Thực hiện và phát huy chức năng giáo dục trẻ em của gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HOÀNG THU THẢO

THỰC HIỆN VÀ PHÁT HUY CHỨC NĂNG
GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH NÔNG DÂN
Ở HUYỆN HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. NGÔ NGỌC THẮNG

tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới 37
2.2. Việc thực hiện chức năng giáo dục trẻ em của gia đình nông dân ở huyện
Hoa Lư và nguyên nhân 39
2.2.1. Thực trạng 39
2.2.2. Nguyên nhân 53
2.3. Những vấn đề đặt ra việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình
nông dân ở huyện Hoa Lư 59
2.3.1. Xu hướng tích cực 60
2.3.2. Xu hướng tiêu cực 65
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY
CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH NÔNG DÂN
Ở HUYỆN HOA LƢ, TỈNH NINH BÌNH 68
3.1. Phương hướng 68
3.1.1. Nhà nước cần có chiến lược toàn diện về gia đình, đặt giáo dục gia
đình nông dân trong chiến lược giáo dục - đào tạo quốc gia 68
3.1.2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nông thôn để tăng cường cơ
sở vật chất kĩ thuật và các ngành dịch vụ, góp phần tích cực để giáo dục
trẻ em trong các gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình 72
3.1.3. Giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội phải có sự hợp tác chặt chẽ
hơn 74
3.2. Các nhóm giải pháp cơ bản 76
3.2.1. Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội 76
3.2.2. Nhóm giải pháp về đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo
dục gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình 86
3.2.3. Xây dựng văn hóa lành mạnh ở nông thôn, xây dựng gia đình văn hóa
mới 91
3.3.4. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, Đảng, chính quyền và các tổ
chức chính trị ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để kết hợp giáo dục gia
đình nông dân với giáo dục nhà trường và xã hội 95
3.3.5. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về gia đình nông dân 96

hòa nhập vào cộng đồng xã hội.
Gia đình đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau, trong đó có chức năng
giáo dục. Gia đình chính là môi trường giáo dục đầu tiên và có tầm quan trọng
quyết định đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ em. Việc thực
hiện chức năng này của gia đình có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện với mỗi cá

2
nhân trong suốt cuộc đời. Giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội chỉ phát huy
được vai trò khi lấy giáo dục gia đình làm cơ sở.
Nhiều nước trên thế giới sau một thời gian theo đuổi các mục tiêu kinh tế,
hiện nay muốn quay lại tìm kiếm những giá trị nhân văn vốn có của gia đình.
Đối với Việt Nam, cụ Phan Bội Châu từng cho rằng:
“Nước là một cái nhà lớn và nhà là một cái nước nhỏ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thì khẳng định:
“Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới
thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Hạt nhân của xã hội là gia đình. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp thì
phải chú ý hạt nhân gia đình cho tốt”.
Thực hiện lời dạy của Người, chúng ta luôn đề cao vai trò của gia đình
trong mối quan hệ với xã hội. Dù cho xã hội luôn luôn có sự biến động phức
tạp nhưng những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình vẫn được giữ gìn,
kế thừa và phát huy; đặc biệt là trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa đang
diễn ra mạnh mẽ tạo nhiều cơ hội cho các gia đình phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống, tiếp thu yếu tố của gia đình hiện đại.
Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường, các luồng văn hóa phẩm độc
hại, sự bùng nổ thông tin… trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ diễn
ra với tốc độ nhanh như vũ bão, làm thay đổi không chỉ diện mạo của thế giới
mà ngay bản thân mỗi thành viên trong gia đình cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Vì
vậy, việc giáo dục trẻ em một cách toàn diện cả về đức - trí - thể - mỹ là yêu
cầu bức thiết hiện nay. Muốn làm được điều này thì một trong những vấn đề

cô-va giới thiệu với bạn đọc một gia đình tuyệt vời. Vẻ đẹp của mối quan hệ
giữa những con người trong gia đình đó là một tấm gương không bao giờ phai
mờ cho các gia đình mai sau. Tình cảm sâu sắc của một tình yêu chung thủy,
tình cảm gắn bó giữa vợ với chồng, sự âu yếm và tôn trọng lẫn nhau giữa bố
mẹ và các con. Đó là vẻ đẹp mà các mối quan hệ trong gia đình Mác đã thể

