MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng từ khi xã hội còn lạc hậu đến
thời đại văn minh, mỗi con người từ khi sinh ra, lớn lên cho đến khi từ biệt
cõi đời đều gắn bó với gia đình. Gia đình không chỉ là tổ ấm của mỗi người
mà còn là tế bào của xã hội.
Thế giới hiện nay đang diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc, đem lại nhiều
niềm hi vọng lớn lao nhưng đồng thời cũng đem lại không ít những lo lắng
cho tương lai phát triển của con người. Trong thời gian qua, có một sự thật là
nhân loại đang chứng kiến những biến đổi mạnh mẽ của gia đình. Gần đây,
gia đình không chỉ nổi lên như một vấn đề quan trọng và cấp thiết của riêng
Việt Nam mà nó còn đang được đặt ra với các dân tộc trên toàn thế giới. Vấn
đề gia đình ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp. Ở mọi nơi,
mọi lúc, gia đình đều chứng tỏ sức mạnh của nó. Nó có thể đem lại hạnh phúc
cho con người nhưng cũng có thể gieo rắc nỗi bất hạnh. Nó không chỉ mang
tính cấp thiết của hiện tại mà còn gắn liền với quá khứ và góp phần quyết định
đối với tương lai.
Với gia đình, con người ngay từ khi mới sinh ra đã nhận được một điều
vô cùng thiêng liêng, cao cả. Đó là tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối
với con cái cũng như giữa các thành viên với nhau, giúp thế hệ con cháu ngày
càng hoàn thiện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, chuẩn bị hành trang cho cá nhân
hòa nhập vào cộng đồng xã hội.
Gia đình đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau, trong đó có chức năng
giáo dục. Gia đình chính là môi trường giáo dục đầu tiên và có tầm quan trọng
quyết định đối với việc hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ em. Việc thực
hiện chức năng này của gia đình có ảnh hưởng lâu dài, toàn diện với mỗi cá
1
nhân trong suốt cuộc đời. Giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội chỉ phát huy
được vai trò khi lấy giáo dục gia đình làm cơ sở.
Nhiều nước trên thế giới sau một thời gian theo đuổi các mục tiêu kinh tế,
hiện nay muốn quay lại tìm kiếm những giá trị nhân văn vốn có của gia đình.
phương pháp giáo dục gia đình nên việc thực hiện chức năng giáo dục trong
các gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình những năm qua tuy đã
đạt được nhiều thành tựu đáng mừng song vẫn gặp phải một số hạn chế, bộc
lộ nhiều bất cập cần phải vượt qua. Nghiên cứu vấn đề này để tìm ra nguyên
nhân và đưa ra giải pháp để đổi mới việc thực hiện chức năng giáo dục của
gia đình nông dân ở đây được tốt hơn là việc làm cần thiết.
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện và
phát huy chức năng giáo dục trẻ em của gia đình nông dân ở huyện Hoa
Lư tỉnh Ninh Bình hiện nay”, với mong muốn đóng góp thêm vào sự nghiệp
trồng người bắt đầu từ việc giáo dục trẻ em trong các gia đình nông dân tại
huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Gia đình từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn, có sức thu hút
mạnh mẽ không chỉ trong giới nghiên cứu khoa học xã hội mà cả các cơ quan,
tổ chức có liên quan. Từ trước tới nay, rất nhiều cá nhân, tập thể đã có các
công trình khác nhau nghiên cứu về gia đình nói chung và chức năng giáo dục
của gia đình nói riêng.
