ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SAU 1 HỌC KỲ HỌC TẬP NĂM HỌC 2014 - 2015 - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA
NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SAU 1 HỌC KỲ HỌC TẬP
NĂM HỌC 2014 - 2015”
Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
VŨ QUANG VINH
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA
NỮ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SAU 1 HỌC KỲ HỌC TẬP
NĂM HỌC 2014 - 2015”

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Người hướng dẫn khoa học: Sinh viên thực hiện:
Th.S Nguyễn Anh Thuận Vũ Quang Vinh
Chuyên ngành: GDTC
Lớp Điền kinh, Khoá: 34
2
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
3
MỤC LỤC

giúp các em tự tin, hoạt bát, năng động hơn trong quá trình học những môn văn hóa
khác.
Học tập Điền kinh còn giúp cho sinh viên phát triển đều đặn những nhóm cơ
chủ yếu, tạo điều kiện hình thành tư thế đúng, điều chỉnh trọng lượng cơ thể, trong
5
quá trình học tập môn điền kinh sẽ có tác dụng tăng độ dài xương, làm chiều cao
của các em tăng lên. Ngoài ra, việc tập luyện thường xuyên các môn điền kinh còn
góp phần rèn luyện ý chí, giáo dục ý thức, khắc phục khó khăn cho sinh viên.
Hiện nay, những bài tập điền kinh trở thành nội dung bắt buộc trong chương
trình GDTC cho sinh viên các trường đại học để phát triển các tố chất thể lực chung
(nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo khéo léo) cho các em. Chính vì thấy được vai trò
quan trọng của các tố chất thể lực chung nên Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ra quyết
định( số 53/2008/QĐ-BGDĐT) ngày 18 tháng 9 năm 2008 để đánh giá thể lực
chung của học sinh và sinh viên. Tuy nhiên thực tế cho thấy các tố chất thể lực
chung của nữ sinh viên các trường đại học so với tiêu chuẩn của Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo còn nhiều em chưa đạt chuẩn.
Vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đánh giá sự phát triển thể lực của nữ
sinh viên trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM sau 1 học kỳ học tập
năm học 2014-2015”.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
(Xem chi tiết ở KLTN)
1.1. Những quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất trong
trường học.
1.2. Thực trạng nội dung chương trình, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực
của Bộ môn giáo dục thể chất trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật
Thành Phố Hồ Chí Minh.
1.3. Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi (18-20).
1.4. Mối quan hệ giữa các tố chất thể lực.
CHƯƠNG II MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ - PHƯƠNG PHÁP - ĐỐI TƯỢNG
VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3.1. Đánh giá thực trạng thể lực của nữ sinh viên Trường ĐH SPKT TP.HCM
theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT ban hành năm 2008.
3.1.1. Đánh giá thực trạng thể lực của nữ sinh viên Trường ĐH SPKT
TP.HCM.
Qua bảng 3.1 có thể thấy:
- Ở chỉ tiêu Lực bóp tay thuận (kg) có giá trị trung bình = 27,73 với độ lệch chuẩn
σ = 5,51,có hệ số biến thiên 10% < Cv% = 19,88% <20% chứng tỏ mẫu có độ đồng
7
nhất trung bình. Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,03 < 0,05 nên có thể kết luận
giá trị trung bình có thể đại diện cho tổng thể.
- Ở chỉ tiêu Nằm ngửa gập bụng 30s (lần) có giá trị trung bình = 15,85 với độ lệch
chuẩn σ = 2,97,có hệ số biến thiên 10% < Cv% = 18,74% <20% chứng tỏ mẫu có
độ đồng nhất trung bình. Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,03 < 0,05 nên có thể
kết luận giá trị trung bình có thể đại diện cho tổng thể.
- Ở chỉ tiêu Bật xa tại chỗ (cm) có giá trị trung bình = 163,88 với độ lệch chuẩn σ
= 13,91,có hệ số biến thiên Cv% = 8,49% <10% chứng tỏ mẫu có độ đồng nhất
cao. Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,01 < 0,05 nên có thể kết luận giá trị
trung bình có thể đại diện cho tổng thể.
