MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……………………………………………… 1
Chương 1: Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực trẻ……………
10
1.1. Nguồn nhân lực trẻ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ…10
1.2 . Đặc điểm và những yếu tố tác động, ảnh hưởng tới chất lượng nguồn
nhân lực trẻ ở nước ta hiện nay…………………………….28
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình Dương………39.
2.1. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế – xã hội ở tỉnh Bình Dương40
2.2.Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình Dương hiện nay
45
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình Dương………………………88
3.1. Quan điểm và phương hướng bồi dưỡng , phát huy nguồn nhân lực tre88
3.2. Một số giải pháp chủ yếu: ……………………32
KẾT LUẬN……………………………………………123
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………126
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
văn hoá với các nước qua chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Cùng với một
số tỉnh, thành phố phát triển mạnh trong cả nước, Bình Dương đang là trọng
điểm phát triển kinh tế với nhiều khu công nghiệp có quy mô lớn được xây dựng
và đi vào hoạt động có hiệu quả, đồng thời còn nhiều dự án đang bắt đầu thực
thi. Chính vì vậy, có thể nói Bình Dương đang là một trong những trung tâm
kinh tế, văn hoá, khoa học lớn của đất nước, một trong những lá cờ đầu của đổi
mới kinh tế đang đóng góp tích cực vào sự phát triển đất nước. Cũng do đó, nhu
cầu phát triển nguồn nhân lực ở Bình Dương trở nên bức xúc, cần phải nghiên
cứu những vấn đề lý luận và tìm tòi những giải pháp thực tiễn để phát triển
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trẻ
Nghiên cứu nguồn nhân lực dựa trên cơ sở lý luận triết học là vấn đề con
người và phát huy vai trò nhân tố con người trong chủ nghĩa xã hội, được hình
dung cụ thể trong lĩnh vực lao động, quản lý xã hội, chính sách và cơ chế hoạt
động của chính sách đó. Trên phương diện này, việc nghiên cứu di sản tư tưởng
của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí
Minh trở nên rất cần thiết. Nguồn lực con người được phát huy không chỉ là
động lực trực tiếp mà còn là mục tiêu của đổi mới ở nước ta. Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VIII ( 1996) đã xác định : “ Lấy việc phát huy nguồn lực con
người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”. Vấn đề đặt ra
là làm thế nào để con người có được vai trò và bằng cách nào để phát huy được
vai trò nhân tố con người cho mục tiêu phát triển trên. Đó là câu hỏi lớn đã và
đang đặt ra đòi hỏi tìm lời giải đáp.
Hiện nay, ở nước ta nói chung và Bình Dương nói riêng đang đứng trước
mâu thuẫn rất lớn, đó là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi chất lượng nguồn
3
nhân lực cao, nhất là nguồn nhân lực trẻ. Nhưng hiện trạng chất lượng nguồn
nhân lực nước ta còn thấp, số lao động có chuyên môn được đào tạo rất ít, đa số
cứu, đặc biệt là phải gắn nghiên cứu con người với nghiên cứu văn hoá nhằm
mục đích thực tiễn là xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng và phát
triển nhân tài đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến phương hướng phát triển nguồn
nhân lực. Chẳng hạn, với đề tài “ Nghiên cứu nguồn nhân lực với phương pháp
tiếp cận trong điều kiện mới”, Nghiên cứu con người: đối tượng và phương
hướng chủ yếu, Niên giám nghiên cứu số 1, GS. Nguyễn Minh Đường cho rằng
vấn đề phát triển nguồn nhân lực cần được nghiên cứu trên quan điểm hệ thống,
cần được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng
thời cần tạo ra môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển. Trong chuyên
đề “Để có nguồn nhân lực cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong
thế kỷ XXI”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Hà Nội, 2003, GS.TS. Nguyễn Trọng
Chuẩn đã phân tích đặc điểm bước chuyển của thế giới từ kinh tế công nghiệp
sang kinh tế tri thức, tác giả nhấn mạnh “ công cuộc phát triển đất nước
đang đòi hỏi chúng ta có một tư duy mới, một cách làm mới và trước hết cần
phải chuẩn bị tốt một nguồn nhân lực mới. Nguồn nhân lực đó vừa phải đáp ứng
các nhu cầu của công cuộc chuyển đất nước sang nước công nghiệp hiện đại, lại
vừa phải từng bước đi dần vào kinh tế tri thức…”. Cũng trong kỷ yếu hội thảo
quốc tế, Hà Nội, 2003, với chuyên đề “ Nghiên cứu nguồn nhân lực ở Việt Nam:
khía cạnh kinh tế và văn hoá”, TS. Phạm Văn Đức cho rằng để tìm ra những
giải pháp khai thác và sử dụng nó một cách có hiệu quả, cần tiến hành nghiên
cứu nguồn nhân lực trong tính chiûnh thể trên các lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật lẫn
khía cạnh văn hoá – xã hội.
