Những giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện tiên lãng, thành phố hải phòng năm 2013 2016 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ Những giải pháp nhằm tăng thu ngân sách của huyện Tiên Lãng,
Thành phố Hải Phòng năm 2013-2016HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ VŨ THỦY CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. MAI QUỐC CHÁNH

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TĂNG THU NGÂN SÁCH 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Ngân sách 5
1.1.2 Thu ngân sách 6
1.2. Chức năng của thu ngân sách nhà nước 8
1.2.1 Chức năng phân bổ nguồn lực 9
1.2.2. Chức năng phân phối lại thu nhập 10
1.3 Vai trò của thu ngân sách 12
1.3.1 NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài
chính cho hoạt động của bộ máy Nhà nước 12
1.3.2 NSNN là công cụ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho
nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. 13

2.4.2 Tồn tại và nguyên nhân tồn tại 65
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG THU NS GIAI ĐOẠN
2013-2016 67
3.1 Phương hướng phát triển nguồn thu NS huyện giai đoạn 2013-2016 67
3.1.1 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Huyện 67
3.1.2 Kế hoạch phát triển KT-XH huyện, những định hướng, mục tiêu thu
ngân sách huyện giai đoạn 2013-2015 67
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng thu Ngân sách giai đoạn 2013-2016 của
huyện Tiên Lãng, Tp Hải Phòng. 72
3.2.1 Giải pháp nhằm tăng cường, nuôi dưỡng nguồn thu 73
3.2.2 Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách thu ngân sách của huyện 77
3.2.3 Nâng cao hiệu quả các biện pháp tiến hành thu 81
3.2.4 Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước, bảo đảm chặt chẽ, tiết
kiệm và hiệu quả 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Uỷ ban nhân dân
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
KBNN Kho bạc nhà nước
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách nhà nước
NSTW Ngân sách Trung ương
XHCN Xã hội chủ nghĩa
DN Doanh nghiệp

5 Bảng 2.5 Kế hoạch giao thu NSNN của huyện giai đoạn 2009-2012 45
6
Bảng 2.6 Kết quả kế hoạch giao so với thực hiện thu NSNN trên địa
bàn huyện giai đoạn 2009-2012
47
7
Bảng 2.7 So sánh tỷ lệ kế hoạch giao thu NSNN của huyện giai đoạn
2009-2012
48
8
Bảng 2.8 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu NSNN trên địa bàn huyện
giai đoạn 2009-2012
50
9
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng
thu NSNN trên địa bàn giai đoạn 2009-2012
59 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT

Tên biểu đồ Trang


1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu ngân sách là một nguồn tài chính quan trọng của quốc gia nói chung và
của huyện nói riêng. Nhờ có nguồn thu ngân sách mà các hoạt động của bộ máy nhà
nước, các tổ chức chính trị xã hội thực thi tốt nhiệm vụ.
Một thực trạng đối với Ngân sách Việt Nam là luôn ở trong tình trạng bội chi
với mức thâm hụt lớn. Cân bằng cán cân Thu - Chi ngân sách luôn là một trong
những mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước. Để cân bằng Thu - Chi, có hai
hướng đặt ra giải pháp là tăng thu và giảm chi. Nhiều năm qua, Chính phủ đã có
nhiều cố gắng để giảm thiểu chi hành chính, sự nghiệp, tăng cường chi cho đầu tư
phát triển và xây dựng cơ bản, chi đúng chỗ, chi hiệu quả, tiết kiệm. Bởi đầu tư của
Nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế -
xã hội, đặc biệt đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, nên tình trạng
thâm hụt ngân sách là không tránh khỏi, nhưng thâm hụt mức độ nào là hợp lý đòi
hỏi nhiều nỗ lực. Nhằm đảm bảo cho nhu cầu chi rất lớn thì việc tăng thu NSNN là
rất cần thiết.
Tiên Lãng là một huyện hàng năm thu ngân sách không đáp ứng được nhiệm
vụ chi mà vần phụ thuộc nhiều vào ngân sách cấp trên hỗ trợ. Sau một thời gian tìm
hiểu công tác thu ngân sách của huyện Tiên Lãng, tôi nhận thấy vấn đề bức xúc
nóng bỏng trong thời gian qua là số thu chưa tương xứng với tiềm năng. Nguyên
nhân có rất nhiều, trong đó những nguyên nhân chính nằm ở cơ chế chính sách, và
tổ chức thực hiện thu còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng trốn thuế và gian lận
thuế còn khá phổ biến. Qua đề tài này, tôi muốn kiểm chứng lại những nhận định
trên thông qua phân tích thực trạng thu ngân sách của huyện giai đoạn vừa qua, từ
đó đưa ra giải pháp nhằm tăng thu ngân sách giai đoạn tới.
Với vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính nhà nước, việc tăng
nguồn thu ngân sách có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuy nhiên, một thực tế hiện nay 2

+Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng từ năm
2009 đến năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp thu thập số liệu
Những số liệu trong đề tài phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu là số liệu thứ cấp
nhằm nghiên cứu, phân tích, phản ánh về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; tình
hình thực hiện thu ngân sách của huyện được thu thập từ sách báo, tạp chí các trang
web, các báo các của các phòng, ban, ngành của huyện Tiên Lãng.
Thu thập thông qua báo cáo quyết toàn thu ngân sách hàng năm của Ủy ban
nhân dân huyện, tài liệu về tình hình phát triển kinh tế-xã hội huyện giai đoạn 2009-
2012 vừa qua, chủ yếu dựa trên những nội dung về: tình hình tăng trưởng chung của
nền kinh tế, cơ cấu thành phần, tốc độ tăng trưởng của một số ngành, lĩnh vực để tiến
+ Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê mô tả
Sau khi cập nhật, tiến hành phân tích thống kê, tổng hợp thống kế, tính toán
các loại số tuyệt đối, tương đối, số bình quân, các chỉ số. Sử dụng các chỉ tiêu số
tuyệt đối, số tương đối, bình quân để so sánh và phân tích nhằm đánh giá được các
nhân tố ảnh hưởng tới thu ngân sách, những hạn chế, tồn tại trong công tác thu ngân
sách trên địa bàn huyện trong thời gian vừa qua.
- Phương pháp thống kê so sánh
Đây là phương pháp được áp dụng rất phổ biến; so sánh trong phân tích là
đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội
dung bao gồm so sánh qua các năm, so sánh việc thực hiện thu so với kế hoạch, có
tính chất tương tự để xác định xu hướng biến động của các chỉ tiêu, nhằm tổng hợp 4
những cái chung, tách ra được những cái riêng của chỉ tiêu được so sánh. Trên cơ sở
đó có thể đánh giá được một cách khách quan của thực trạng thu ngân sách của

hàng năm.
- Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
NSNN, ví dụ:
+ Theo các nhà kinh tế phương Tây: NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước
+ Các nhà kinh tế Trung Quốc cho rằng: NSNN là kế hoạch thu, chi tài chính
hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình thự pháp luật quy định.
+ Các nhà kinh tế Nga cho rằng: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng
tiền trong một giai đoạn nhất định
Từ điển tiếng Việt thông dụng định nghĩa: “Ngân sách: Tổng số thu và chi
của một đơn vị trong một thời gian nhất định”.
Điều 1 của Luật Ngân sách Nhà nước được Quốc hội khóa XI nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 khẳng định:
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo 6
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Trong khái niệm, ngân sách được hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi. Về bản
chất, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước với
các chủ thể khác như: doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.
Ngân sách Nhà nước được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, điều
này thể hiện tính hệ thống của ngân sách nhà nước, bao gồm: ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị
hành chính cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Phù hợp với mô hình tổ
chức chính quyền Nhà nước ta hiện nay, ngân sách địa phương gồm: ngân sách cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), ngân sách
cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp

có các khoản thu từ phí, lệ phí, tiền thu hồi vốn ngân sách, thu hồi tiền cho vay (cả
gốc và lãi), thu từ vốn góp của Nhà nước, thu sự nghiệp
Thu ngoài nước là những khoản thu phát sinh không tại Việt Nam bao gồm:
các khoản đóng góp tự nguyện, viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước,
các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt
Nam.
Ngoài ra, để đáp ứng yêu cầu chi, chính phủ có thể vay nợ trong nước, ngoài
nước thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu, vay ODA,
Việc phân loại theo các khoản thu ngân sách trên cho phép đánh giá được
mức độ huy động các nguồn thu ở các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế;
cũng như tổng quan thu trong nước, ngoài nước. Từ đó có chính sách, biện pháp
khai thác các nguồn thu hợp lý ở các khu vực, cân đối trong và ngoài nước.
- Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta gồm:
+ Thuế, phí, lệ phí do tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. 8
+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp
luật (tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay; thu
nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế…).
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và
đất công ích; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; thu từ bán hoặc cho thuê tài sản
thuộc sở hữu nhà nước.
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài
nước.
+ Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá
nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ quan,
đơn vị nhà nước.
+ Thu từ Quỹ đất dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách.
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp nguồn tài chính
từ ngân sách cho phần lớn các hoạt động kinh tế - xã hội. Bởi vậy, ngân sách nhà
nước được hiểu như là ngân sách của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Toàn bộ nguồn
lực xã hội đều tập trung trong tay nhà nước, và việc sử dụng các nguồn lực này
không mang lại hiệu quả như mong muốn.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước xóa bỏ dần những can thiệp
trực tiếp vào hoạt động kinh tế - xã hội, chủ yếu thực hiện chức năng quản lý và
điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, việc bao cấp cho các hoạt động kinh tế - xã hội cũng
giảm dần. Bởi vậy, thể hiện chức năng phân bổ nguồn lực, thu NSNN chỉ tập trung
vào một phần những nguồn lực của xã hội để phục vụ cho những mục tiêu trọng
điểm, những gì mà thị trường còn chưa tính đến.
Kết quả trực tiếp của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực là các quỹ
ngân sách được tạo lập, được phân phối và sử dụng. Việc tạo lập, phân phối và sử
dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ ngân sách đó chính là sự phân bổ một cách
tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể công, nó tác 10
động mạnh mẽ tới việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của toàn xã hội:
thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế xã hội bằng việc tính toán, sắp
xếp các tỷ lệ cân đối quan trọng trong phân bổ các nguồn tài chính. Một sự phân bổ
như thế sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững và ổn định
của nền kinh tế.
Chức năng phân bổ của thu NSNN, thể hiện ở việc thu ngân sách phải trên
cơ sở thực lực nguồn lực tài chính của toàn xã hội, có cân nhắc cho phù hợp với đặc
điểm, tình hình của đất nước trong từng thời kỳ và theo sát các kế hoạch, chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng là một tiêu chuẩn quan trọng. Phân bổ
nguồn lực tài chính phải nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô là hiệu quả,
ổn định và phát triển kinh tế.
1.2.2. Chức năng phân phối lại thu nhập

thu nhập mà các chủ thể trong xã hội đang nắm giữ. Sự điều chỉnh này được thực
hiện theo hai hướng là điều tiết bớt các thu nhập cao và hỗ trợ các thu nhập thấp.
Đối với những thu nhập do thị trường hình thành như tiền lương của người lao
động, lợi nhuận doanh nghiệp, thu nhập về cho thuê, thu nhập về tài sản, thu nhập
về lợi tức cổ phần thì chức năng của thu NSNN là thông qua việc phân phối lại để
điều tiết. Những nhu cầu như y tế, bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, bảo đảm xã
hội thì được đáp ứng thông qua phân phối tập trung từ nguồn thu NSNN.
Trong việc điều tiết thu nhập, thu thuế là biện pháp chủ yếu. Thông qua các thứ
thuế gián thu để điều tiết tương đối giá cả của các loại hàng hóa, từ đó điều tiết sự phân
phối các yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế. Thông qua thuế thu nhập doanh
nghiệp để điều tiết lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông qua thuế thu nhập cá nhân để
điều tiết thu nhập lao động và thu nhập phi lao động của cá nhân (thu nhập về tài sản,
tiền cho thuê, lợi tức ). Thông qua công cụ thuế, các thu nhập cao được điều tiết bớt
một phần và được tập trung vào NSNN.
Trong việc hỗ trợ thu nhập, chi tiêu công là biện pháp chủ yếu. NSNN sử
dụng các nguồn tài chính đã tập trung được, trong đó có một phần là nguồn tài
chính điều tiết từ các thu nhập cao, để chi cho các biện pháp văn hóa xã hội kể trên 12
nhằm hỗ trợ thu nhập cho những người có thu nhập thấp. Như vậy, với tư cách là
chủ thể của chức năng tái phân phối thu nhập, Nhà nước đóng vai trò như người
trung gian trong việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, hạ thấp bớt các
thu nhập cao và nâng cao thêm các thu nhập thấp nhằm rút ngắn độ chênh lệch về
thu nhập giữa các cá nhân.
Khác với chức năng phân bổ nguồn lực, chức năng phân phối lại thu nhập
được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh xã hội của sự phân phối. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là cần nhận thức và xử lý hợp lý mối quan hệ giữa mục tiêu
công bằng và mục tiêu hiệu quả của kinh tế vĩ mô. Trong nhiều trường hợp, để đạt
mục tiêu công bằng, sự phân phối lại làm tổn hại tới mục tiêu hiệu quả. Chẳng hạn,