4
hiện. Không khí gia đình thật là đẹp đã ảnh hưởng tới sự hình thành tâm hồn
trẻ thơ. Kinh nghiệm giáo dục trẻ em của gia đình Mác là một kho tàng kiến
thức về sư phạm mà các bậc cha mẹ và các nhà sư phạm ngày nay vẫn cần
phải khai thác và khai thác mãi mãi.
Ma-ca-ren-cô là nhà giáo dục nổi tiếng của Xô viết trước đây đã dành
nhiều tâm huyết, năng lực và tình yêu dành cho con trẻ. Trong cuốn sách “Nói
chuyện về giáo dục gia đình”, ông cho rằng giáo dục con trẻ là việc làm lý
thú, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho gia đình, nó không khó khăn ghê gớm
như nhiều người lầm tưởng. Theo ông, các bậc cha mẹ phải có tình yêu, trách
nhiệm và kiến thức ; giáo dục gia đình phải tiến hành ngay từ đầu. Những
nguyên lý giáo dục cũng như kinh nghiệm thực tiễn của Ma-ca-ren-cô cho đến
ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Cuốn sách “Dạy con yêu lao động” của A-pê-sec-ni-cô-va có tư tưởng
cơ bản là giáo dục gia đình thông qua lao động bởi chỉ có như vậy thì nhân
cách của con người mới được hình thành và phát triển toàn diện. Giáo dục nói
chung, giáo dục con cái yêu lao động nói riêng phải được bắt đầu từ nhỏ và
tiến hành suốt cuộc đời.
Ở nước ta cũng như nhiều thiết chế xã hội khác, gia đình Việt Nam
hiện nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới cần được tiếp tục
nghiên cứu và lý giải sâu sắc hơn.
Đề tài cấp Nhà nước KX - 07 - 09: “Vai trò của gia đình trong sự hình
thành phát triển nhân cách con người Việt Nam” của Trung tâm nghiên cứu
về gia đình và phụ nữ do GS Lê Thi chủ nhiệm. Tập thể tác giả của công trình

vấn đề cần được quan tâm.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích: Trên cơ sở làm rõ chức năng giáo dục của gia đình nói
chung, gia đình nông dân nói riêng, luận văn làm rõ việc thực hiện chức năng

6
này ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình để đưa ra những phương hướng, giải pháp
cơ bản nhằm thực hiện tốt vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
* Nhiệm vụ:
+ Làm rõ các khái niệm: Gia đình, trẻ em, chức năng giáo dục của gia
đình, gia đình nông dân, chức năng giáo dục của gia đình nông dân đối với
trẻ em.
+ Phân tích nguyên nhân cơ bản của thực trạng và những vấn đề đặt ra
cần được giải quyết.
+ Đề xuất một số phương hướng, giải pháp để các gia đình nông dân ở
huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình thực hiện chức năng giáo dục đối với trẻ em
được tốt hơn.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài chủ yếu tập trung vào việc thực hiện chức năng giáo dục của
gia đình nông dân đối với trẻ em ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
- Đề tài chỉ nghiên cứu trong thời gian từ năm 1986 đến nay.
- Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về vấn đề gia đình và giáo dục gia đình.
Chủ trương, chính sách của địa phương về việc thực hiện chức năng
giáo dục của gia đình nông dân.
6. Đóng góp của luận văn
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Cung cấp cứ liệu khoa học để trên cơ sở đó, huyện Hoa Lư tỉnh Ninh
8
Chƣơng 1
GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH

1.1. Khái niệm gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình
1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là tổ ấm của con người, là tế bào của xã hội. Con người từ xa
xưa cho đến nay đều mơ ước có một tổ ấm để sống đời sống cá nhân của
mình và rồi, từ cái tổ ấm này, từ cái tế bào lành mạnh này mà đóng góp tích
cực vào xã hội. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà tư tưởng,
nhà khoa học cũng như các triết gia, các nhà xã hội học… quan tâm nghiên
cứu về gia đình. Vậy gia đình là gì ? Để trả lời cho câu hỏi này cho đến hiện
nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau bởi đây là một phạm trù rộng, không
ngừng biến đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội.
Trong thời đại của mình, C.Mác cho rằng gia đình là tổ chức đặc biệt
quan trọng để duy trì nòi giống, các thành viên của gia đình có mối quan hệ
tình cảm ruột thịt với nhau. Điều này được thể hiện rõ nét khi ông quan niệm:
“Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra
những người khác, sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ
và con cái, đó là gia đình”.
Liên hiệp quốc gắn gia đình trong mối quan hệ mật thiết với xã hội. Tổ
chức này xác định: “Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội, có
quyền hưởng sự bảo vệ của xã hội và của Nhà nước”. Trên cơ sở đó, Liên
hiệp quốc cũng lưu ý đến khía cạnh cộng đồng về kinh tế của gia đình khi đưa
ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống
chung và có ngân sách chung”.
Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn dưới góc độ Luật học xem xét gia đình là
một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân, về huyết thống và về nuôi

hệ gắn bó giữa các anh chị em ruột với nhau.

10
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa chủ thể nuôi dưỡng và đối tượng
được nuôi dưỡng. Họ gắn bó với nhau không chỉ vì trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền lợi được pháp luật thừa nhận, bảo vệ, mà cao hơn cả là tình thương
yêu, sự chăm sóc, đùm bọc, sẻ chia những vui buồn trong cuộc sống.
Có lẽ, nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa gia đình nói riêng
còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu thêm. Nhìn nhận gia đình từ phương diện của
chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, theo chúng tôi, gia đình là một
cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi các mối
quan hệ cơ bản là hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Các thành viên của gia
đình có những giá trị vật chất, tinh thần chung, gắn bó với nhau bởi trách
nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ nhằm mục tiêu cao nhất là nuôi dưỡng các thành
viên, xây dựng gia đình bền chặt, phát triển kinh tế gia đình.
Trên cơ sở quan niệm chung về gia đình, khái niệm gia đình nông dân
cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất. Theo chúng tôi, gia đình nông
dân trước hết là gia đình có đời sống phải dựa vào kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu, theo đó, các thành viên của gia đình chủ yếu là giai cấp nông dân. Đây là
một thiết chế xã hội đặc thù ở nông thôn.
1.1.2. Chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình được sinh ra, tồn tại và phát triển vì nó có sứ mệnh đảm
đương những chức năng đặc biệt mà tự nhiên và xã hội giao cho, không một
thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Các chức năng của gia đình tồn tại
trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên con người, xã hội
hóa con người. Gia đình là một tổ chức có nhiều chức năng khác nhau, có thể
khái quát bốn chức năng cơ bản nhất như sau :
Thứ nhất: Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng cơ bản và riêng có của gia đình. Nó đáp ứng nhu cầu
tâm sinh lý, tình cảm của con người nói chung và các thành viên trong gia đình

đình đã nhận thức được sự cần thiết của chính sách dân số - kế hoạch hóa gia

12
đình để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện nuôi dạy con cái tốt
hơn; vẫn còn không ít gia đình quan niệm nhà đông con mới có phúc (Trời
sinh voi, trời sinh cỏ), trọng nam khinh nữ (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết
vô)… Đây là một trong những nguyên nhân gây ra nghèo đói, suy dinh dưỡng
ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em sống ở nông thôn, kéo theo tình trạng thất học, mù
chữ, trình độ dân trí thấp. Vì vậy, yêu cầu cấp bách là giảm tỉ lệ sinh đẻ, thực
hiện kế hoạch hóa gia đình nhằm ổn định dân số phù hợp với mức tăng trưởng
kinh tế cũng như những điều kiện khác của đất nước trong hoàn cảnh hiện tại,
trong tương lai gần.
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa
học công nghệ, một mặt, thế hệ trẻ được quan tâm chăm sóc tốt hơn với sự hỗ
trợ của các thiết bị hiện đại nhưng mặt khác, nó đang mở ra một xu hướng
mới cho việc sinh sản bằng phương thức nhân bản con người. Mặc dù vậy, xu
thế tái sản xuất ra con người trong môi trường gia đình vẫn luôn luôn được xã
hội ghi nhận, được dư luận đồng tình.
Đảng và Nhà nước ta xác định nghèo đói, lạc hậu và gia tăng dân số có
mối quan hệ khăng khít với nhau theo tỷ lệ thuận.Một chiến lược dân số hợp
lý sẽ là động lực để tạo ra nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội. Xuất phát từ điều này, Đảng, Nhà nước trong khi đưa
ra và thực hiện đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luôn chú
trọng đến hoạch định, thực hiện chiến lược tuyên truyền vận động về dân số.
Cuộc vận động xã hội này đã được thể chế hóa thành luật, thể hiện trong Điều
2 - luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó, người dân được tuyên truyền những
kiến thức cần thiết để sinh con sao cho phù hợp với sức khỏe, điều kiện gia
đình cũng như yêu cầu của xã hội. Chức năng sinh đẻ từ một quá trình tự
nhiên chuyển sang quá trình tự giác. Trước đây, chức năng sinh đẻ và nhu cầu
tình dục là không thể tách rời còn ngày nay, với những thành tựu của y học