5
Trên nền chung của những nghiên cứu về con người và nguồn nhân lực, đã
có những tác giả đi sâu nghiên cứu về thanh niên. Trong những năm gần đây, đã
khả năng, triển vọng, phương hướng và những giải pháp chủ yếu để phát triển
nguồn lực thanh niên đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…
Bên cạnh đó, cũng có những luận văn thạc sỹ đã đề cập đến sự phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta nói chung cũng như ở một số địa phương nói riêng như: “ Xu
hướng và giải pháp phát triển nguồn lực con người ở nước ta trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá” – Luận văn thạc sỹ triết học của Nguyễn Thị
Hồng Văn ( 1998); “ Phát triển nguồn lực con người trong công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”- Luận văn thạc sỹ triết học của
Nguyễn Phước Trọng ( 1998)….
Tuy nhiên các công trình trên cũng còn ít, hơn nữa những khuyến nghị về
giải pháp và chính sách phát huy vai trò nguồn lực con người cần phải được
nghiên cứu sâu hơn, nhất là những công trình nghiên cứu trực tiếp về nguồn
nhân lực và nguồn nhân lực trẻ ở Bình Dương. Do đó, bằng sự cố gắng bước
đầu, qua phân tích thực trạng của việc bồi dưỡng, phát huy nguồn nhân lực trẻ ở
tỉnh, tác giả luận văn này đề xuất những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực ở tỉnh Bình Dương trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 - Mục tiêu :
Trên cơ sở làm sáng tỏ quan niệm về nguồn nhân lực trẻ, những yếu tố tác
động và ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nhân lực trẻ, luận văn tập trung đánh
giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình Dương hiện nay và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình
Dương trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.2 . Nhiệm vụ nghiên cứu:
7
Để đạt mục tiêu đề ra, luận văn hướng vào giải quyết nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về chất lượng nguồn nhân lực và
- Góp phần hệ thống hoá các thành quả nghiên cứu lý luận của những người
đi trước về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trẻ.
- Góp phần xác định những giải pháp, đặc biệt là giải pháp về giáo dục –
đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao nguồn nhân lực trẻ ở tỉnh Bình Dương trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Những kết quả nghiên cứu đạt được của luận văn cung cấp một tài liệu
tham khảo cho việc giảng dạy môn chủ nghĩa xã hội khoa học ở các trường cao
đẳng, đại học và dạy nghề…
- Luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý các
cơ quan ban ngành ở tỉnh Bình Dương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của
mình. Đồng thời có thể tham khảo cho việc nghiên cứu đề xuất chiến lược về bồi
dưỡng, phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở tỉnh nhà.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 6 tiết.