1.3.2 NSNN là công cụ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền
kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững.
Thông qua các khoản chi kinh tế và chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế, phát triển những ngành mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị
trường; đẩy mạnh các mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu…Chính phủ có thể tạo
điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những
vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới cũng như tạo môi trường thuận lợi
cho sản xuất kinh doanh. Các khoản chi này của NSNN không thu hồi trực tiếp,
nhưng hiệu quả của nó lại được tính bằng sự tăng trưởng của GDP, sự phân bổ
chung hợp lý của nền kinh tế hoặc bằng các chỉ tiêu khác như tạo ra khả năng tăng
tốc độ lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ…
Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát
triển sản xuất. Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn,
giảm thuế có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp. Như vậy có
thể thấy chính sách thu, chi ngân sách gắn liền với chính sách phát triển kinh tê-xã
hội và phục vụ trực tiếp cho chính sách này của Nhà nước.
1.3.3 NSNN là công cụ để điểu tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối đến giá cả thị trường 14
rất mạnh mẽ. Mọi sự biến động của giá cả trên thị trường đều có nguyên nhân từ sự
mất cân đối giữa cung và cầu. Để ổn định giá cả, Chính phủ có thể thông qua công
cụ NSNN để tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này
có thể được thực hiện theo hai hướng: thu và chi NSNN, cụ thể: thông qua điều
chỉnh chính sách thu NSNN bằng việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống thuế, thuế suất,
chính sách miễn giảm thuế hợp lý Chính phủ cũng có thể tác động vào tổng cung
hoặc tổng cầu để góp phần ổn định giá cả trên thị trường; thông qua chính sách chi
tiêu của NSNN bằng nguồn cấp phát của chi tiêu NS hàng năm các quỹ dự trữ được
hình thành. Thông qua các quỹ này, Chính phủ thực hiện điều tiết thị trường bình ổn

lệ phí.
Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp
luật gồm:
- Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế;
- Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi).
- Thu từ nhập vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi
nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia
góp vốn của nhà nước theo quy định của Chính phủ.
Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự nghiệp.
Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích.
Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước.
Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước.
Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo
quy định tại Khoản 3 Điều 8 luật NSNN.
Phần nộp cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền bán
hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước. 16
Cách khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá
nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam, các tổ chức nhà nước thuộc đia
phương theo quy định.
Thu quỹ dự trữ tài chính.
Thu kết dư ngân sách.
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm:
- Các khoản di sản nhà nước được hưởng.
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phạt, tịch thu.
- Thu hồi dữ trữ Nhà nước.
- Thu chênh lệch giá, phụ thu.

nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam;
- Phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản
phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí
xăng dầu và lệ phí trước bạ;
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự
nghiệp của các đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;
- Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Thu kết dư ngân sách trung ương;
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước chuyển sang;
- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác quả ngân sách trung ương theo quy
định của pháp luật.
18
*Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung
ương và ngân sách đia phương
- Thuế GTGT, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu quy định tại
điểm a Khoản 1 Điều này và thuế GTGT thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các
đơn vị hoạh toán toàn ngành quy định tại điểm d Khoản 1 Điều này và thuế thu
nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiên thiết;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, không kể quy định tại điểm
đ Khoản 1 Điều này;
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước không kê thuế
tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Phí xăng, dầu.
Nguồn thu của ngân sách địa phương
* Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%:
- Thuế nhà, đất;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status