Tác phẩm “Giáo dục trong gia đình Mác” của tác giả I.A. Pê-trec-nhi-
cô-va giới thiệu với bạn đọc một gia đình tuyệt vời. Vẻ đẹp của mối quan hệ
giữa những con người trong gia đình đó là một tấm gương không bao giờ phai
mờ cho các gia đình mai sau. Tình cảm sâu sắc của một tình yêu chung thủy,
tình cảm gắn bó giữa vợ với chồng, sự âu yếm và tôn trọng lẫn nhau giữa bố
mẹ và các con. Đó là vẻ đẹp mà các mối quan hệ trong gia đình Mác đã thể
3
hiện. Không khí gia đình thật là đẹp đã ảnh hưởng tới sự hình thành tâm hồn
trẻ thơ. Kinh nghiệm giáo dục trẻ em của gia đình Mác là một kho tàng kiến
thức về sư phạm mà các bậc cha mẹ và các nhà sư phạm ngày nay vẫn cần
phải khai thác và khai thác mãi mãi.
Ma-ca-ren-cô là nhà giáo dục nổi tiếng của Xô viết trước đây đã dành
nhiều tâm huyết, năng lực và tình yêu dành cho con trẻ. Trong cuốn sách “Nói
- “Nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam” - GS Tương Lai.
- “Khoa học về giáo dục con em trong gia đình” - Đức Minh chủ biên.
- “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” - Lê Ngọc Văn.
- “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện
nay” - Nghiêm Sỹ Liêm.
- “Đổi mới việc thực hiện chức năng giáo dục gia đình đối với thế hệ
trẻ trong gia đình nông dân Việt Nam” - Dương Văn Bóng.
- “Gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta hiện nay” -
Phạm Thị Xuân.
- “Xây dựng gia đình nông dân ở tỉnh Bến Tre hiện nay” - Nguyễn Thị Yến.
Những công trình trên đã đưa ra nhiều tiếng nói khác nhau liên quan
đến gia đình, gia đình Việt Nam nói chung, gia đình nông dân nói riêng. Tuy
nhiên, nghiên cứu sâu về một loại gia đình nào đó như gia đình công nhân, gia
đình nông dân, gia đình trí thức… thì đây còn là mảng trống của lý luận và
thực tiễn. Tìm hiểu việc thực hiện chức năng giáo dục của gia đình nông dân
tại một địa phương là huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình thì cho đến nay đó vẫn là
vấn đề cần được quan tâm.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích: Trên cơ sở làm rõ chức năng giáo dục của gia đình nói
chung, gia đình nông dân nói riêng, luận văn làm rõ việc thực hiện chức năng
5
này ở huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình để đưa ra những phương hướng, giải pháp
cơ bản nhằm thực hiện tốt vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
* Nhiệm vụ:
+ Làm rõ các khái niệm: Gia đình, trẻ em, chức năng giáo dục của gia
đình, gia đình nông dân, chức năng giáo dục của gia đình nông dân đối với
trẻ em.
+ Phân tích nguyên nhân cơ bản của thực trạng và những vấn đề đặt ra
cần được giải quyết.
+ Đề xuất một số phương hướng, giải pháp để các gia đình nông dân ở
nông dân huyện Hoa Lư - tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy chức năng
giáo dục trẻ em của gia đình nông dân ở huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
7
Chương 1
GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG GIÁO DỤC TRẺ EM CỦA GIA ĐÌNH
1.1. Khái niệm gia đình và các chức năng cơ bản của gia đình
1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là tổ ấm của con người, là tế bào của xã hội. Con người từ xa
xưa cho đến nay đều mơ ước có một tổ ấm để sống đời sống cá nhân của
mình và rồi, từ cái tổ ấm này, từ cái tế bào lành mạnh này mà đóng góp tích
cực vào xã hội. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà tư tưởng,
nhà khoa học cũng như các triết gia, các nhà xã hội học… quan tâm nghiên
cứu về gia đình. Vậy gia đình là gì ? Để trả lời cho câu hỏi này cho đến hiện
nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau bởi đây là một phạm trù rộng, không
ngừng biến đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội.
Trong thời đại của mình, C.Mác cho rằng gia đình là tổ chức đặc biệt
quan trọng để duy trì nòi giống, các thành viên của gia đình có mối quan hệ
tình cảm ruột thịt với nhau. Điều này được thể hiện rõ nét khi ông quan niệm:
“Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra
những người khác, sinh sôi, nảy nở. Đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ
và con cái, đó là gia đình”.