9
Chƣơng 1
NGUỒN NHÂN LỰC
VÀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ
1.1. Nguồn nhân lực trẻ và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trẻ.
1.1.1. Nguồn nhân lực trong hệ thống các nguồn lực của phát triển.
Trong nhiều năm trở lại đây vấn đề nguồn lực phát triển của một quốc gia,
chủ nhiệm), cho rằng, nguồn lực con người được hiểu là dân số và chất lượng
con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và
phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc…[37,tr.328]. Có ý kiến khác nêu ra
rằng, nguồn lực con người không chỉ là lực lượng lao động hay nguồn lao động,
mà là một tập hợp các yếu tố ( thể lực, trí lực, tâm lực…) của mỗi cá nhân và của
cả cộng đồng tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát triển xã hội. Theo đó, “ nguồn
lực con người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con
người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội .[ 51.
tr.33]
Từ những quan niệm nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người không
chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là một phức hợp
gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người. Ngoài ra
cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua tìm hiểu khái
niệm “ phát triển nguồn nhân lực”. Nếu dịch từ cụm từ tiếng Anh thì phát triển
nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con người là Human Resouce
Devolopment ( HRD), còn phát triển con người nói chung là Human
Devolopment( HD). Trong khái niệm về phát triển con người ( HD), nguồn lực
con người được đề cập đến như một mục tiêu của sự phát triển kinh tế – xã hội,
11
như là chỉ tiêu về thành tựu kinh tế của dân tộc. Ngược lại, phát triển nguồn lực
con người ( HRD) có xu hướng tập trung vào các hoạt động, nhằm nâng cao khả
năng thực hiện các vai trò sản xuất của con người như trí tuệ, kỹ năng làm việc,
khả năng tổ chức lãnh đạo và quản lý…
Các quan niệm về nguồn lực con người như đã nêu trên tuy khác nhau về
ngôn từ và cách thể hiện, nhưng nhìn chung đều đề cập đến yếu tố tinh thần của
con người, phản ánh thể lực, trí lực và những phẩm chất tinh thần khác ( tâm
lực) ở con người, nhờ đó tạo ra sức mạnh với tư cách là một nguồn lực của sự
nguồn lực khác và gắn các nguồn lực khác lại với nhau, tạo thành nguồn sức
mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá .
Thứ hai, so với các nguồn lực khác, chỉ có nguồn lực con người mà cốt lõi
là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, còn các nguồn lực khác đều hữu
hạn. Tính vô hạn của trí tuệ con người được biểu hiện ở chỗ nó có khả năng
không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổi mới không ngừng, phát
triển về chất trong con người xã hội, nếu biết chăm lo nuôi dưỡng và khai thác
nguồn lực con người một cách hợp lý, trong khi đó các nguồn lực khác có thể bị
khai thác cạn kiệt. Nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler đã nhận định “ tri
thức có tính chất lấy không bao giờ hết” [79, tr.41].
Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh áp đảo so với các nguồn lực khác
một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Sự phát triển
như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh
tế thế giới vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Ở những nước công nghiệp phát
triển, lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỷ lệ cao, yếu tố tri thức chiếm tới 65%
giá thành sản xuất và 35% giá trị sản phẩm. Giờ đây, sức mạnh của trí tuệ đạt
đến mức, nhờ nó con người có thể sáng tạo những máy móc “bắt chước” hay
“phỏng” theo những đặc tính trí tuệ của chính con người. Sức mạnh to lớn của trí
13
tuệ con người đã làm thay đổi thang giá trị của các loại tài nguyên, các loại
nguồn lực, và ngày nay đối tượng khai thác đang được chuyển vào chính bản
thân con người. Nói cách khác, trong điều kiện ngày nay, trí tuệ con người giữ
vai trò quyết định sức mạnh của mỗi quốc gia, nó là tài nguyên của mọi tài
nguyên.
