nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và biện pháp kĩ thuật đối với giống cam vinh trồng tại huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN DANH ĐỨC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT
ĐỐI VỚI GIỐNG CAM VINH TRỒNG
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THẾ HUẤN

THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iii
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả Nguyễn Danh Đức

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
4. Phạm vi nghiên cứu 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1. Đặc điểm nông sinh học 3
1.1.2. Sử dụng các chất điều tiết sinh trƣởng 4
1.2. Nguồn gốc 4
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt 5
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới 5
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt tại Việt Nam 6
1.4. Tình hình nghiên cứu về cam quýt 11
1.4.1. Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học 11
1.4.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học. 14
1.4.3. Một số nghiên cứu về phân bón cho cây cam quýt 24
1.4.4. Một số nghiên cứu về phân bón qua lá và sử dụng chất điều hòa

chất lƣợng của cam Vinh 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1. Kết luận 70
2. Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV
CAQ
CC
CT
ĐBSCL
ĐK
NCCAQ
FAO

TB
TG
TT
GAP
IPM
Bảng 1.3. Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phƣơng pháp nhân giống 15
Bảng 1.4. Dinh dƣỡng trong lá cam 7 -10 tuổi (lá 4 - 7 tháng tuổi/cành
không quả) 29
Bảng 3.1. Cơ cấu cây ăn quả của huyện Lục Ngạn năm 2012 45
Bảng 3.2. Phƣơng pháp nhân giống cam quýt phổ biến tại Lục Ngạn 46
Bảng 3.3. Tình hình chăm sóc và quản lý vƣờn cây ăn quả có múi của
nhân dân Lục Ngạn -Bắc Giang 49
Bảng 3.4. Thời gian ra lộc và khả năng sinh trƣởng các đợt lộc
của cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 51
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu về đặc điểm hình thái của cam Vinh tại Lục
Ngạn - Bắc Giang 52
Bảng 3.6. Một số chỉ tiêu của quả cam Vinh tại Lục Ngạn - Bắc Giang 53
Bảng 3.7. Các yếu tố cấu thành năng suất của cam Vinh tại Lục Ngạn -
Bắc Giang 54
Bảng 3.8. Ảnh hƣởng của một số chế phẩm bón qua lá đến động thái ra
hoa, đậu quả của cam Vinh 55
Bảng 3.9. Ảnh hƣởng của một số chế phẩm bón qua lá đến động thái
rụng quả của cam Vinh 56
Bảng 3.11. Ảnh hƣởng của một số chế phẩm bón qua lá đến chất lƣợng
quả cam Vinh 59
Bảng 3.12. Hiệu quả kinh tế sử dụng các chế phẩm phân bón lá trên
cam Vinh 60
Bảng 3.13. Ảnh hƣởng của một số chất điều hòa sinh trƣởng đến động
thái ra hoa, đậu quả của cam Vinh 62
Bảng 3.14. Ảnh hƣởng của một số chất điều hòa sinh trƣởng đến động
thái rụng quả của cam Vinh 63
Bảng 3.15. Ảnh hƣởng của một số chất điều hòa sinh trƣởng đến các
yếu tố cấu thành năng suất của cam Vinh 64
Bảng 3.16. Ảnh hƣởng của một số chất điều hòa sinh trƣởng đến chất
lƣợng quả cam Vinh 66


