LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS. Vũ Thị Sơn - Giám đốc Trung tâm Phát triển Chương trình giáo dục,
Viện NCSP, trường Đại học Sư phạm Hà Nội - người thầy đã tận tình hướng
dẫn, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths. Lê Thị Nguyên –
giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2-
người đã luôn bên cạnh ủng hộ, động viên tinh thần, giúp đỡ và cho tác giả
những góp ý quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu và tiến hành thử
nghiệm.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo cùng
bạn bè đồng nghiệp và các em học sinh trường tiểu học Thạch Khôi (Thành
phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Vô cùng cảm ơn tình cảm yêu thương của những người thân trong gia
đình, bạn bè đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, động viên, quan tâm, tiếp thêm niềm
tin và nghị lực cho tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn.
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Hương Thảo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Đề tài cũng chưa được
KNS
SHL
GVCN
HSTH
PPDH
QTHT
GDTH
Giáo dục
Giáo viên
Học sinh
Hoạt động
Sách giáo khoa
Kĩ năng sống
Sinh hoạt lớp
Giáo viên chủ nhiệm
Học sinh tiểu học
Phương pháp dạy học
Quá trình học tập
Giáo dục tiểu học
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Giả thuyết khoa học 5
8. Cấu trúc luận văn 5
NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC TIẾT SINH
HOẠT LỚP NHẰM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
TIỂU HỌC 6
1.1. Các khái niệm 6
1.1.1. Sinh hoạt 6
1.1.2. Tiết sinh hoạt lớp 6
1.1.3. Giáo dục kĩ năng sống 7
1.2. Đặc điểm của học sinh lứa tuổi tiểu học 9
1.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường tiểu học 12
1.3.1. Mục đích, ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu
học 12
1.3.2. Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống 13
1.3.3. Phân loại kĩ năng sống 14
1.3.4. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 16
1.4. Tổ chức tiết sinh hoạt lớp nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học 24
1.4.1. Vai trò, ý nghĩa của tiết sinh hoạt lớp với việc giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh tiểu học 24
3.4.1. Mục đích thử nghiệm 62
3.4.2. Nhiệm vụ thử nghiệm 62
3.4.3. Thiết kế thử nghiệm 62
3.4.4. Thời gian thử nghiệm 63
3.4.5. Tiến hành thử nghiệm 63
3.5. Mô tả kết quả thử nghiệm và đánh giá 66
3.5.1. Phương pháp đo nghiệm 66
3.5.2. Tiêu chí đánh giá 66
3.5.3. Đánh giá kết quả thử nghiệm 67
3.5.4. Một số kết quả ghi nhận được 71
3.5.5. Một số hạn chế cần xem xét, điều chỉnh sau dạy học thử nghiệm 73
3.6. Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Sự nghiệp GD với mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt là hướng tới đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện (về nhận thức, trí tuệ, phẩm chất
người trong xã hội hiện đại. Lewis L.Dunnington đã phát biểu rằng: “Ý nghĩa
của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì, mà ở chỗ ta có
thái độ với nó ra sao. Nếu con người có kiến thức, có thái độ tích cực thì mới
đảm bảo 50% sự thành công, 50% còn lại là những kĩ năng cần cho cuộc sống
mà ta thường gọi là KNS. Kĩ năng sống có vai trò vô cùng quan trọng trong
sự hình thành và phát triển nhân cách HS, đặc biệt là HS tiểu học. Kĩ năng
sống giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói quen lành
mạnh. Những HS có KNS là những em biết làm cho mình và người xung
quanh cùng hạnh phúc. Những HS này thường thành công hơn trong học tập,
trong cuộc sống cũng như trong lao động. GD KNS cho HS đã và đang đưa
vào các nội dung chương trình của môn học và thông qua các hoạt động GD.
Việc GD KNS sống có vai trò rất quan trọng đối với lứa tuổi HSTH,
nhằm giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình
và cộng đồng. Đồng thời trước sức ép của cuộc sống và tác độngở bên ngoài
các em biết tự bảo vệ mình. Ngoài ra, nó còn giúp tăng cường khả năng tâm lí
xã hội của các em, giúp các em sống khỏe mạnh về thể chất, tinh thần. Nó sẽ
góp phần tạo ra nền tảng cho cả tiến trình phát triển về sau của các em. Trong
lứa tuổi HS tiểu học, lớp 3 là lứa tuổi mà tư duy trừu tượng đang rất phát triển
dựa trên nền tư duy trực quan. Tư duy, đặc điểm tâm sinh lý của các em đang
hình thành và phát triển tương đối mạnh mẽ. Do đó, HS lớp 3 là độ tuổi thích
hợp để tiến hành tổ chức các hoạt động GD mang tính tập thể cao.
1.3. Trong chương trình tiểu học qui định có ít nhất 2 tiết/tuần hoạt động
tập thể để SHL, Sao Nhi Đồng, Đội Thiếu niên và sinh hoạt toàn trường
nhưng chưa có nội dung chương trình cụ thể cho những tiết sinh hoạt tập thể. 3
Sinh hoạt tập thể có thể diễn ra ở trong lớp hoặc ở ngoài lớp, ngoài trường.
Nó có thể được tiến hành trong một tiết cụ thể như tiết sinh hoạt tập thể cuối
tiểu học.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc xây dựng nội dung, cách thức tố chức tiết
SHL cho HS lớp 3 để qua đó GD KNS cho các em.