Thứ tư, con người với tất cả năng lực và phẩm chất tích cực của mình, bao
gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động sáng tạo, niềm tin và ý chí…,
thì tự mình có thể trở thành động lực của sự phát triển xã hội nói chung. Đối với
Theo cách tiếp cận như vậy, quan niệm về nguồn nhân lực không đồng nhất
với nguồn lực. Dưới dạng tổng quát, nguồn lực được hiểu là một hệ thống các
nhân tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ có khả năng góp phần thúc đẩy
quá trình cải biến xã hội của một quốc gia dân tộc. Còn nguồn nhân lực được
xem xét trên hai bình diện : “ số lượng ( số dân) và chất lượng con người, bao
gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”
[36,tr.4], “ là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức
mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội”
[30,tr. 9]. Nói cách khác, “ đó là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng
sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con
người” [2, tr.14]. Phương diện cá thể của nguồn nhân lực được hiểu là những yếu
tố tạo thành cơ sở của hoạt động và cơ sở để phát triển của một con người với tư
cách là một cá nhân và trong tính chỉnh thể của đời sống xã hội khi những nhu
cầu sống của nó bộc lộ ra và được thực hiện. Đó là sự lành mạnh về thể lực, thể
chất, tức là sức khoẻ đảm bảo cho con người phát triển , trưởng thành một cách
bình thường hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí các sức lực
thần kinh, bắp thịt trong lao động với những đặc thù nghề nghiệp khác nhau, ở
những con người khác nhau. Những chỉ số này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mức
15
sống, điều kiện ăn , ở, làm việc, nghỉ ngơi, chữa bệnh mà xã hội đáp ứng cho
người lao động.
Nói thể lực là nói đến sức khoẻ, đây được coi là nguồn gốc của hạnh phúc,
tài sản của mỗi con người, mỗi quốc gia, là mục tiêu động lực chính để phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội, là sức mạnh để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trí lực là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực học vấn, văn hoá
tinh thần của con người. Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con
người. Bởi vì, “ tất cả những gì thúc đẩy con người hành động đều tất yếu phải
cách bảo đảm cho con người thực hiện tốt chức năng xã hội của nó; phản ánh
khả năng sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn xã hội của nó. Do đó,
giáo dục – đào tạo phải theo hướng cân đối giữa dạy chữ, dạy nghề và dạy
người, trong đó dạy người là mục tiêu cao nhất.
Theo ý nghĩa đó, nguồn lực con người bao chứa trong đó toàn bộ sự phong
phú, sự sâu sắc, sự đổi mới thường xuyên các năng lực trí tuệ, năng lực thực
hành, tổ chức và quản lý, năng lực chuyên môn và tính tháo vát trong công việc.
Nói cách khác, nguồn lực con người là một tập hợp các chỉ số phát triển con
người. Đó là tất cả những gì thuộc về hành trang mà nó có được nhờ sự hỗ trợ
của cộng đồng xã hội và sự chuẩn bị chủ động, tích cực của bản thân nó để bước
vào cuộc sống lao động sáng tạo vì sự tiến bộ và phát triển. Điều đó cũng được
xác định đối với nguồn lực con người trong phạm vi và trên qui mô toàn xã hội.
1.1.3. Chất lượng nguồn nhân lực. Quan niệm về nguồn nhân lực trẻ, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá.
Chất lượng nguồn nhân lực
Nói chất lượng nguồn nhân lực, trước hết phải nói đến chất lượng phát triển
con người.
17
Con người tồn tại trong xã hội, nhưng nhân tố người, vai trò trung tâm và
quyết định của nó lại không tự nhiên có mà phải tạo nên, phải được phát triển.
Con người luôn luôn là nhân tố hàng đầu trong các nhân tố tham dự vào phát
triển, bằng hoạt động và giao lưu của mình, thông qua giáo dục, con người được
phát triển . Sự phát triển người là sự phát triển về thể xác và tinh thần, tích tụ
tiềm năng, phát triển năng lực, kỹ xảo,…, là sự phát triển ở các cấp độ. Nó bao
hàm tất cả mọi sự lựa chọn của con người trong xã hội ở mọi giai đoạn phát triển
. Nó quan tâm đến sự tăng trưởng kinh tế, đến việc phân phối thu nhập, đến
nghĩa duy nhất có thể chấp nhận được đối với mục tiêu chung của chúng ta. Nó
phải trước hết cho phép làm thức dậy toàn bộ tiềm năng của kẻ vừa là vai diễn
đầu tiên, vừa là kẻ hưởng thụ cuối cùng của nó: đó là con người”. Mục tiêu của
sự phát triển con người có nghĩa là tạo cho con người một cuộc sống lâu dài,
khoẻ mạnh và có tính sáng tạo. Do vậy, có thể nói, nội dung, mục tiêu của sự
phát triển con người chính là chất lượng phát triển con người, cụ thể hơn đó là
nâng cao chất lượng cuộc sống của con người.