Liên hiệp quốc gắn gia đình trong mối quan hệ mật thiết với xã hội. Tổ
chức này xác định: “Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội, có
quyền hưởng sự bảo vệ của xã hội và của Nhà nước”. Trên cơ sở đó, Liên
hiệp quốc cũng lưu ý đến khía cạnh cộng đồng về kinh tế của gia đình khi đưa
ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống
chung và có ngân sách chung”.
Tác giả Nguyễn Quốc Tuấn dưới góc độ Luật học xem xét gia đình là
một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân, về huyết thống và về nuôi
9
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa chủ thể nuôi dưỡng và đối tượng
được nuôi dưỡng. Họ gắn bó với nhau không chỉ vì trách nhiệm, nghĩa vụ,
quyền lợi được pháp luật thừa nhận, bảo vệ, mà cao hơn cả là tình thương
yêu, sự chăm sóc, đùm bọc, sẻ chia những vui buồn trong cuộc sống.
Có lẽ, nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa gia đình nói riêng
còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu thêm. Nhìn nhận gia đình từ phương diện của
chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, theo chúng tôi, gia đình là một
cộng đồng người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi các mối
quan hệ cơ bản là hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Các thành viên của gia
đình có những giá trị vật chất, tinh thần chung, gắn bó với nhau bởi trách
nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ nhằm mục tiêu cao nhất là nuôi dưỡng các thành
viên, xây dựng gia đình bền chặt, phát triển kinh tế gia đình.
Trên cơ sở quan niệm chung về gia đình, khái niệm gia đình nông dân
cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất. Theo chúng tôi, gia đình nông
dân trước hết là gia đình có đời sống phải dựa vào kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu, theo đó, các thành viên của gia đình chủ yếu là giai cấp nông dân. Đây là
một thiết chế xã hội đặc thù ở nông thôn.
1.1.2. Chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình được sinh ra, tồn tại và phát triển vì nó có sứ mệnh đảm
đương những chức năng đặc biệt mà tự nhiên và xã hội giao cho, không một
thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Các chức năng của gia đình tồn tại
trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên con người, xã hội
hóa con người. Gia đình là một tổ chức có nhiều chức năng khác nhau, có thể
khái quát bốn chức năng cơ bản nhất như sau :
Thứ nhất: Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng cơ bản và riêng có của gia đình. Nó đáp ứng nhu cầu
tâm sinh lý, tình cảm của con người nói chung và các thành viên trong gia đình
nói riêng để duy trì nòi giống. Mỗi một công dân tí hon được ra đời trong môi
10
vẫn còn không ít gia đình quan niệm nhà đông con mới có phúc (Trời sinh
voi, trời sinh cỏ), trọng nam khinh nữ (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô)…
Đây là một trong những nguyên nhân gây ra nghèo đói, suy dinh dưỡng ở trẻ
em, đặc biệt là trẻ em sống ở nông thôn, kéo theo tình trạng thất học, mù chữ,
trình độ dân trí thấp. Vì vậy, yêu cầu cấp bách là giảm tỉ lệ sinh đẻ, thực hiện
kế hoạch hóa gia đình nhằm ổn định dân số phù hợp với mức tăng trưởng
kinh tế cũng như những điều kiện khác của đất nước trong hoàn cảnh hiện tại,
trong tương lai gần.
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa
học công nghệ, một mặt, thế hệ trẻ được quan tâm chăm sóc tốt hơn với sự hỗ
trợ của các thiết bị hiện đại nhưng mặt khác, nó đang mở ra một xu hướng
mới cho việc sinh sản bằng phương thức nhân bản con người. Mặc dù vậy, xu
thế tái sản xuất ra con người trong môi trường gia đình vẫn luôn luôn được xã
hội ghi nhận, được dư luận đồng tình.