- Ở chỉ tiêu Chạy 30m XPC (giây) có giá trị trung bình = 6,77 với độ lệch chuẩn σ
= 0,51,có hệ số biến thiên Cv% = 7,50% <10% chứng tỏ mẫu có độ đồng nhất cao.
Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,01 < 0,05 nên có thể kết luận giá trị trung
bình có thể đại diện cho tổng thể.
- Ở chỉ tiêu Chạy con thoi 4 x 10m (giây) có giá trị trung bình = 13,21 với độ lệch
chuẩn σ = 0,72,có hệ số biến thiên Cv% = 5,48% <10% chứng tỏ mẫu có độ đồng
nhất cao. Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,01 < 0,05 nên có thể kết luận giá trị
trung bình có thể đại diện cho tổng thể
- Ở chỉ tiêu Chạy tùy sức 5 phút (m) có giá trị trung bình = 855,12 với độ lệch
chuẩn σ = 59,26,có hệ số biến thiên Cv% = 6,93% <10% chứng tỏ mẫu có độ đồng
nhất cao. Chỉ tiêu này có sai số tương đối ε = 0,01 < 0,05 nên có thể kết luận giá trị
trung bình có thể đại diện cho tổng thể.

loại đạt là 69 chiếm tỷ lệ 40,6%, loại chưa đạt là 36 chiếm tỷ lệ 21,2%.
- Ở chỉ tiêu Chạy 30m XPC (s) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 3 chiếm tỷ lệ 1,8%,
loại đạt là 88 chiếm tỷ lệ 51,8%, loại chưa đạt là 79 chiếm tỷ lệ 46,5%.
- Ở chỉ tiêu Chạy con thoi 4 x 10m (s) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 7 chiếm tỷ lệ
4,1%, loại đạt là 59 chiếm tỷ lệ 34,7%, loại chưa đạt là 104 chiếm tỷ lệ 61,2%.
9
- Ở chỉ tiêu Chạy tùy sức 5 phút (m) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 18 chiếm tỷ lệ
10,6%, loại đạt là 4,7 chiếm tỷ lệ 27,6%, loại chưa đạt là 105 chiếm tỷ lệ 61,8%.
Xét tỷ lệ phần trăm trung bình của 6 chỉ tiêu đánh giá thể lực của Bộ GD&ĐT
quy định thì nữ sinh viên Trường ĐH SPKT TP.HCM có 17,0% xếp loại tốt, 34,2%
xếp loại đạt và 48,8% xếp loại chưa đạt. Cụ thể hơn, đề tài tiến hành biểu thị tỷ lệ
phần trăm xếp loại của 6 chỉ tiêu đánh giá thể lực qua biểu đồ 3.1.
- Tóm lại: Qua kết quả trên tôi thấy:
+ Về chỉ số trung bình của các chỉ tiêu đại diện được cho tổng thể. Trong đó
có 2 chỉ số trung bình của chỉ tiêu mẫu có độ đồng nhất được đánh giá ở mức trung
bình là lực bóp tay thuận với hệ số biến thiên C
v
= 10%<19,88%<20% và nằm ngửa
gập thân với hệ số biến thiên C
v
= 10%<18,74%<20%.
+ Thực trạng khi so sánh 6 chỉ tiêu của các em nữ sinh viên trường ĐH
SPKT TP.HCM với chỉ tiêu đánh giá của Bộ GD&ĐT theo lứa tuổi 19 tôi nhận thấy
có 2 chỉ tiêu đạt và 4 chỉ tiêu không đạt. Hai chỉ tiêu đạt là : Lực bóp tay thuận với
= 27,73>26,7 và bật xa tại chỗ với = 163,88 >153.
