Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật đối với giống cam vinh trồng tại huyệ lục ngạn, tỉnh bắc giang - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG CAM VINH TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN DANH ĐỨC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG CAM VINH TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THẾ HUẤN
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Danh Đức
ii
LỜI CẢM ƠN

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Đặc điểm nông sinh học 3
1.1.2. Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng 4
1.2. Nguồn gốc 4
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 5
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 5
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 6
1.4. Tình hình nghiên cứu về cam quýt 11
1.4.1. Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học 11
1.4.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học. 14
1.4.3. Một số nghiên cứu về phân bón cho cây cam quýt 23
1.4.4. Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa
sinh trưởng cho cây cam 27
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1. Đối tượng nghiên cứu 34
iv
2.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 34
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 34
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: 34
2.3. Vật liệu nghiên cứu 34
2.4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1. Nội dung nghiên cứu 35
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu và tính toán 39
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất cây ăn quả của
huyện Lục Ngạn - Bắc Giang 40
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2. Tình hình sản xuất cây ăn quả ở Lục Ngạn 42
3.2. Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ăn quả có múi 44

: Cây ăn quả
: Chiều cao
: Công thức
: Đồng bằng sông Cửu Long
: Đường kính
: Nghiên cứu cây ăn quả
: Food and Agricultural Organization of
the United National
: Trung bình
: Thời gian
: Thứ tự
: Good Agricultural Practices
: Quản lý dịch hại tổng hợp
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011 6
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam 10
Bảng 1.3. Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phương pháp nhân giống 15
Bảng 1.4. Dinh dưỡng trong lá cam 7 -10 tuổi (lá 4 - 7 tháng tuổi/cành
không quả) 27
Bảng 3.1. Cơ cấu cây ăn quả của huyện Lục Ngạn năm 2012 43
Bảng 3.2. Phương pháp nhân giống cam quýt phổ biến tại Lục Ngạn 44
Bảng 3.3. Tình hình chăm sóc và quản lý vườn cây ăn quả có múi của
nhân dân Lục Ngạn -Bắc Giang 47
Bảng 3.4. Thời gian ra lộc và khả năng sinh trưởng các đợt lộc
của cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 49
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu về đặc điểm hình thái của cam Vinh tại Lục
Ngạn - Bắc Giang 50
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu của quả cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 51
Bảng 3.7. Các yếu tố cấu thành năng suất của cam Vinh tại Lục Ngạn -

điều hòa sinh trưởng 65
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cam (Citrus sinensis) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị
kinh tế cao trên thị trường. Quả cam ăn tươi có tác dụng bồi bổ sức khoẻ cho
con người, hàng năm tạo ra một lượng hàng hoá lớn trên thị trường. Cam ở
Việt Nam được coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp, vị
ngọt, hương thơm nên rất hợp với khẩu vị của người á đông. Hiện tại có rất
nhiều giống cam ngon như: Cam Sành - Bắc Giang, Cam Vinh - Nghệ An,
Cam Đường Canh - Hưng Yên, Cam Sành Hàm Yên - Tuyên Quang, Cam
Phố Thượng - Yên Bái….
Lục Ngạn - Bắc Giang là vùng vải hàng hóa lớn, nhưng hiện nay do các
yếu tố thị trường nên trồng vải gặp nhiều khó khăn để ổn định và phát triển
nghề trồng cây ăn quả của địa phương, nhiều giống cây trong đó có cây cam
Vinh đã được du nhập vào Lục Ngạn. Với các yếu tố khí hậu, thổ nhưỡng mới
đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng được di thực.
Để góp phần khai thác hết tiềm năng của giống cam Vinh tại địa phương đây
là nghiên cứu rất cần thiết và ý nghĩa thực tiễn cao.
Việc phát triển cây Cam Vinh tại Bắc Giang hiện nay là tự phát, chưa
có các nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh trưởng phát triển nên chưa có căn
cứ để đánh giá khả năng tính thích nghi của cây Cam Vinh trồng tại vùng sinh
thái của Bắc Giang. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật
đối với giống cam Vinh trồng tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang”
2
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Đánh giá được đặc điểm nông sinh học của giống cam Vinh tại huyện
Lục Ngạn - Bắc Giang.

Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một
năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông). Quá trình ra
lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng
điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra
lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nếu có các biện pháp
kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện
tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân
đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao
năng suất, chất lượng của cam quýt. Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá
trình ra lộc, mối liên hệ của các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các thông tin cơ
bản - tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết.
Đối với việc sử dụng phân bón lá cho cây cam quýt: Cây trồng hấp thu dinh
dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là
không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng. Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm
bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết.
Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được
thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng. Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp
thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh
dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh,
cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả.
4
1.1.2. Sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng
Cây trồng nói chung và cam quýt nói riêng luôn tồn tại cơ chế các quá trình
sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự
sống. Các chất điều hòa sinh trưởng khác nhau được tổng hợp với một lượng rất
nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ
phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây.
Gibberellin (GA
3
) được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây

Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Isaren, Tunisia, Algeria
- Vùng Bắc Mỹ bao gồm các nước: Hoa Kỳ, Mexico
- Vùng Nam Mỹ bao gồm các nước: Braxin, Venezuela, Argentina,
Uruguay.
- Vùng Châu Á bao gồm các nước: Trung Quốc và Nhật Bản.
- Các hòn đảo Châu Mỹ bao gồm các nước: Jamaica, Cu Ba, Cộng hòa
Dominica.
Theo thống kê của FAO, năm 2000 tổng sản lượng cam quýt trên thế
giới là 85 triệu tấn và phần tiêu thụ khoảng 79,3 triệu tấn, tăng trưởng hàng
năm 2,85%. Tiêu thụ sẽ tăng lên ở các nước đang phát triển và giảm ở các
nước phát triển. Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi,
tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-22
0
nam và
bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độ nam và bắc bán cầu, có khi lên tới
40 vĩ độ nam và bắc bán cầu. Dự báo trong những năm của thập kỷ 2000 mức
tiêu thụ quả có múi của thị trường thế giới tăng khoảng 20 triệu tấn.
Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Ma
rôc, Italia. Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là:
Washington, Navel, Valenxia Late của Ma Rôc, Samouti của Isarel, Maltaises
của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đá Danxy
và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng.
6
Bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn/ha)
2005
7.938.502

(năm 2010) lên 9.231.709 ha (tăng 482.565 ha); từ năm 2005 - 2011 diện tích
trên thế giới tăng 1.239.207 ha.
Xuất khẩu quả có múi hiện nay ước tính khoảng 10% sản lượng thu
hoạch của cây ăn quả có múi. Phần lớn lượng quả có múi xuất khẩu là ở vùng
Bắc bán cầu, chiếm 62% sản lượng quả có múi xuất khẩu của thế giới.
Quả có múi chủ yếu được tiêu thụ ở các nước phát triển, mặc dù tiêu
thụ quả có múi bình quân trên đầu người ở các nước đang phát triển đang tăng
lên theo thu nhập tăng.
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây
trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt. Theo sử
sách "Vân đài loại ngữ" của Lê Quý Đôn có viết: Nước Việt Nam cũng có rất
nhiều thứ cam: Cam Sen (gọi là Liên Cam), cam Vú (Nhũ cam) loại quả có vá
máng và mỡ, vừa chua vừa ngọt; cam sành (Sinh cam) vá dày, vị chua; cam
Mật (mật cam) vá máng, vị chua; cam Động Đình quả to, vá dày, vị chua;
7
cam Giấy (chỉ cam) tức là Kim quýt, vá rất máng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị
chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ Cống và sách Thu Thư là tài
sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc trước tiên.
Cam quýt được trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất
nước. Theo tổng cục thống kê tính đến năm 2008 cả nước có 87.500 ha với
sản lượng 683.300 tấn.
* Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
+ Vùng đồng bằng sông cửu long
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9
0
15’ đến
10
0

Huyện Hương Khê là một trong những vùng đất miền núi của tỉnh Hà
Tĩnh. Nhân dân ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc
Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon nhất hiện nay. Ngoài bưởi
Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng đó là cam Bù.
Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ
cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay. Cam Bù có năng suất cao nhờ có
bộ lá quang hợp tốt và số lượng lá/cây lớn, có tính chịu hạn tốt. Cam Bù
thường được trồng với mật độ cao (600 - 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao
tán, che phủ đất trống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp.
+ Vùng miền núi Phía Bắc
Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Tuyên Quang,
Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên
với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng
ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Gâm, Sông
Thương, Sông Chảy cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha
hoặc trên 1000 ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm
Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này
cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất. Do loại hình sinh
thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc
là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng.
Lục Ngạn là một huyện nằm về phía đông của tỉnh Bắc Giang từ lâu đã
là vùng đất rất thích hợp trồng các loại cây ăn quả, đặc biệt nổi tiếng với vải
thiều Lục Ngạn. Trong mấy năm gần đây Lục Ngạn đang có kế hoạch trồng
nhiều loại cây ăn quả mới như: hồng Nhân Hậu, táo Đài Loan, thanh long ruột
9
đỏ, các loại cây ăn quả có múi; đặc biệt cây cam Vinh cho thu nhập cao gấp
nhiều lần so với trồng lúa và trồng vải thiều.
Cam quýt của nước ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi
tiếng đặc trưng cho vùng. Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp

Theo Faostat, diện tích, năng suất và sản lượng cây ăn quả có múi ở
nước ta từ năm 2000 đến năm 2011 có biến động tương đối.
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất cây ăn quả có múi ở Việt Nam
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(tấn)
2000
67.595
58.337
394.332
2003
52.297
99.107
518.300
2007
67.300
100.728
677.900
2008
66.100
106.293
702.600
2009
66.737
107.584

