Nâng cao hiệu quả thu thuế tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Luận văn ThS. Kinh doanh và quản lý - Pdf 29


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN THỊ THU THỦY

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ : 603401
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI ĐẠI DŨNG

XÁC NHẬN CỦA GVHD

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH
HỘI ĐỒNG

Hà Nội – 2015

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
NÂNG CAO HIỂU QUẢ THU THUẾ 5
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ 5
1.1.1. Đại cƣơng về thuế 5
1.1.2. Hiệu quả thu thuế 16
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ 16
1.2.1. Vai trò của thuế trong ngân sách nhà nƣớc 19
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thu thuế 23
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THU THUẾ TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH 37
2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY THU THUẾ TẠI HUYỆN
ĐÔNG ANH 37
2.1.1. Đặc điểm kinh tế- xã hội huyện Đông Anh 37
2.1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thu thuế ở địa bàn huyện Đông Anh 38
2.2. CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT VÀ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI
QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ ĐÔNG ANH 42
2.2.1. Tình hình phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện Đông Anh 42
2.2.2. Kết quả công tác quản lý thu thuế GTGT và TNDN đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại chi cục thuế huyện Đông Anh 45
2.3. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ THU THUẾ TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH 46
2.3.1. Thực trạng 46
2.3.2. Đánh giá chung 61
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU THUẾ TẠI HUYỆN ĐÔNG
ANH 67
3.1. CƠ SỞ XÂY DỰNG GIẢI PHÁP 67
3.1.1. Thực hiện 05 nhiệm vụ và 18 nhóm giải pháp công tác thuế năm 2014 67
3.1.2. Căn cứ vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội 72
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG HIỆU QUẢ THU THUẾ 75
3.2.1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho ngƣời nộp thuế 75
3.2.2. Thực hiện công văn của BTC và văn bản của TCT về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
3
DNNQD
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
4
ĐTNN
Đầu tƣ nƣớc ngoài
5
GTGT
Giá trị gia tăng
6
GDP
Tổng thu nhập nội địa
7
HĐND
Hội đồng nhân dân
8
HTKK
Hỗ trợ kê khai
9
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
10
NNT
Ngƣời nộp thuế
11
NSNN
Ngân sách nhà nƣớc
12

Bảng 3.1. Cơ cấu giá trị sản xuất 73 iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Sơ đồ 1.1 : Kết quả thu ngân sách của nƣớc ta giai đoạn 2003 – 2005 13
Sơ đồ 1.2. Tỷ lệ thực thiện thu ngân sách so với dự toán (%) năm 2005 -2013 30
Sơ đồ 3.1. Bộ máy của chi cục thuế huyện Đông Anh: 42 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một trong những công cụ hiệu quả để quản lý vĩ mô nền kinh tế phát
triển theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách
nhà nƣớc. Thông qua việc thu thuế, Nhà nƣớc huy động tập trung một phần nguồn
lực xã hội để thực hiện chức năng của mình.
Trong những năm gần đây, thu Ngân sách nhà nƣớc hàng năm vƣợt dự toán
giao và có mức tăng trƣởng, góp phần tạo nguồn lực tài chính để Nhà nƣớc thực
hiện các chính sách cân đối vĩ mô, thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, đảm bảo quốc
phòng, an ninh, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Tuy nhiên, thu Ngân sách so
với tiềm lực của nền kinh tế vẫn còn chƣa tƣơng xứng, vẫn còn tình trạng thất thu,
nợ đọng thuế, chiếm dụng tiền thuế tại một số lĩnh vực, địa bàn. Sự phối hợp giữa
các ngành chức năng với cơ quan quản lý thu có lúc, có nơi chƣa thƣờng xuyên,
chặt chẽ, tích cực; một số địa phƣơng chƣa quan tâm quản lý, khai thác nguồn thu
từ tài nguyên, đất đai; tình trạng chuyển giá làm giảm các nghĩa vụ với Nhà nƣớc
theo quy định của pháp luật còn lớn, có địa phƣơng ở mức trầm trọng; tình trạng
đầu cơ, buôn lậu, gian lận thƣơng mại, trốn thuế, lậu thuế vẫn còn xảy ra dƣới nhiều