+ Về phân loại tỷ lệ phần trăm mức phân loại chỉ tiêu thể lực ban đầu của nữ
sinh viên Trường ĐH SPKT TP.HCM: Tỷ lệ phần trăm các chỉ tiêu thể lực không
đạt chiếm rất cao 48,8%. Các chỉ tiêu ở mức đạt và mức tốt còn rất thấp (mức trung
bình là 34,2% ; mức tốt là 17%) được thể hiện cụ thể ở biểu đồ 3.1.
3.2. Đánh giá sự phát triển các chỉ tiêu thể lực của nữ sinh viên Trường ĐH

1
= 163,88±13,91; giá
trị trung bình sau 1 học kỳ học tập
2
= 170,27±15,60. Trước và sau quá trình học
tập có sự thay đổi với hệ số d = 6,39 và có nhịp tăng trưởng W% = 3,82%. Sự khác
biệt mang ý nghĩa về mặt toán học thống kê ở ngưỡng xác suất P < 0,05 do có t
tính
=
12,491 > t
0,05.
- Ở chỉ tiêu Chạy 30m XPC (s) có giá trị trung bình ban đầu
1
= 6,77±0,51; giá trị
trung bình sau 1 học kỳ học tập
2
= 6,60±0,56. Trước và sau quá trình học tập có
sự thay đổi với hệ số d = -0,16 và có nhịp tăng trưởng W% = -2,43%. Sự khác biệt
mang ý nghĩa về mặt toán học thống kê ở ngưỡng xác suất P < 0,05 do có t
tính
=
9,173 > t
0,05.
- Ở chỉ tiêu Chạy con thoi 4 x 10m (s) có giá trị trung bình ban đầu
1
= 13,21±0,72;
giá trị trung bình sau 1 học kỳ học tập
2
= 13,16±0,79. Trước và sau quá trình học
tập có sự thay đổi với hệ số d = -0,05 và có nhịp tăng trưởng W% = -0,34%. Sự

- Ở chỉ tiêu Chạy 30m XPC (s) có giá trị trung bình = 6,60 < 6,70. Xếp loại đạt
theo quy định của Bộ GD&ĐT.
- Ở chỉ tiêu Chạy con thoi 4 x 10m (s) có giá trị trung bình = 12,88 < 13. Xếp loại
đạt theo quy định của Bộ GD&ĐT.
- Ở chỉ tiêu Chạy tùy sức 5 phút (m) có giá trị trung bình = 877,71 > 870. Xếp loại
đạt theo quy định của Bộ GD&ĐT
Cụ thể hơn, đề tài tiến hành phân loại số lượng nữ sinh viên Trường ĐH SPKT
TP.HCM theo quy định của Bộ GD&ĐT sau đó tính toán tỷ lệ phần trăm của từng
chỉ tiêu được trình bày ở bảng 3.6.
Qua bảng 3.6 có thể thấy:
- Ở chỉ tiêu Lực bóp tay thuận (kg) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 58 chiếm tỷ lệ
34,1%, loại đạt là 44 chiếm tỷ lệ 25,91%, loại chưa đạt là 68 chiếm tỷ lệ 40,01%.
- Ở chỉ tiêu Nằm ngửa gập bụng (lần/30 giây) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 53
chiếm tỷ lệ 31,21%, loại đạt là 25 chiếm tỷ lệ 14,71%, loại chưa đạt là 92 chiếm tỷ
lệ 54,11%.
- Ở chỉ tiêu Bật xa tại chỗ (cm) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 81 chiếm tỷ lệ
47,661%, loại đạt là 62 chiếm tỷ lệ 36,51%, loại chưa đạt là 27 chiếm tỷ lệ 15,91%.
12
- Ở chỉ tiêu Chạy 30m XPC (s) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 3 chiếm tỷ lệ 1,81%,
loại đạt là 104 chiếm tỷ lệ 61,21%, loại chưa đạt là 63 chiếm tỷ lệ 37,11%.