Đảng và Nhà nước ta xác định nghèo đói, lạc hậu và gia tăng dân số có
mối quan hệ khăng khít với nhau theo tỷ lệ thuận.Một chiến lược dân số hợp
lý sẽ là động lực để tạo ra nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội. Xuất phát từ điều này, Đảng, Nhà nước trong khi đưa
ra và thực hiện đường lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luôn chú
trọng đến hoạch định, thực hiện chiến lược tuyên truyền vận động về dân số.
Cuộc vận động xã hội này đã được thể chế hóa thành luật, thể hiện trong Điều
2 - luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó, người dân được tuyên truyền những
kiến thức cần thiết để sinh con sao cho phù hợp với sức khỏe, điều kiện gia
đình cũng như yêu cầu của xã hội. Chức năng sinh đẻ từ một quá trình tự
nhiên chuyển sang quá trình tự giác. Trước đây, chức năng sinh đẻ và nhu cầu
tình dục là không thể tách rời còn ngày nay, với những thành tựu của y học
hiện đại, với sự ra đời của các biện pháp tránh thai, người ta tách được chức
12
năng sinh đẻ ra khỏi nhu cầu đáp ứng về tình dục. Kế hoạch hóa gia đình là
một giải pháp hữu hiệu để phòng tránh tình trạng bùng nổ dân số.
cuộc sống càng đa dạng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng gia tăng.
Thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ là một trong những tiền đề vật chất
vững chắc để tổ chức đời sống của gia đình, làm cho gia đình có những đóng
góp nhất định vào việc tái sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội.
Tổ chức đời sống gia đình cũng là việc làm quan trọng vì nó hướng vào
chăm lo đời sống mọi mặt của các thành viên, là điều kiện quan trọng cho các
thành viên yên tâm, phấn khởi, tích cực tham gia lao động, học tập ; người già
được nghỉ ngơi, phụng dưỡng; trẻ nhỏ được nuôi dưỡng, giáo dục, có điều kiện
phát triển toàn diện, góp phần làm cho gia đình mình trở thành tổ ấm, thành cái
nôi hình thành nhân cách cũng như nhận thức, tình cảm của con người.
Dân gian có câu: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Ngoài ra, ông cha ta
còn đúc rút nhiều kinh nghiệm khác nhau từ cuộc sống sinh hoạt của gia đình,
khuyên mỗi thành viên cần biết quán xuyến, tổ chức tốt mức tiêu dùng sao
cho hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao để từng gia đình sớm ổn định và nâng
cao đời sống, góp phần thúc đẩy xã hội ngày càng vững bước đi lên.
Mặt khác, mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là phát triển kinh tế gắn với
thực hiện bình đẳng xã hội, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện,
các thành viên trong gia đình được hưởng thụ hợp lý và chính đáng những
thành quả lao động mà mình làm ra. Động viên các gia đình phát triển kinh tế,
nâng cao thu nhập nhằm thỏa mãn các yêu cầu tiêu dùng lành mạnh để nâng
cao chất lượng cuộc sống là mục tiêu phấn đấu của sự nghiệp xây dựng Chủ
nghĩa xã hội. Để làm được điều này, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn
nữa đến gia đình - tế bào của xã hội, trước hết, mỗi thành viên của gia đình
14
cần quan tâm lẫn nhau trong lao động sản xuất, trong tiêu dùng, trong cuộc
sống nói chung.
Thứ ba: Chức năng giáo dục.
Giáo dục là lĩnh vực liên quan mật thiết tới sự phát triển bền vững của
mọi quốc gia nói chung và sự phát triển toàn diện con người nói riêng. Ở
Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã phát biểu rằng phải tìm mọi cách để giải
khi giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội không phân biệt sức khỏe, hoàn cảnh
sống… thì giáo dục gia đình lại tính đến tất cả các yếu tố cụ thể của đối tượng
giáo dục bởi đó là môi trường đầu tiên giúp con người lớn lên, hình thành
nhân cách ban đầu cũng như những suy nghĩ đầu đời về cuộc sống. Các cụ
thường nói “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy” là vì vậy. Văn hóa gia đình in dấu ấn
đậm nét vào tâm hồn cũng như đời sống của cá nhân.