- Từ những năm 2000 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về thuế và
công tác thu thuế nhƣ:
- “Hoàn thiện chính sách Ngân sách nhà nƣớc giai đoạn 2006- 2010” (2005),
Đề án cấp Bộ của Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Vụ trƣởng Vụ Ngân sách Nhà nƣớc- Bộ Tài
chính.
- “Xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam” (2005), Đề án cấp Bộ
của PGS, TS, Phó vụ trƣởng Vụ Chính sách thuế- Bộ Tài chính.
- “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới”
(2004), Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội.
- “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ thuế trên địa bàn
Quảng Nam – Đà Nẵng”(1993), Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thế Tràm;
- “Công tác quản lý thu thuế dân doanh trên địa bàn thành phố Hà
Nội”(1996), Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Toản.
3
- “Tăng cƣờng vai trò Nhà nƣớc về việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu hiện đại hoá ngành thuế ở Việt Nam” (2006), Luận văn thạc sĩ của Phạm
Đức Thắng.
- "Nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế"
(2009), Luận văn thạc sĩ của Huỳnh Ngọc Sơn.
- “Một số giải pháp nhằm tăng cƣờng chống thất thu thuế giá trị gia tăng và
thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế
huyện Đông Anh” (2002), Luận văn thạc sĩ của Lê Hữu thông.
Các đề tài, bài viết có đề cập ở mức độ nhất định về quản lý thu thuế đối với
doanh nghiệp, nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống về lĩnh vực
này. Có Đề tài nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả thu thuế nhƣng ở địa bàn khác, có
những đặc điểm và điều kiện khác biệt. Trên địa bàn huyện Đông Anh, mới chỉ có
Đề tài nghiên cứu về việc chống thất thu thuế.
Để thực hiện đề tài, tôi có tham khảo ý tƣởng trong các công trình khoa học,
bài viết đã công bố, giúp cho việc hệ thống hóa lĩnh vực nghiên cứu từ khi đổi mới
đến nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thu thuế tại huyện Đông Anh trong
hiện tại và thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
bố cục làm 03 chƣơng:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả thu thuế và sự cần thiết phải nâng cao
hiệu quả thu thuế.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả thu thuế tại huyện Đông Anh.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu thuế tại huyện Đông
Anh.

5 Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ VÀ SỰ CẦN
THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỂU QUẢ THU THUẾ

1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ THU THUẾ
1.1.1. Đại cƣơng về thuế
1.1.1.1. Khái niệm thuế
Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khi các Nhà nƣớc hình thành, song các lý luận
về kinh tế của thế giới, cho đến nay vẫn chƣa có sự thống nhất tuyệt đối khái niệm
về thuế. Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đƣa ra, mới nhìn nhận từ
những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó không phản ánh đầy đủ bản chất chung
nhất của phạm trù này. Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà
kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa phải nêu bật
đƣợc các khía cạnh sau: Nội dung kinh tế của thuế đƣợc đặc trƣng bởi các quan hệ
tiền tệ giữa Nhà nƣớc với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dƣới
dạng tiền tệ này đƣợc nảy sinh một cách khách quan và có ‎ ý ‎‎‎nghĩa xã hội đặc biệt.
Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên

cơ bản vốn có của thuế, phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác
của Ngân sách Nhà nƣớc.
Đặc điểm này vạch rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hệ tiền tệ,
đƣợc hình thành khách quan và có ‎ý nghĩa xã hội đặc biệt, việc động viên mang tính
chất bắt buộc của Nhà nƣớc ta.
Phân phối mang tính chất bắt buộc dƣới hình thức thuế là một phƣơng thức
phân phối của Nhà nƣớc mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của
ngƣời nộp thuế đƣợc chuyển giao cho Nhà nƣớc mà không kèm theo một sự cấp
phát hoặc những quyền lợi nào khác cho ngƣời nộp thuế.
Tính cƣỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những
l‎ý do sau :
7
Thứ nhất, hình thức chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế không gắn với
lợi ích cụ thể của ngƣời nộp thuế, do đó không thể sử dụng phƣơng pháp tự nguyện
trong việc chuyển giao. Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng Nhà nƣớc tất yếu
phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc các đối tƣợng có thu nhập phải chuyển
giao.
Thứ hai, trong một xã hội hiện đại, các thành viên của cộng đồng ngày càng
có nhu cầu cao về hàng hóa công cộng. Nhìn chung đại bộ phận hàng hóa công
cộng do Nhà nƣớc sản xuất và cung cấp. Để sản xuất và cung cấp hàng hóa công
cộng tất yếu phải bỏ chi phí, các chi phí đó phải đƣợc bù đắp từ nguồn thu nhập của
những ngƣời thụ hƣởng hàng hóa công cộng. Song do tính chất của hàng hóa công
cộng không thể phân bổ theo khẩu phần để sử dụng và không muốn sử dụng theo
khẩu phần, do đó, không có tính cạnh tranh, không thể trao đổi theo cơ chế thị
trƣờng. Chính vì vậy trong việc cung cấp hàng hóa công cộng xuất hiện “ngƣời ăn
không” nghĩa là không tự nguyện trả tiền cho việc thừa hƣởng hàng hóa công cộng.
Do vậy để có chi phí cho việc cung cấp hàng hóa công cộng, Nhà nƣớc chỉ có thể sử
dụng phƣơng pháp bắt buộc “ngƣời ăn không” chuyển giao thu nhập từ khu vực tƣ
sang khu vực công.
Tuy nhiên tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành

d) Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chịu sự ảnh hƣởng
của các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội trong những thời kỳ nhất định.
Yếu tố kinh tế tác động đến thuế thƣờng là mức độ tăng trƣởng của nền kinh
tế quốc dân, thu nhập bình quân đầu ngƣời, giá cả, thị trƣờng, sự biến động của
ngân sách Nhà nƣớc
Yếu tố chính trị, xã hội tác động đến thuế thƣờng là thể chế của Nhà nƣớc,
tâm l‎í, tập quán của các tầng lớp dân cƣ, truyền thống văn hóa, xã hội của dân
tộc Do thuế chịu sự ràng buộc của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội nhƣ vậy nên
ngƣời ta thƣờng nói thuế mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội tổng hợp.
e) Các khoản chuyển giao thu nhập dƣới hình thức thuế chỉ đƣợc giới hạn
trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp l‎í của nhà nƣớc đối với con
ngƣời và tài sản.
9
Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và
nội dung bên trong của thuế. Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các
hình thức động viên khác của ngân sách nhà nƣớc trên nhiều phƣơng diện khác
nhau.
1.1.1.3. Hệ thống thuế và phân loại thuế
1.1.1.3.1. Khái niệm hệ thống thuế
Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức khác nhau mà giữa chúng có mối
quan hệ mật thiết bao hàm việc xây dựng các sắc thuế, loại thuế; phƣơng pháp thu,
nộp trên những nguyên tắc nhất định .Tùy thuộc vào khả năng và ý đồ của từng Nhà
nƣớc trong việc điều tiết dòng thu nhập quốc dân, ở những giai đoạn lịch sử cụ thể
mà hình thành những hệ thống thuế khác nhau. Tuy vậy, bất kỳ một hệ thống thuế
nào cũng phải bao gồm 2 bộ phận : Hệ thống chính sách thuế và Hệ thống quản lý
thuế. Chính sách thuế là tổng hợp các phƣơng hƣớng của Nhà nƣớc trong lĩnh vực
thu nộp thuế; quản lý thuế là các biện pháp, thủ pháp thực hiện chính sách thuế để
đạt đƣợc những mục tiêu đã định
Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, ngƣời ta ít chú ý đến
số lƣợng của các sắc thuế, các loại thuế trong hệ thống đó, mà chủ yếu đánh giá,