14
Với điều kiện hiện nay của nước ta, gia đình còn là đơn vị dịch vụ tiêu
thụ. Việc tiêu dùng này thường phụ thuộc phần lớn vào thu nhập và đóng góp
chung từ kết quả lao động của các thành viên khi tham gia vào sản xuất. Xã
hội càng phát triển thì hoạt động chi tiêu, mua sắm các trang thiết bị phục vụ
cuộc sống càng đa dạng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng.
Thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ là một trong những tiền đề vật chất
vững chắc để tổ chức đời sống của gia đình, làm cho gia đình có những đóng
góp nhất định vào việc tái sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Tổ chức đời sống gia đình cũng là việc làm quan trọng vì nó hướng vào
chăm lo đời sống mọi mặt của các thành viên, là điều kiện quan trọng cho các
thành viên yên tâm, phấn khởi, tích cực tham gia lao động, học tập ; người già
được nghỉ ngơi, phụng dưỡng; trẻ nhỏ được nuôi dưỡng, giáo dục, có điều kiện
phát triển toàn diện, góp phần làm cho gia đình mình trở thành tổ ấm, thành cái
nôi hình thành nhân cách cũng như nhận thức, tình cảm của con người.
Dân gian có câu: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Ngoài ra, ông cha ta
còn đúc rút nhiều kinh nghiệm khác nhau từ cuộc sống sinh hoạt của gia đình,
khuyên mỗi thành viên cần biết quán xuyến, tổ chức tốt mức tiêu dùng sao
cho hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao để từng gia đình sớm ổn định và nâng
cao đời sống, góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng vững bước đi lên.
Mặt khác, mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là phát triển kinh tế gắn với
thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện,
các thành viên trong gia đình được hưởng thụ hợp lý và chính đáng những
thành quả lao động mà mình làm ra. Động viên các gia đình phát triển kinh tế,
nâng cao thu nhập nhằm thỏa mãn các yêu cầu tiêu dùng lành mạnh để nâng
cao chất lượng cuộc sống là mục tiêu phấn đấu của sự nghiệp xây dựng Chủ
nghĩa xã hội. Để làm được điều này, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn
nữa đến gia đình - tế bào của xã hội, trước hết, mỗi thành viên của gia đình