Đời người phần lớn là sống trong môi trường gia đình để được hấp thụ
những thói quen làm người, học ăn, học nói, học gói, học mở. Gia đình còn
dạy cho mỗi người học làm con, học làm cháu, học làm vợ, học làm chồng,
học làm bố, làm mẹ, làm ông, làm bà. Cứ như thế, các thế hệ nối tiếp nhau
sinh ra, lớn lên, trưởng thành.
Trong điều kiện hiện nay, chất lượng giáo dục con người phải không
ngừng nâng cao. Môi trường tạo ra chất lượng đó là gia đình, nhà trường, xã
hội, nhưng chủ yếu nhất vẫn là gia đình - cái nôi nuôi dưỡng, phát triển nhân
cách đạo đức, tình cảm, thẩm mỹ… Tuy thế, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế cùng với nó là sự phát triển của khoa học công nghệ, sự đa dạng và nhiều
mầu sắc của văn hóa thì giáo dục gia đình cũng ít nhiều có sự thay đổi. Bên
cạnh những bậc phụ huynh vẫn quan tâm chăm sóc con cái mình, xã hội còn
xuất hiện thêm những ông bố, bà mẹ phó mặc việc chăm sóc con mình cho
người giúp việc, phó mặc việc dạy dỗ con cho nhà trường, xã hội. Hoặc
không ít cha mẹ lại cảm thấy lúng túng, thậm chí là bất lực khi giáo dục con
16
em mình. Ngoài ra, có những gia đình bố mẹ bận bịu với công việc làm ăn,
buôn bán, lối sống thực dụng, coi trọng đồng tiền. Điều này có ảnh hưởng
không tốt đến nhân cách của trẻ.
Để thực hiện chức năng giáo dục gia đình có hiệu quả, chúng ta phải
chú ý đến mối quan hệ không thể tách rời giữa gia đình - nhà trường - xã hội,
tiến tới mục tiêu giáo dục tư tưởng và tình cảm lành mạnh cho thế hệ trẻ, góp
phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Muốn giáo dục gia đình có hiệu quả thì ông bà, cha mẹ phải là tấm gương
vừa tự nhận thức về mình, về trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân vừa có lợi ích
trong sự thống nhất của mái ấm gia đình. Các thành viên khác nhau về lứa tuổi,
giới tính, trình độ, tính cách, diễn biến tâm trạng… nên mức độ thỏa mãn nhu
cầu tâm sinh lý cũng như tình cảm là khác nhau. Do vậy, bản thân mỗi thành
viên phải tự điều chỉnh cách ứng xử của mình sao cho phù hợp.
Trong gia đình Việt Nam hiện nay, việc thực hiện chức năng này tác
động mạnh mẽ đến sự tồn tại của hôn nhân, hạnh phúc gia đình. Sự rạn nứt
trong các mối quan hệ tình cảm gia đình không những ảnh hưởng xấu đến
gia đình ấy mà nó còn tác động không tốt đến xã hội. Thực trạng nói trên
đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến yếu tố tình cảm của gia đình,
góp phần tích cực vào việc củng cố các quan hệ xã hội, tạo cho xã hội sự
phát triển bền vững.
Trên đây là những chức năng cơ bản nhất của gia đình. Chúng có mối
quan hệ hữu cơ với nhau, tác động mạnh mẽ đến tiến bộ xã hội nói chung. Tất
cả các thành viên trong gia đình có trách nhiệm vun đắp cho tổ ấm của mình.