Về chất lượng cuộc sống của con người, GS. Phạm Minh Hạc đã nêu ra các
tiêu chí:
1. Thu nhập cao
2. Giáo dục tốt
3. Chuẩn cao về sức khoẻ và dinh dưỡng
4. Ít nghèo khổ
5. Môi trường trong sạch
6. Bình đẳng hơn về cơ hội
7. Cá nhân tự do hơn
8. Cuộc sống văn hoá phong phú hơn [35, tr. 60]
19
Chất lượng phát triển con người, đó là “ phát triển con người toàn diện
trong sự phát huy cá nhân con người, trên bình diện tinh thần đạo đức, vật chất.
Quá trình phát triển người phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của những giá trị
nhân văn, nhân đạo. Nguyên tắc nhân văn, nhân đạo chỉ đạo con đường phát
triển. Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh
thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất” [66,tr. 25-26 ]. Phát triển người
chính là phát triển đạo đức và phát triển trí tuệ, tay nghề. Đây là những yếu tố
không thể tách rời nhau.
Như vậy, “ Phát triển người là phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận
vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình trong xã hội. Tuy vậy, thanh niên còn có
những hạn chế nhất định, bên cạnh sự mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm, là tính
bồng bột, thiếu kinh nghiệm, thậm chí hay liều lĩnh… có sự tiềm ẩn những khả
năng to lớn, những yếu tố tích cực và tiêu cực đan xen trong mỗi thanh niên.
Nhìn từ góc độ này, có thể thấy một mâu thuẫn trong sự phát triển của thanh niên
là con người sinh lý phát triển và hoàn chỉnh nhanh hơn con người xã hội. Đó là
mâu thuẫn của quá trình tự phát triển trong bản thân họ với những phẩm chất xã
hội chưa chín muồi. Để giải quyết tốt mối quan hệ này thì giáo dục và hướng dẫn
có vai trò đặc biệt quan trọng. Quan điểm chỉ đạo giáo dục và hướng dẫn ở đây
là phải chú ý đáp ứng những nhu cầu hợp lý về tồn tại và các hoạt động mang
tính đặc thù về lứa tuổi, giới tính, ăn, mặc, tình yêu, tình bạn… [ 64, tr.34].
Thứ hai, thanh niên như một thế hệ có quan hệ mật thiết với các thế hệ trong
cộng đồng xã hội, thừa hưởng những di sản của quá khứ và hiện tại. Các tiêu chí
xác định sự phát triển của thanh niên là: thể lực, học vấn, lối sống, hành vi và
hoạt động. Căn cứ vào đó, người ta có thể xác định và đánh giá thanh niên trong
hiện tại và tương lai.