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây cam (Citrus sinensis) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị
kinh tế cao trên thị trƣờng. Quả cam ăn tƣơi có tác dụng bồi bổ sức khoẻ cho
con ngƣời, hàng năm tạo ra một lƣợng hàng hoá lớn trên thị trƣờng. Cam ở
Việt Nam đƣợc coi là một trong những loại quả quý vì có mã quả đẹp, vị
ngọt, hƣơng thơm nên rất hợp với khẩu vị của ngƣời á đông. Hiện tại có rất
nhiều giống cam ngon nhƣ: Cam Sành - Bắc Giang, Cam Vinh - Nghệ An,
Cam Đƣờng Canh - Hƣng Yên, Cam Sành Hàm Yên - Tuyên Quang, Cam
Phố Thƣợng - Yên Bái….
Lục Ngạn - Bắc Giang là vùng vải hàng hóa lớn, nhƣng hiện nay do các
yếu tố thị trƣờng nên trồng vải gặp nhiều khó khăn để ổn định và phát triển
nghề trồng cây ăn quả của địa phƣơng, nhiều giống cây trong đó có cây cam
Vinh đã đƣợc du nhập vào Lục Ngạn. Với các yếu tố khí hậu, thổ nhƣỡng mới
đã ảnh hƣởng đến quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây trồng đƣợc di thực.
Để góp phần khai thác hết tiềm năng của giống cam Vinh tại địa phƣơng đây
là nghiên cứu rất cần thiết và ý nghĩa thực tiễn cao.
Việc phát triển cây Cam Vinh tại Bắc Giang hiện nay là tự phát, chƣa

quy trình kĩ thuật chăm sóc cây ăn quả có múi, đặc biệt là cây cam, góp phần
thúc đẩy phát triển cây cam ở địa phƣơng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc quy hoạch vùng sản xuất
cây ăn quả hàng hóa, bƣớc đầu ứng dụng những biện pháp kĩ thuật mới vào sản
xuất nhằm tăng hiệu quả kinh tế nông hộ trồng cam ở Lục Ngạn - Bắc Giang.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đƣợc tiến hành ở các xã trồng cam Vinh thuộc huyện Lục Ngạn -
Bắc Giang. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm nông sinh học
Cam quýt đƣợc xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trƣởng, ra
hoa kết quả chịu ảnh hƣởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố
ngoại cảnh nhƣ nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,
Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một
năm, cam quýt thƣờng ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông). Quá trình ra
lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tƣợng ra quả cách năm và khả năng
điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dƣới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra
lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau. Nếu có các biện pháp
kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện
tƣợng ra quả cách năm, bồi dƣỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân
đối giữa các bộ phận dƣới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao

Tuy còn nhiều tranh cãi nhƣng phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng
các giống cam quýt đƣợc trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới châu Á (Trần Thế Tục (1980)[6]; (1995) [8], đã vạch đƣờng ranh
giới vùng xuất xứ của giống thuộc chi Citrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy núi
Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản .
Theo Trần Thế Tục 1980 [6] nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có
từ 3.000 - 4.000 năm trƣớc, Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục’’ đã ghi
chép và phân loại các giống ở Trung Quốc. Điều này cũng khẳng định thêm
rằng nguồn gốc của các giống cam, chanh (Citrus sinensis Obeck) và các
giống quýt ở Trung Quốc theo đƣờng ranh giới gấp khúc, Tanaka (1954) [23].
Một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) là ở
Miền Nam Việt Nam. Thực tế ở Việt Nam từ Bắc chí Nam ở địa phƣơng nào
cũng có trồng cam sành với rất nhiều vật liệu giống và tên địa phƣơng khác
nhau mà không nơi nào trên thế giới có: cam sành bố hạ, cam sành Hàm Yên,
cam sành Yên Bái, cam sen Đình Cả Bắc Sơn
Cũng có một số tác giả khác cho rằng nguồn gốc các loại cây có múi ở
vùng nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc vùng Châu Á - Thái Bình Dƣơng, mặc dù
có vài loài tìm thấy ở Châu Phi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 5

1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới
Cam quýt nổi tiếng thế giới hiện nay đƣợc trồng phổ biến ở những
vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới
ven biển chịu ảnh hƣởng của khí hậu đại dƣơng.
Các nƣớc trồng cam quýt nổi tiếng hiện nay đó là:


Bảng 1.1: Tình hình sản suất cây có múi trên thế giới từ 2005-2011
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn/ha)
2005
7.938.502
140,935
111.881.366
2006
8.274.554
142,715
118.089.898
2007
8.643.990
134,252
116.047.137
2008
8.745.059
139,963
122.398.510
2009
8.722.682
141,472
123.401.500
2010
8.749.144
140,557
122.975.655

sản rất quý của Nam Phƣơng đem sang Trung Quốc trƣớc tiên.
Cam quýt đƣợc trồng phổ biến nhiều nơi trên khắp mọi miền của đất
nƣớc. Theo tổng cục thống kê tính đến năm 2008 cả nƣớc có 87.500 ha với
sản lƣợng 683.300 tấn.
* Các vùng trồng cam quýt chính ở Việt Nam
+ Vùng đồng bằng sông cửu long
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9
0
15’ đến
10
0
30’ vĩ bắc và 105
0
đến 106
0
45’ độ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có
độ cao từ 3 - 5m so với mặt nƣớc biển. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ,
lƣợng mƣa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất
cây có múi. Lịch sử trồng cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời
nên ngƣời dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc loại cây ăn quả
có múi. Cam quýt đƣợc trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc
trên các cù lao lớn nhá của sông Tiền, sông Hậu có nƣớc ngọt quanh năm, nơi
đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú nhƣ: Cam chanh, cam sành,
Bƣởi, chanh Giấy, quýt
Cam của Nam Bộ trái lớn, hƣơng vị tuyệt hảo, vƣợt xa loại cam mang
từ Trung Hoa vào cùng mùa. Các giống đƣợc ƣa chuộng và trồng nhiều hiện
nay là: cam sành, cam mật, quýt tiều (quýt hồng), quýt siêm, quýt đƣờng,
bƣởi đƣờng, bƣởi năm roi, bƣởi long tuyễn năng suất các giống kể trên ở
điều kiện khí hậu, đất đai vùng đồng bằng sông Cửu long tƣơng đối cao.

Thƣơng, Sông Chảy cam quýt đƣợc trồng thành từng khu tập trung 500 ha
hoặc trên 1000 ha nhƣ ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm
Yên, Chiêm Hóa - Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này
cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất. Do loại hình sinh
thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc
là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng.
Lục Ngạn là một huyện nằm về phía đông của tỉnh Bắc Giang từ lâu đã
là vùng đất rất thích hợp trồng các loại cây ăn quả, đặc biệt nổi tiếng với vải

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9
thiều Lục Ngạn. Trong mấy năm gần đây Lục Ngạn đang có kế hoạch trồng
nhiều loại cây ăn quả mới nhƣ: hồng Nhân Hậu, táo Đài Loan, thanh long ruột
đỏ, các loại cây ăn quả có múi; đặc biệt cây cam Vinh cho thu nhập cao gấp
nhiều lần so với trồng lúa và trồng vải thiều.
Cam quýt của nƣớc ta phong phú về chủng loại giống, có nhiều giống nổi
tiếng đặc trƣng cho vùng. Tuy nhiên việc mở rộng diện tích cam quýt còn gặp
nhiều khó khăn, đó là do điều kiện thời tiết thất thƣờng, cơ sở hạ tầng yếu kém,
tiếp cận thị trƣờng khó khăn, trình độ thâm canh thấp, việc áp dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm chạp do trình độ dân trí không đồng
đều giữa các vùng, công tác bảo vệ thực vật chƣa đƣợc quan tâm chu đáo, công
tác tuyển chọn giống và sản xuất cây giống chất lƣợng chƣa đƣợc chú trọng
đúng mức.
Hàng năm diện tích và sản lƣợng cam quýt ở nƣớc ta tăng nhanh nhƣng
năng suất còn khá khiêm tốn do điều kiện khí hậu thời tiết, do kỹ thuật chƣa
đƣợc áp dụng v.v Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu, Lê Thị Thu
Hồng thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bƣởi

Diện tích
(ha)
Năng suất
/ha)
Sản lƣợng
(tấn)
2000
67.595
58.337
394.332
2003
52.297
99.107
518.300
2007
67.300
100.728
677.900
2008
66.100
106.293
702.600
2009
66.737
107.584
717.981
2010
66.724
116.470
754.938