vẫn được quan tâm phát triển mạnh ở Việt Nam.
1.4. Tình hình nghiên cứu về cam quýt
1.4.1. Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học
Cam quýt được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới do có phổ
thích nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lượng cam quýt ngon, mẫu
mã quả đẹp khi được trồng ở vùng á nhiệt đới.
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu được ngập úng do có bộ
rễ cộng sinh với nấm. Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực
nước ngầm sâu dưới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trưởng và phát
triển của bộ rễ cam quýt. Về mặt dinh dưỡng, bên cạnh các nguyên tố đa
lượng như N, P, Kali cam quýt còn cần các nguyên tố trung lượng, vi lượng
như: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các
nguyên tố dinh dưỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trưởng và phát triển
kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm
giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.
- Nhiệt độ
Theo Trần Thế Tục (1980) [6] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam,
quýt, chanh, bưởi sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39
o
C, nhiệt
12
độ thích hợp nhất từ 23-27
o
C. Tại nhiệt độ thấp -5
o
C có một số giống có thể
chịu được trong thời gian rất ngắn. Khi nhiệt độ cao 40
0
C kéo dài trong thời
gian dài trong nhiều ngày cam quýt sẽ ngừng sinh trưởng, biểu hiện bên ngoài

10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm
2
, ứng với ánh sáng lúc 8 - 9h
sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè. Tuy nhiên để
có được lượng ánh sáng như vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý như không
quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi
thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để
13
có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh
trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh.
- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây ưa ẩm, ít chịu hạn, cần nhiều nước nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con và
thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển. Trong năm
cam quýt cần nước từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tuy ưa ẩm nhưng cam
quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho
cây rụng lá, hoa, quả.
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này
không những đảm bảo cho cây sinh trưởng phát triển tốt mà còn cho năng
suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vá máng. Nếu độ ẩm
không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí
quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thường gây hiện
tượng rám nắng và nứt quả.
Theo Hoàng Ngọc Thuận (2000)[4], lượng mưa thích hợp cho các vùng
trồng cam quýt trên dưới 2.000mm, Cam cần 1.200 - 1.500mm, quýt cần
nhiều hơn từ 1.500 - 2.000mm, chanh cần ít nước hơn quýt, lượng nước trong
đất có ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của bộ rễ, lượng nước được coi là đủ
khi nước tự do bằng 1% và độ ẩm đất bằng 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng.
- Gió
Quy luật hoạt động của gió là một vấn đề cần lưu ý trong việc bố trí các

1.4.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học.
+ Rễ
a. Sự phân bố của rễ: Tùy thuộc vào cây giống ban đầu trồng bằng hạt,
cây ghép hay chiết mà rễ phân bố khác nhau. Trồng bằng hạt rễ chính ăn sâu
hơn so với trồng bằng cành chiết. Ngoài ra, sự phân bố của rễ còn quyết định
bởi tuổi cây, tầng canh tác sâu hay cạn, mực nước ngầm cao hay thấp và điều
kiện chăm sóc. Đặc biệt là tầng canh tác có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng
phát triển của rễ. Nơi đất thịt xốp, độ màu mỡ cao, không bị đọng nước, mực
15
nước ngầm cao nên rễ thường ăn sâu, trái lại đất sét nặng, bị đọng nước, mực
nước ngầm cao hoặc đất đồi nhiều đá phát triển trên tầng mặt thỡ rễ ăn cạn
hơn. Kết quả khảo sát cho thấy rễ cam quýt là loại rễ ăn cạn phát triển gần
tầng đất mặt.
Bảng 1.3: Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phương pháp nhân giống
Phương pháp nhân giống
Tầng đất
Bộ rễ cây chiết cành
(%)
Bộ rễ gốc ghép
(%)
0 - 10 cm
27,40
17,95
10 - 20 cm
28,39
29,60
20 - 30 cm
15,20
41,10
30 - 40 cm

b. Sinh trưởng cành: Trong năm có nhiều đợt phát triển cành, căn cứ
vào thời gian ra cành người ta chia làm 4 loại cành: cành xuân, cành hè, cành
mùa thu và cành mùa đông.
Cành mùa xuân là cành quan trọng nhất, thường chiếm số lượng lớn
trong tổng số cành ra trong năm, cành mùa hè phát triển trong điều kiện nhiệt
độ cao, có mưa nên cành phát triển rất mạnh, cành mùa thu phát triển vào mùa
thu. Ngoài ra ở những vùng có nhiệt độ ấm còn ra cành mùa đông, nhưng số
lượng cành mùa đông thường không nhiều. Thời vụ những đợt ra cành như sau:
- Cành mùa xuân tháng 2 - 3
- Cành mùa hè tháng 4 - 6
- Cành mùa thu tháng 8 - 9
- Cành mùa đông tháng 11 - 12
c. Đặc tính của cành: Khi căn cứ vào nhiệm vụ, cành được phân làm
các loại, cành mang trái (cành quả), cành mẹ, cành vượt và cành dinh duỡng
+ Lá
Lá cam quýt làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp các chất dinh dưỡng
cho cây ngoài ra lá còn giữ nhiệm vụ hô hấp và dự trữ các chất dinh dưỡng
nuôi cây. Lá thuộc loại lá đơn, luôn xanh, hàng năm không rụng, trừ những

Trích đoạn Cỏc phương phỏp nhõn giống Kỹ thuật trồng, chăm súc vườn cam quýt Sinh trưởng phỏt triển của cam Vinh tại Lục Ngạn Bắc Giang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status