- Ở chỉ tiêu Chạy con thoi 4 x 10m (s) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 11 chiếm tỷ
lệ 6,51%, loại đạt là 74 chiếm tỷ lệ 43,51%, loại chưa đạt là 85 chiếm tỷ lệ 50,01%.
- Ở chỉ tiêu Chạy tùy sức 5 phút (m) số lượng sinh viên xếp loại tốt là 27 chiếm tỷ lệ
15,91%, loại đạt là 52 chiếm tỷ lệ 30,61%, loại chưa đạt là 91 chiếm tỷ lệ 53,51%.
Để có cái nhìn tổng quan hơn về sự tăng tiến của các chỉ tiêu đánh giá thể lực
của nữ sinh viên Trường ĐH SPKT TP.HCM đề tài tiến hành biểu thị xếp loại theo
mức quy định của Bộ GD&ĐT là: tốt, đạt và chưa đạt qua các biểu đồ 3.3; 3.4; 3.5;
3.6; 3.7; 3.8.
- Tóm lại:
+ Giá trị trung bình của 6 chỉ tiêu sau 1 học kỳ học tập có tăng tiến rõ rệt biểu

Kết luận:
1. Qua thực trạng các chỉ tiêu thể lực của nữ sinh viên ĐH SPKT TP.HCM
cho thấy: Có 2 chỉ tiêu có độ đồng nhất trung bình và 4 chỉ tiêu có độ đồng nhất
cao. Khi so sánh thực trạng các chỉ tiêu với tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT tôi quan
sát thấy: Có 2 chỉ tiêu ( lực bóp tay thuận; bật xa tại chỗ) là đạt, 4 chỉ tiêu còn lại
chưa đạt, được biểu thị rõ ở bảng 3.2 và bảng 3.3. Tỉ lệ trung bình phần trăm chỉ
tiêu thể lực chưa đạt chiếm tỉ lệ cao 48,8%, có 17% xếp loại tốt, 34% xếp loại
đạt.
2. Thực tế khách quan khi so sánh chỉ tiêu thể lực của nữ sinh viên ĐH
SPKT TP.HCM sau 1 học kỳ học tập với 6 chỉ tiêu của Bộ GD&ĐT ban hành
năm 2008 tôi có kết luận như sau:
+ Sau 1 học kỳ học tập các chỉ tiêu thể lực của các em nữ sinh viên ĐH
SPKT TP.HCM đã có sự phát triển tỉ lệ phần trăm không đạt giảm xuống 6.99%,
tỉ lệ phần trăm đạt mức trung bình tăng lên 1.21%. Tỉ lệ phần trăm đạt ở mức tốt
tăng lên 5.81% được biểu thị rõ ở bảng 3.3, bảng 3.6 và biểu đồ 3.9.
+ Điều đó cho thấy việc sử dụng các bài tập GDTC của trường chưa phù
hợp với đặc điểm tâm, sinh lý và năng lực hoạt động của các em theo lứa tuổi.
(đặc biệt là các sinh viên nữ với tâm lý nhút nhát). Sinh viên của trường hiện
nay thường quá tập trung vào học những môn lý thuyết mà coi nhẹ việc tự rèn
luyện thể lực cho nên không giành nhiều thời gian để tự tập ở nhà. Vấn đề nâng
cao thể lực cho sinh viên nữ của trường hiện nay chưa được các giảng viên quan
tâm đa dạng hóa các bài tập phát triển thể lực. Bên cạnh đó việc sử dụng một số
bài tập phát triển thể lực chung trong giảng dạy môn GDTC nhằm nâng cao thể
14
lực cho sinh viên nữ còn ít, dẫn đến kết quả đạt được trong quá trình học tập và
rèn luyện theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ GD&ĐT còn thấp.
Kiến nghị:
Từ những kết luận trên của đề tài tôi đi đến một số kiến nghị sau:
- Cần quan tâm đến việc lựa chọn các bài tập phát triển cho các em sinh
viên nữ để các em tập luyện và phát triển thể lực theo đúng tiêu chuẩn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status