16
nhiều nội dung phong phú. Trong đó, cha mẹ dạy con các chuẩn mực đạo đức,
tình yêu thương con người, lòng biết ơn, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu
lao động, cách đối nhân xử thế, ý thức chấp hành pháp luật…
Phương pháp giáo dục của gia đình cũng rất đa dạng, chủ yếu là
phương pháp nêu gương, thuyết phục, chịu ảnh hưởng không ít của tư tưởng,
lối sống, tâm lý, gia phong của gia đình truyền thống. Nuôi dưỡng, giáo dục
gia đình mang tính cá biệt đậm nét vì nó giáo dục thông qua tình cảm. Trong
khi giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội không phân biệt sức khỏe, hoàn cảnh
sống… thì giáo dục gia đình lại tính đến tất cả các yếu tố cụ thể của đối tượng
giáo dục bởi đó là môi trường đầu tiên giúp con người lớn lên, hình thành
nhân cách ban đầu cũng như những suy nghĩ đầu đời về cuộc sống. Các cụ
thường nói “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy” là vì vậy. Văn hóa gia đình in dấu ấn
đậm nét vào tâm hồn cũng như đời sống của cá nhân.
Đời người phần lớn là sống trong môi trường gia đình để được hấp thụ
những thói quen làm người, học ăn, học nói, học gói, học mở. Gia đình còn
dạy cho mỗi người học làm con, học làm cháu, học làm vợ, học làm chồng,
học làm bố, làm mẹ, làm ông, làm bà. Cứ như thế, các thế hệ nối tiếp nhau
sinh ra, lớn lên, trưởng thành.
Trong điều kiện hiện nay, chất lượng giáo dục con người phải không
ngừng nâng cao. Môi trường tạo ra chất lượng đó là gia đình, nhà trường, xã
hội, nhưng chủ yếu nhất vẫn là gia đình - cái nôi nuôi dưỡng, phát triển nhân
cách đạo đức, tình cảm, thẩm mỹ… Tuy thế, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cùng với nó là sự phát triển của khoa học công nghệ, sự đa dạng và nhiều
mầu sắc của văn hóa thì giáo dục gia đình cũng ít nhiều có sự thay đổi. Bên
cạnh những bậc phụ huynh vẫn quan tâm chăm sóc con cái mình, xã hội còn
xuất hiện thêm những ông bố, bà mẹ phó mặc việc chăm sóc con mình cho
người giúp việc, phó mặc việc dạy dỗ con cho nhà trường, xã hội. Hoặc
không ít cha mẹ lại cảm thấy lúng túng, thậm chí là bất lực khi giáo dục con


đình. Trên cơ sở đó, mỗi thành viên có thể sống khỏe mạnh hơn, lạc quan
hơn, tự tin vào bản thân mình hơn, hăng say lao động hơn, yêu cuộc sống hơn.
Có thể thấy rằng gia đình là tổ ấm, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh
thần. Ở đó, người ta tìm thấy sự đùm bọc, chia sẻ, giúp đỡ, hy sinh cho nhau,
tìm thấy niềm hạnh phúc của đời người. Sức mạnh của tình cảm gia đình
khiến con người ta có thêm sức mạnh để vượt qua biết bao khó khăn, vươn tới
thành công.
Thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm còn là một chức năng đặc thù
của gia đình mà không tổ chức xã hội nào làm được. Xã hội thừa nhận sự thỏa
mãn nhu cầu này trong gia đình là nhu cầu hiển nhiên, thông qua đó, mọi người
vừa tự nhận thức về mình, về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân vừa có lợi ích
trong sự thống nhất của mái ấm gia đình. Các thành viên khác nhau về lứa tuổi,
giới tính, trình độ, tính cách, diễn biến tâm trạng… nên mức độ thỏa mãn nhu
cầu tâm sinh lý cũng như tình cảm là khác nhau. Do vậy, bản thân mỗi thành
viên phải tự điều chỉnh cách ứng xử của mình sao cho phù hợp.
Trong gia đình Việt Nam hiện nay, việc thực hiện chức năng này tác
động mạnh mẽ đến sự tồn tại của hôn nhân, hạnh phúc gia đình. Sự rạn nứt
trong các mối quan hệ tình cảm gia đình không những ảnh hưởng xấu đến
gia đình ấy mà nó còn tác động không tốt đến xã hội. Thực trạng nói trên
đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến yếu tố tình cảm của gia đình,
góp phần tích cực vào việc củng cố các quan hệ xã hội, tạo cho xã hội sự
phát triển bền vững.
Trên đây là những chức năng cơ bản nhất của gia đình. Chúng có mối
quan hệ hữu cơ với nhau, tác động mạnh mẽ đến tiến bộ xã hội nói chung. Tất
cả các thành viên trong gia đình có trách nhiệm vun đắp cho tổ ấm của mình.
Tóm lại, gia đình là một thiết chế đa chức năng. Với việc thực hiện các
chức năng của mình, nó tác động đến xã hội nhằm xây dựng con người mới,
phát triển nhân cách gốc cho con người. Phân chia nội dung của các chức