21
Thế hệ trẻ cũng mang những đặc trưng riêng: khao khát lý tưởng, hướng tới
các giá trị xã hội nhưng lại chưa đủ kinh nghiệm và sự từng trải để có cách suy
xét, đánh giá các giá trị, lựa chọn giá trị theo tinh thần duy lý. Những con người
đang trưởng thành này sống nặng về tình cảm hơn lý trí. Họ là nhóm dân cư có
trình độ học vấn tương đối cao, năng động, nhạy cảm nên dễ dàng tiếp nhận và
hội nhập vào cái mới. Thanh niên có đặc điểm hay di chuyển sự chú ý, thay đổi
hứng thú, sở thích, dễ dàng tiếp thu hệ tư tưởng này hoặc hệ tư tưởng khác, kể cả
tích cực và tiêu cực. Sự nhạy cảm, xúc cảm trực tiếp mạnh hơn và đi trước năng
lực phân tích bằng lý trí, khoa học về mọi vấn đề của cuộc sống và bản chất của
con người xã hội.Vì vậy, có thể dẫn họ đến những mâu thuẫn, xung đột thế hệ về
cầu, nguyện vọng khác nhau. Số lượng của mỗi nhóm xã hội thanh niên trong cơ
cấu dân số và lao động xã hội cũng như trong bản thân cơ cấu lực lượng thanh
niên cũng rất khác nhau. Điều đó phản ánh trình độ phát triển của mỗi quốc gia
và xã hội, bởi cơ cấu đó phần nào do ảnh hưởng và tác động của sự phát triển
của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Ở nước ta hiện nay trong quá
trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, số lượng thanh niên công nhân có
tăng lên đáng kể, song số lượng thanh niên nông thôn vẫn còn chiếm tỉ lệ cao. Vì
vậy trong chính sách hoạch định về thanh niên, xây dựng các chương trình, dự án
phát triển thanh niên, phát triển nguồn lực thanh niên, cần chú ý hướng về nông
thôn và xuất phát từ sự nhận thức đầy đủ những đặc diểm của thanh niên như đã
nói trên.
Nguồn lực thanh niên trong sự phát triển xã hội
Nếu con người là nguồn lực lớn nhất của sự phát triển xã hội, thì thanh niên
là bộ phận ưu tú, khởi sắc nhất cấu thành nguồn lực ấy. Với tư cách là lớp người
trẻ tuổi trong mỗi cộng đồng, một lực lượng chiếm số đông trong dân cư, thanh
23
niên trở thành vấn đề lớn của mỗi quốc gia dân tộc, là vấn đề mang tính thời đại
của nhân loại.
Kết quả phân tích số liệu thống kê cho thấy thanh niên là lực lượng lao động
chủ yếu trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt tập trung ở
những ngành lao động phức tạp, nặng nhọc, nơi khó khăn gian khổ, đòi hỏi sức
trẻ như khai thác hầm mỏ, xây dựng, trên các công trình trọng điểm của nhà
nước, các công trình thuỷ lợi, lao động ở các nông, lâm trường v.v… Dù ở đâu,
trên địa bàn nào, thanh niên đều là lực lượng tích cực, đi đầu trong việc phát huy
sáng kiến, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đóng góp tích
cực cho sự thành công của nhiều công trình lớn có yêu cầu kỹ thuật cao như
trong các ngành quốc phòng, bưu chính viễn thông, điện lực, xây dựng, giao
một bộ phận quan trọng của nguồn lực con người nói chung. Đó là nguồn tài sản
vô giá của đất nước hôm nay và mai sau.
Bước vào thế kỷ XXI, chất xám đã dần trở thành một nguồn lực quan trọng
của xã hội. Thanh niên với ưu thế về sức khoẻ( thể lực), phẩm chất tâm lý( tư
duy, trí nhớ, khí chất…) và trình độ chuyên môn kỹ thuật- văn hoá,v.v… sẽ là
nguồn lực tốt nhất có thể đáp ứng được sự biến đổi của nội dung và tính chất của
lao động dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ ( thay đổi nghề, hoặc tiếp
cận với công nghệ mới, kỹ thuật cao). Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước ngày càng đi vào chiều sâu và phát triển theo định hướng xã hội chủ
nghĩa càng cần đến lớp thanh niên với tư cách là nguồn nhân lực hết sức quan
trọng cho hiện tại và tương lai của đất nước.
1.2. Đặc điểm và những yếu tố tác động, ảnh hƣởng tới chất lƣợng
nguồn nhân lực trẻ ở nƣớc ta hiện nay.
1.2.1. Đặc điểm nguồn nhân lực trẻ.