1.4. Tình hình nghiên cứu về cam quýt
1.4.1. Một số nghiên cứu về đăc điểm sinh thái học
Cam quýt đƣợc trồng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới do có phổ
thích nghi rộng, tuy nhiên năng suất cao và chất lƣợng cam quýt ngon, mẫu
mã quả đẹp khi đƣợc trồng ở vùng á nhiệt đới.
Cam quýt là cây kém chịu hạn và không chịu đƣợc ngập úng do có bộ
rễ cộng sinh với nấm. Vì vậy đất trồng cam quýt cần đủ ẩm, thoáng khí, mực
nƣớc ngầm sâu dƣới 1m là những điều kiện tốt cho sự sinh trƣởng và phát
triển của bộ rễ cam quýt. Về mặt dinh dƣỡng, bên cạnh các nguyên tố đa
lƣợng nhƣ N, P, Kali cam quýt còn cần các nguyên tố trung lƣợng, vi lƣợng
nhƣ: Ca, S, Zn, B, Mo, Mn, Mg, Fe, Cu v.v Nếu thiếu hụt một trong các
nguyên tố dinh dƣỡng trên đều làm cho cam quýt sinh trƣởng và phát triển
kém, khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh kém, làm
giảm năng suất và chất lƣợng sản phẩm.
- Nhiệt độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12
Theo Trần Thế Tục (1980) [6] và nhiều tác giả khác cho rằng cây cam,
quýt, chanh, bƣởi sinh trƣởng đƣợc trong phạm vi nhiệt độ từ 12 - 39
o
C, nhiệt
độ thích hợp nhất từ 23-27
o
C. Tại nhiệt độ thấp -5
o
C có một số giống có thể
chịu đƣợc trong thời gian rất ngắn. Khi nhiệt độ cao 40

C.
- Ánh sáng
Cam quýt là cây ƣa ánh sáng tán xạ, nơi có cƣờng độ ánh sáng từ
10.000 - 15.000 lux, tƣơng ứng với 0,6 cal/cm
2
, ứng với ánh sáng lúc 8 - 9h
sáng và 4 - 5h chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa hè. Tuy nhiên để
có đƣợc lƣợng ánh sáng nhƣ vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý nhƣ không

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 13
quá dày cũng không quá thƣa, vƣờn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi
thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để
có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh
trƣởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh.
- Ẩm độ và lượng mưa
Cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng và ẩm vì vậy cam quýt
là cây ƣa ẩm, ít chịu hạn, cần nhiều nƣớc nhất là thời kỳ nảy mầm, cây con và
thời kỳ phân hóa mầm hoa, thời kỳ kết quả và quả đang phát triển. Trong năm
cam quýt cần nƣớc từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tuy ƣa ẩm nhƣng cam
quýt rất sợ úng đất sẽ bị thiếu oxy, bộ rễ hoạt động sẽ kém vì vậy sẽ làm cho
cây rụng lá, hoa, quả.
Cam quýt yêu cầu độ ẩm không khí 75% và độ ẩm đất 60%, độ ẩm này
không những đảm bảo cho cây sinh trƣởng phát triển tốt mà còn cho năng
suất cao, phẩm chất quả tốt, mẫu mã quả đẹp, quả to, vá máng. Nếu độ ẩm
không khí quá cao hoặc quá thấp đều có hại cho cam quýt, ẩm độ không khí
quá cao và kèm theo nắng to vào tháng 8, tháng 9 hàng năm thƣờng gây hiện
tƣợng rám nắng và nứt quả.