19

16 tuổi”.
Như vậy, trẻ em là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như
về tâm sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của trẻ bị hạn chế,
thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế chưa cao, dễ bị
kích động lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu mạo hiểm. Cuộc sống của
các em thiên về tình cảm, dễ xúc động, dễ hành động theo cảm tính… Điều
này đòi hỏi các bậc phụ huynh phải hết sức khéo léo, am hiểu tâm lý của trẻ
nhỏ, uốn nắn nhẹ nhàng sao cho có hiệu quả vì trẻ ở mỗi lứa tuổi lại có những
đặc điểm không giống nhau.
 Vị trí của trẻ em đối với sự phát triển xã hội
Tổ chức Liên Hiệp Quốc ngay từ những ngày đầu mới ra đời đã quan
tâm đến trẻ em. Một trong những hành động trước hết của tổ chức này là
thành lập Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (viết tắt là UNICEF). Vấn đề trẻ em
chính thức được khẳng định và thừa nhận trong Tuyên ngôn Giơnevơ về
quyền trẻ em do Hội Quốc liên thông qua vào năm 1924 dựa trên cơ sở Hiến
chương về quyền trẻ em năm 1923.
Tuy nhiên, việc bảo vệ trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ và chuẩn
mực được cộng đồng quốc tế nhất trí. Đó là ý tưởng về một Công ước quốc tế
về quyền trẻ em. Công ước được soạn thảo trong suốt 10 năm. Nó có hiệu lực
và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990.
Việt Nam phê chuẩn Công ước này vào ngày 20 tháng 2 năm 1990
nhưng vấn đề trẻ em đã được quan tâm từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc
sinh thời thường nhắc nhở:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”

21
Bác nhắc nhở: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân
tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không,
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

ông cha ta là:
“Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn trẻ thơ”
Việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình có ý nghĩa mạnh mẽ,
sâu sắc không chỉ đối với tuổi thơ mà còn có ý nghĩa với suốt cuộc đời. Muốn
vậy, cha mẹ phải thường xuyên tạo ra môi trường sống có tác dụng giáo dục,
giúp con cái hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của một công dân
tương lai sống có ích cho xã hội. Thực chất, đây là công việc xã hội hóa đứa
trẻ, biến sinh thể tự nhiên thành một thực thể xã hội có khả năng hòa nhập,
thích nghi, học tập cũng như lao động theo yêu cầu của xã hội. Từ nền văn
hóa gia đình, đứa trẻ càng lớn lên, càng trưởng thành lại càng tiếp xúc với nền
văn hóa rộng hơn, phong phú hơn thông qua các hoạt động xã hội.
Mặc dù quá trình xã hội hóa đứa trẻ không phải hoàn toàn do giáo dục
gia đình quyết định nhưng cha mẹ với tư cách là những nhà giáo dục đầu tiên,
khởi nguồn cho việc hình thành, phát triển các yếu tố nhân cách gốc, tạo nền
móng cho việc tiếp thu giáo dục nhà trường, giáo dục của các đoàn thể xã hội
khác một cách có hiệu quả.
Giáo dục gia đình đối với trẻ em có những nét đặc thù mà giáo dục nhà
trường và xã hội không có được. Đó là giáo dục chủ yếu bằng tình cảm
thương yêu vô bờ bến của cha mẹ, ông bà, những người lớn tuổi - những
người sẵn sàng dành tất cả những điều kiện tốt nhất cho con em mình để giáo
dục chúng nên người.
Đồng thời, chúng ta cần khẳng định lại rằng giáo dục gia đình là nền
giáo dục toàn diện, vừa cụ thể hóa vừa có tính cá biệt hóa rất cao. Cha mẹ dạy
con cách đi đứng, nói năng, chào hỏi… Nền giáo dục của gia đình hoạt động

Trích đoạn Nguyên tắc thực hiện giáo dục gia đình đối với trẻ em Nội dung giáo dục chủ yếu Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Hoa Lư Tập quán, tâm lý xã hội Kiến nghị với các cơ quan chức năng, các đoàn thể của huyện Hoa Lư,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status