Tóm lại, gia đình là một thiết chế đa chức năng. Với việc thực hiện các
chức năng của mình, nó tác động đến xã hội nhằm xây dựng con người mới,
phát triển nhân cách gốc cho con người. Phân chia nội dung của các chức
18
năng nói trên chỉ mang tính chất tương đối. Trong những không gian và thời
gian khác nhau thì nội dung, vị trí của mỗi chức năng có sự thay đổi cho phù
hợp với tình hình thực tế.
1.2. Chức năng giáo dục của gia đình đối với trẻ em
1.2.1. Quan niệm về trẻ em và chức năng giáo dục của gia đình đối
với trẻ em
Thứ nhất: Quan niệm về trẻ em
• Khái niệm trẻ em
Trước hết, cần khẳng định rẳng trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình,
là tương lai của dân tộc. Chúng ta quan niệm: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày
mai” cũng là vì vậy.
thành lập Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (viết tắt là UNICEF). Vấn đề trẻ em
chính thức được khẳng định và thừa nhận trong Tuyên ngôn Giơnevơ về
quyền trẻ em do Hội Quốc liên thông qua vào năm 1924 dựa trên cơ sở Hiến
chương về quyền trẻ em năm 1923.
Tuy nhiên, việc bảo vệ trẻ em đòi hỏi phải có một khuôn khổ và chuẩn
mực được cộng đồng quốc tế nhất trí. Đó là ý tưởng về một Công ước quốc tế
về quyền trẻ em. Công ước được soạn thảo trong suốt 10 năm. Nó có hiệu lực
và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990.
Việt Nam phê chuẩn Công ước này vào ngày 20 tháng 2 năm 1990
nhưng vấn đề trẻ em đã được quan tâm từ rất sớm. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc
sinh thời thường nhắc nhở:
“Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”
20
Bác nhắc nhở: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân
tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không,
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.
Người còn kêu gọi: “Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người,
mọi ngành phải quyết tâm chăm sóc, giáo dục các cháu bé cho tốt”.
Đảng, Nhà nước ta xác định mọi chủ trương phát triển kinh tế - xã hội
trước hết phải hướng vào mục tiêu phát triển con người, nâng cao chất lượng
cuộc sống, đem lại hạnh phúc cho con người, trước hết là trẻ em.
Trong mỗi gia đình, trẻ em là niềm hạnh phúc, niềm hi vọng, niềm tự
hào của không ít gia đình Việt. Đó là người kế tục sự nghiệp của cha ông,
dòng họ… Vì thế, các em cần được chăm sóc, giáo dục tốt, nếu không sẽ ảnh
hưởng xấu không chỉ đến gia đình mà là cả xã hội.
Thứ hai: Chức năng giáo dục của gia đình đối với trẻ em
Công ước về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc coi trọng vai trò của gia
đình - nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển cuộc sống
hạnh phúc của trẻ em. Gia đình đồng thời là phòng tuyến hàng đầu và quan
khởi nguồn cho việc hình thành, phát triển các yếu tố nhân cách gốc, tạo nền
móng cho việc tiếp thu giáo dục nhà trường, giáo dục của các đoàn thể xã hội
khác một cách có hiệu quả.
Giáo dục gia đình đối với trẻ em có những nét đặc thù mà giáo dục nhà
trường và xã hội không có được. Đó là giáo dục chủ yếu bằng tình cảm
thương yêu vô bờ bến của cha mẹ, ông bà, những người lớn tuổi - những
người sẵn sàng dành tất cả những điều kiện tốt nhất cho con em mình để giáo
dục chúng nên người.