đất chua nhất thiết phải bón vôi để nâng cao độ pH cho đất. Đất trồng cam quýt
cần có độ thoáng cao, nồng độ oxy phải lớn hơn 4% cây mới sinh trƣởng và
phát triển bình thƣờng, nếu hàm lƣợng oxy nhá hơn 2% cây sẽ ngừng sinh
trƣởng. Nếu chúng ta đánh giá mức độ thích nghi của đất đối với cam quýt thì
đất phù sa cổ là tốt nhất, sau đó đến đất phù sa mới bồi hàng năm, đất Bazan,
đất dốc tụ và đất đá phiến sét. Không nên trồng cam quýt trên đất thịt nặng, đất
có tầng canh tác mỏng, đất đá ong và đá lộ đầu hoặc những nơi có mực nƣớc
ngầm cao mà không thể thoát đƣợc nƣớc.
Tóm lại, cam quýt có thể sinh trƣởng, phát triển tốt ở khắp các miền
sinh thái ở Việt Nam, nhƣng lý tƣởng nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía
Bắc của Việt Nam.
1.4.2. Một số nghiên cứu về đặc điểm thực vật học.
+ Rễ
a. Sự phân bố của rễ: Tùy thuộc vào cây giống ban đầu trồng bằng hạt,
cây ghép hay chiết mà rễ phân bố khác nhau. Trồng bằng hạt rễ chính ăn sâu
hơn so với trồng bằng cành chiết. Ngoài ra, sự phân bố của rễ còn quyết định
bởi tuổi cây, tầng canh tác sâu hay cạn, mực nƣớc ngầm cao hay thấp và điều

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 15
kiện chăm sóc. Đặc biệt là tầng canh tác có ảnh hƣởng lớn đến sự sinh trƣởng
phát triển của rễ. Nơi đất thịt xốp, độ màu mỡ cao, không bị đọng nƣớc, mực
nƣớc ngầm cao nên rễ thƣờng ăn sâu, trái lại đất sét nặng, bị đọng nƣớc, mực
nƣớc ngầm cao hoặc đất đồi nhiều đá phát triển trên tầng mặt thỡ rễ ăn cạn
hơn. Kết quả khảo sát cho thấy rễ cam quýt là loại rễ ăn cạn phát triển gần
tầng đất mặt.
Bảng 1.3: Sự phân bố của bộ rễ cam sành theo phƣơng pháp nhân giống
Phƣơng pháp nhân giống

hàm lƣợng chất hòa tan trong quả rất cao dần dần chuyển hóa thành đƣờng,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 16
nên rễ ít bị ức chế, số lƣợng rễ lúc này có tăng nhiều hơn lần thứ hai. Hiện
tƣợng mọc xen trên đứng về mặt sinh lý, đây là sự cân bằng về dinh dƣỡng
phản ánh trong chiều hƣớng sinh trƣởng các bộ phận của cây.
Rễ cây có múi không có tầng lông hút, có nấm cộng sinh làm nhiệm vụ
thay cho lông hút. Trên các tế bào biểu bì của rễ non có những loại nấm sống
trong đất phát triển bao bọc lên cả những khoảng trống giữa tế bào, nấm lấy
dinh dƣỡng là các hợp chất đƣờng bột của tế bào rễ, ngƣợc lại cung cấp lại
cho rễ chất khoáng và chất kích thích đễ phát triển.
+ Thân, cành
a. Hình thái: Cành cam quýt khi còn non, có lớp biểu bì xanh chứa
diệp lục và khí khổng nên có thể tiến hành quang hợp đƣợc nhƣ lá. Cành lúc
đầu có cạnh, khi các tế bào phát triển dần bề ngang và bề dài làm cho cành
mất dần cạnh và tròn dần, cùng với mộc thêm hóa diệp lục tố trên cành mất dần.
b. Sinh trưởng cành: Trong năm có nhiều đợt phát triển cành, căn cứ
vào thời gian ra cành ngƣời ta chia làm 4 loại cành: cành xuân, cành hè, cành
mùa thu và cành mùa đông.
Cành mùa xuân là cành quan trọng nhất, thƣờng chiếm số lƣợng lớn
trong tổng số cành ra trong năm, cành mùa hè phát triển trong điều kiện nhiệt
độ cao, có mƣa nên cành phát triển rất mạnh, cành mùa thu phát triển vào mùa
thu. Ngoài ra ở những vùng có nhiệt độ ấm còn ra cành mùa đông, nhƣng số
lƣợng cành mùa đông thƣờng không nhiều. Thời vụ những đợt ra cành nhƣ sau:
- Cành mùa xuân tháng 2 - 3
- Cành mùa hè tháng 4 - 6
- Cành mùa thu tháng 8 - 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status