân viên hiện đang công tác trong
234
ngành thuộc các khu vực Nhà nước, liên doanh và tư nhân. Những nội dung chính của
một Chương trình đào tạo như trên bao gồm:
- Tiến hành điều tra phân loại trình độ nghiệp vụ của toàn bộ cán bộ nhân viên
và lao động hiện đang công tác và tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trong phạm
trách nhiệm của người dân từ hoạt động du lịch, cách ứng xử của người dân địa
phương với khách du lịch, ngoại ngữ giao tiếp thông dụng với khách quốc tế…
- Thứ hai, thường xuyên mở các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về văn hóa
du lịch cho cộng đồng dân cư.
Nhận thức cơ bản về hoạt động du lịch, những quyền lợi được hưởng sẽ giúp
người dân địa phương từ những em nhỏ đến các cụ già sẽ có trách nhiệm hơn với địa
phương mình, ứng xử phù hợp hơn với du khách, với môi trường và tài nguyên sẵn có.
- Thứ ba, để thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo kiến thức và văn hóa du
lịch đồng bộ và thường xuyên, chính quyền các cấp cần có chủ trương, chính sách
mang tính lâu dài.
- Thứ tư, cần quan tâm hơn đến việc phân bổ nguồn tài chính đầu tư cho hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cộng đồng dân cư, vận động, tuyên truyền
khuyến khích người dân tham gia vào công tác xã hội hóa du lịch, cả cộng đồng địa
phương làm du lịch theo hướng bền vững….
Vấn đề bồi dưỡng kiến thức văn hóa du lịch cho cộng đồng địa phương không
chỉ mang tính chất tuyên truyền mà còn cần phát triển thành một chuyên để nhất định
dạy học tại nhà trường phổ thông góp phần trau dồi kiến thức cho thế hệ trẻ, nâng cao
nhận thức và ý thức trong hoạt động du lịch cho thế hệ trẻ ngay từ khi còn ngồi trên
ghế nhà trường.
3.4. Hỗ trợ vay vốn để đầu tư du lịch
Sơn La là một tỉnh miền núi, đời sống của người dân chủ yếu dựa vào nông
nghiệp, do đó điều kiện kinh tế địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó Sơn
La khá phong phú về tài nguyên du lịch. Vì vậy, muốn khai thác những tài nguyên đó
phục vụ cho phát triển du lịch, thì tỉnh cần có những chính sách thích hợp và một trong
những chính sách đó là hỗ trợ người dân địa phương được vay vốn để đầu tư du lịch.
Cụ thể là:
236
- Để phát triển du lịch homstay, UBND tỉnh cần hỗ trợ các hộ gia đình một số
vốn nhất định để họ xây dựng nhà vệ sinh đảm bảo yêu cầu đón khách trong nước và
lịch đối với đời sống sinh hoạt và sức khỏe cộng đồng. Qua đó sẽ dần được nâng cao
được nhận thức của người dân.
Ngoài ra, có thể tổ chức những buổi sinh hoạt, nói chuyện chuyên đề môi
trường, đặc biệt ở các vùng nông thôn, bản làng dân tộc miền núi.
- Về kinh tế: Đây là giải pháp có tính xã hội cao và có ý nghĩa quan trọng đặc
biệt đối với dân cư ở khu vực có tiềm năng sinh thái du lịch như khu bảo tồn thiên
nhiên Xuân Nha, Sốp Cộp … Việc nâng cao đời sống cộng đồng và tạo công ăn việc
làm của người dân gắn với các hoạt động phát triển du lịch tại các điểm này sẽ là yếu
tố đảm bảo để người dân tham gia tích cực vào việc bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ
môi trường khu vực.
4.6. Giải pháp về quảng bá, xúc tiến phát triển du lịch
Để hoạt động du lịch Sơn La phát triển mạnh cần tăng cường tuyên truyền, giới
thiệu về tiềm năng du lịch trên địa bàn tỉnh Sơn La với du khách trong nước và quốc
tế, cụ thể là:
- Xây dựng chiến lược quảng bá và xúc tiến du lịch, thành lập trang websile
giới thiệu hình ảnh Sơn La. Xây dựng những phim tư liệu giới thiệu các tuyến điểm du
lịch Sơn La.
- Thành lập những văn phòng đại diện về du lịch Sơn La tại các tỉnh thành trong
cả nước.
- Tổ chức những hội nghị, hội thảo quảng bá du lịch Sơn La, khuyến khích các
doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động đầu tư, khai thác và kinh
doanh du lịch.
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa: đăng cai tổ chức các sự kiện văn
hóa, lễ hội, du lịch của khu vực nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc gắn với phát triển
du lịch (Liên hoan ẩm thực các dân tộc, hội chợ văn hóa du lịch và thương mại đầu tư,
hội nghị phát triển du lịch Sơn La …), chú ý phát triển du lịch gắn với cộng đồng.
- Hợp tác khai thác, phát triển du lịch trong khuôn khổ chương trình hợp tác
tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
238
7. Sproule K Community-based ecotourism development. Identifying partners in the
process. YALE bulletin 99 Wildlife Preservation International. 2006