chênh lệch về thu nhập và tiêu dùng xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, an
toàn xã hội.
+ Về nghiệp vụ : Chính sách chế độ đã có sự đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, dễ
kiểm tra; phát huy đƣợc quyền dân chủ và nâng cao đƣợc trách nhiệm và nghĩa vụ
công dân về thuế.
1.1.1.3.2. Phân loại thuế
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu, quản lý và tổ chức hành thu trong thực
tế, ngƣời ta tiến hành phân loại thuế theo một số tiêu thức nhất định.
a. Phân loại theo tính chất kinh tế của thuế
Theo cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, thuế đƣợc chia
thành hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu. Sự phân loại này phụ thuộc vào đối
tƣợng đánh thuế, mối quan hệ tƣơng hỗ giữa ngƣời nộp thuế và nhà nƣớc.
11
- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên một khoản thu nhập (tiền
lƣơng, lợi nhuận, lợi tức ) hoặc tài sản (ruộng đất, nhà cửa, chứng khoán ) nào đó
của ngƣời nộp thuế.
Thuế trực thu thƣờng đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của ngƣời nộp thuế, dễ
gây ra tâm lý bất bình trong nhân dân. Ở nƣớc ta, trong hệ thống thuế hiện hành, các
loại thuế dƣới đây đƣợc xem là thuế trực thu : nhƣ thuế lợi tức, thuế thu nhập, thuế
tài nguyên, thuế nhà đất và thuế sử dụng đất nông nghiệp.
- Thuế gián thu là một loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ và đƣợc ấn định
dƣới hình thức một khoản phụ thêm đƣợc cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ
nhằm điều tiết một phần thu nhập của ngƣời tiêu dùng.
Khi áp dụng hình thức thuế gián thu, mối quan hệ giữa ngƣời nộp thuế và
nhà nƣớc đƣợc thể hiện một cách gián tiếp.
Ngày nay, sự phân biệt giữa thuế trực thu và thuế gián thu không còn rõ nét
nhƣ trƣớc đây. Ở giác độ hành chính đã có sự thống nhất quản lý đối với hai loại
thuế. Trong các hệ thống thuế hiện đại, còn tồn tại hai phƣơng thức thu thuế, nhƣng
mỗi phƣơng thức đều tƣơng ứng với hình thức thu gián tiếp. Thuế lúc này sẽ do
ngƣời chủ các đơn vị nộp đối với các khoản lƣơng bổng, hoặc do chủ ngân hàng

của Ngân sách Nhà nƣớc, có ảnh hƣởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
a. Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước :
Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nƣớc ta hiện nay, các khoản viện
trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc
gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia. Sau 20 năm đổi mới
tình hình kinh tế nƣớc ta có nhiều chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế
năm sau tăng hơn năm trƣớc, bình quân trong 5 năm 2001-2005 là 7,5% . Lạm phát
đƣợc kìm hãm và đẩy lùi, thị trƣờng đƣợc mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo
điều kiện cho sản xuất trong nƣớc phát triển. Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bƣớc
đƣợc mở rộng và phát triển hội nhập . Trong bối cảnh đó thu ngân sách hàng năm
tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trƣớc đáp ứng đƣợc nhu cầu chi thƣờng xuyên,
chi đầu tƣ phát triển, góp phần tích lũy cho Ngân sách và cả việc chi trả nợ vay.
13
Đƣợc nhƣ vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách. Tỷ lệ động
viên GDP vào Ngân sách Nhà nƣớc ngày càng tăng. Trong đó mức động viên thuế
và phí chiếm vai trò quan trọng.