Đồng thời, chúng ta cần khẳng định lại rằng giáo dục gia đình là nền
giáo dục toàn diện, vừa cụ thể hóa vừa có tính cá biệt hóa rất cao. Cha mẹ dạy
con cách đi đứng, nói năng, chào hỏi… Nền giáo dục của gia đình hoạt động
22
vô cùng tinh tế. Nó là sự hội tụ của toàn bộ sức mạnh truyền cảm, đồng cảm
giữa chủ thể giáo dục với đối tượng được giáo dục chính là giữa cha mẹ và
con cái. Kết quả giáo dục trẻ em trong gia đình không phụ thuộc nhiều vào
các điều kiện kinh tế vật chất. G. Bốc - li thấy rằng “Có một thực tế lạ lùng là
phần lớn những thiên tài đều có những bà mẹ tuyệt vời mà họ nhận được ở
người mẹ nhiều hơn là ở người cha”. P. E. Decgonxki thì đi đến kết luận “Tội
lỗi và công lao của trẻ phần lớn thuộc về trí tuệ và lương tâm của bố mẹ
chúng” [63, tr.28].
Tóm lại, chức năng giáo dục của gia đình là chức năng đặc biệt quan
trọng mà không một đơn vị, tổ chức nào có thể thay thế hoàn toàn cho gia
đình. Bởi thế, cần chống lại những quan điểm cho rằng trong xã hội hiện đại,
chức năng giáo dục trẻ em của gia đình đã được chuyển giao cho các thiết chế
xã hội khác như trường lớp các cấp học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến cao hơn. Nếu
như quan niệm gia đình trong xã hội hiện đại chỉ là nơi có chức năng sinh đẻ
và thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm thì đó là điều hoàn toàn sai lầm.
1.2.2. Nguyên tắc thực hiện giáo dục gia đình đối với trẻ em
Thứ nhất: Nguyên tắc tôn trọng nhân cách của trẻ.
Trước kia, đặc biệt là trong các chế độ xã hội phong kiến, “cha mẹ đặt
gây ra hậu quả. Trên thực tế, ở nước ta cũng đã xảy ra những tình trạng đáng
tiếc do cha mẹ áp dụng bạo lực khi nuôi dạy con.
Nghiêm khắc cần phải kết hợp với khoan dung, độ lượng, không định
kiến, không cố chấp, không áp đặt… khi con cái đã ý thức được sai lầm.
Khoan dung, độ lượng thường xuất phát từ cội nguồn tình thương yêu vô bờ
mà cha mẹ dành cho đứa con máu mủ mình đã sinh ra. Khoan dung, độ lượng
giúp các bậc cha mẹ kìm nén được sự nóng giận, tự chủ trước những tình
24
huống gia đình. Tuy nhiên, các bậc phụ huynh cũng cần thấy rằng nó không
hoàn toàn đồng nhất với thái độ quá dễ dãi, chiều chuộng thái quá.
Công ước về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc quy định: “Nhà nước
phải tôn trọng các quyền, các trách nhiệm của cha mẹ và các thành viên
trong gia đình mở rộng, để hướng dẫn trẻ em một cách phù hợp với sự phát
triển năng lực của các em” - Điều 5, “Cha mẹ có trách nhiệm hàng đầu
trong việc nuôi dạy con cái và Nhà nước phải giúp họ thực hiện trách
nhiệm ấy. Nhà nước phải giúp đỡ một cách thích hợp cha mẹ trong việc
nuôi dạy con cái” - Điều 18
Thứ ba: Nguyên tắc yêu thương
Trẻ em là một sinh thể non nớt, lúc chưa chào đời con cộng sinh với
mẹ, hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ. Người mẹ với dòng sữa ngọt ngào, với ánh
mắt dịu dàng, nụ cười hiền hậu, lời ru chan chứa yêu thương… Tất cả những
điều ấy góp phần đặt nền móng cho nhân cách cũng như năng khiếu của trẻ
sau này. Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”
Lời ru của mẹ đã đi vào tiềm thức của không ít người. Nó cất lên sự
ngọt ngào, êm ái đúng như lời của một bài hát: lời ru yêu thương của mẹ có
dòng sông biếc xanh, có đàn cò trắng bay, đung đưa lũy tre làng, mênh mang
biển lúa vàng, lung linh cả trời sao. Lời ru từ cành nôi, theo con suốt cuộc đời,
ngọt ngào khi xuân tới, xua tan lạnh giá mùa đông…