Sơ đồ 1.1 : Kết quả thu ngân sách của nƣớc ta giai đoạn 2003 – 2005
Đơn Vị Tính Nghìn Tỷ Đồng
Nguồn: Tổng Cục Thuế, 2005

Ngân sách Nhà nƣớc đƣợc thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, Phí - lệ
phí, viện trợ nƣớc ngoài, tín dụng nhƣng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thu
chủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia. ở các nƣớc phát triển, thuế
chiếm trên dƣới 90% tổng thu ngân sách. Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổng
thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng. Trong năm 1990 tỷ trọng thuế và
phí trong Tổng thu ngân sách nhà nƣớc (NSNN) là 76,8%, năm 2001 tăng lên
96,5% và tỷ lệ điều tiết từ GDP hàng năm khoảng 21-22%; tốc độ thu ngân sách

hƣớng của Nhà nƣớc.
Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phù hợp
với chiến lƣợc phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Do vậy, bằng các sắc thuế khác
nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau. Nhà nƣớc điều chỉnh
quy mô đầu tƣ vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau.
Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ
cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung ƣơng và Địa
phƣơng đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích lũy trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh
tế.
Thông qua Pháp luật thuế Nhà nƣớc xác định đúng đắn cơ cấu và quan hệ
giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tƣợng nộp thuế, chế độ miễn giảm,
phƣơng pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng thời khuyến khích,
nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho xã hội, khuyến khích
những thành phần kinh tế cần thiết, các danh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu
quả. Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải
hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu dùng xã hội theo định hƣớng của chiến lƣợc phát
triển kinh tế của Đảng, Nhà nƣớc có lợi cho quốc kế dân sinh.
"Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế
cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất
cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các
doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trƣờng và các doanh nghiệp phục vụ các
lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội. Mặt khác để chống độc quyền cần
thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế".
15
Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trƣờng sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm
có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tƣ trong nƣớc.
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, Thuế
không những khuyến khích đƣợc hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa, từ đó thúc

Việt Nam đang trong quá trình đổi mới toàn diện từ kinh tế, chính trị
cho đến văn hóa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh thì đòi hỏi việc quản lý thuế, thu thuế cần phải có hiệu
quả để đảm bảo vai trò vị trí của thuế trong Ngân sách Nhà nƣớc.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì “hiệu quả là kết quả như yêu cầu của việc
làm mang lại”. Nói đến hiệu quả của một hoạt động, ngƣời ta thƣờng đề cập
đến các vấn đề sau:
Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả trƣớc và sau khi tiến hành một
hoạt động, giữa kết quả đã có và kết quả sẽ có.
- Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt đƣợc và mục đích, là sự ăn
khớp một phần hay hoàn toàn của kết quả với mục đích và nhiệm vụ đƣợc đặt
ra từ trƣớc.
- Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí về vật lực, tài
lực để đạt đƣợc kết quả đó.
Tổng hợp các quan niệm trên đây về hiệu quả, có thể đƣa ra khái niệm
hiệu quả thu thuế nhƣ sau:
Hiệu quả thu thuế là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động
thu thuế mang lại với mục đích của thu thuế được đặt ra và với chi phí để đạt
được kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định.
Nhƣ vậy, hiệu quả khác với kết quả. Kết quả là cái đạt được do hoạt
động thu thuế mang lại, là sự thay đổi về số lƣợng thuế của đối tƣợng nộp
thuế sau một chu trình tác động nhƣng chƣa tính đến chi phí để có kết quả đó.
17
Còn hiệu quả là tương quan, là sự so sánh của kết quả với mục đích và với chi
phí trong công tác thu thuế. Nói cách khác, hiệu quả là sự so sánh giữa cái đạt
đƣợc (kết quả) với cái đặt ra (mục đích) và cái bỏ ra (chi phí). Không đồng
nhất hiệu quả với kết quả trong thu thuế.
1.1.2.2. Một số nguyên nhân làm giảm hiệu quả thu thuế trong ngân
sách nhà nước
a. Người dân chưa có quan niệm đúng về nghĩa vụ đóng góp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status