Phạm vi khảo sát: Điều tra sẽ được tiến hành tại một số trường tiểu học
trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Người nghiên cứu đã tổng hợp, phân tích để hệ thống hóa các vấn đề lí
luận có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài trong các loại sách, giáo
trình, tạp chí, luận văn, các báo cáo khoa học
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Quan sát
Thông qua dự giờ, quan sát các hoạt động dạy học của GV và HS (kết
hợp phỏng vấn GV), đề tài đã có những nhận xét về thực tiễn dạy học và việc
rèn KNS cho HSTH hiện nay.
6.2.2. Điều tra
Người nghiên cứu sử dụng các phiếu khảo sát để điều tra thực trạng tổ
chức tiết SHL nhằm GD KNS cho HS lớp 3; dựa vào đó để xác định các
hướng đề xuất của luận văn.
6.2.3. Phỏng vấn
Việc phỏng vấn GV nhằm bổ sung các thông tin về thực tiễn tổ chức
SHL nhằm GD KNS cho HSTH, lấy đó làm một trong các căn cứ cho những
đề xuất của luận văn.
6.2.4. Thử nghiệm khoa học
Thử nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả những đề
xuất của đề tài với việc nâng cao chất lượng việc tổ chức tiết SHL nhằm GD
KNS cho HSTH.
về đời sống hàng ngày của một người hay một cộng đồng người” [35, tr859].
Định nghĩa này cho ta thấy: (1) sinh hoạt là một hoạt động thuộc đời sống của
của con người; (2) các hoạt động này diễn ra một cách thường xuyên, liên tục
hàng ngày trong cuộc sống; (3) những hoạt động này thuộc đời sống của một
người hay của một cộng đồng người, một tập thể nào đó.
1.1.2. Tiết sinh hoạt lớp
Sinh hoạt lớp là thuật ngữ chỉ những hoạt động thuộc về đời sống hàng
ngày của cá nhân HS, một cộng đồng HS trong một lớp hay trường tiểu học.
Tiết SHL có thể hiểu là một tiết học bao gồm các hoạt động diễn ra hàng
ngày của HS trong tập thể lớp. Các hoạt động của nó gắn liền với các giá trị
của tập thể như đoàn kết, yêu thương, chia sẻ Tiết SHL với các hoạt động
của nó hỗ trợ việc học tập của HS. Giúp các HS gia nhập vào xã hội thông
qua đời sống trong nhà trường. HS đến trường không chỉ học các kiến thức
của các môn văn hóa mà các em còn học những kĩ năng để chung sống với
nhau, những kĩ năng thể hiện được bản thân mình. Tiết SHL diễn ra thường
kì, thường xuyên và liên tục. Nó bao gồm các hoạt động chung mang tính tập
thể của HS trong một lớp học. Tại đây HS được trải nghiệm và hình thành các
kĩ năng quan trọng của bản thân như: kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng thể
hiện sự tự tin của bản thân giúp các em làm quen với việc hoạt động, chung 7
sống trong một tập thể. Chương trình hành động Dakar đã tuyên bố rằng: Tất
cả thế hệ trẻ và những người lớn có quyền được hưởng một nền GD đảm bảo
cho người học “học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người,
học để tự khẳng định mình”. Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận KNS
dựa trên sự kết hợp giữa khả năng tâm lý xã hộivới các kĩ năng thực hành, kĩ
năng tâm vận động. Do đó cần xác định rõ nội dung các vấn đề cần GD theo
cách tiếp cận bốn trụ cột trong GD thế kỷ XXI.
xung quanh, giúp nó trở lên lành mạnh.
Tuy nội hàm của khái niệm nêu trên rộng, hẹp khác nhau, nhưng về cơ
bản giữa chúng có sự thống nhất hiểu KNS thuộc về phạm trù năng lực, bao
hàm cả tri thức, thái độ và hành vi, hành động trong lĩnh vực nào đó, mà
không phải là phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi.
Cũng như sự đa dạng trong quan niệm về KNS, đã có nhiều cách phân
loại KNS. Phân loại KNS được người nghiên cứu trình bày cụ thể ở chương 1,
mục 1.3.3.
Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học
từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển
thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao
chất lượng cuộc sống cá nhân và phát triển bền vững cho xã hội. Đồng thời
GD KNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ GD nhân cách toàn
diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của con
người, theo cả bốn trụ cột trong GD thế kỉ XXI: học để biết, học để làm, học
để chung sống với mọi người, học để tự khẳng định mình) thông qua quá trình
dạy học và GD vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lý xã hội để
người học có thể vượt qua những thách thức của cuộc sống, vừa phát triển
toàn diện cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hành động,
phát triển toàn diện chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm, trí tuệ 9
xã hội. Bên cạnh đó việc cùng sống và cùng hoạt động trong cộng đồng với
nhiều người khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến quy luật xã hội và có sự chuẩn
đoán phù hợp về hành động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và
ra quyết định của bản thân.
Từ những phân tích về KNS và mục tiêu của GD KNS có thể rút ra quan
thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý
của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng
được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn
thành công việc trong khoảng thời gian quy định [4].
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan
hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu
tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5
bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp
kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông HS. Bên cạnh đó, tưởng tượng của HSTH
đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và
vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn. Bênh cạnh đó, tưởng tượng của các em
vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau: Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng
tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Ở cuối tiểu học, tưởng
tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra
những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn
cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ
tranh,… Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối
mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều
gắn liền với các rung động tình cảm của các em.
Vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường thay đổi: đòi hỏi trẻ
phải tập trung chú ý thời gian liên tục từ 30 - 35 phút. Chuyển từ hiếu kỳ,tò
mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu kiềm chế dần tính
hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy 11
học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của các thao tác tinh khéo
của đôi bàn tay để tập viết, Tất cả đều là thử thách của trẻ, muốn trẻ vượt
qua được tốt những điều này thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia
xã hội của các em, giúp các em sống khỏe mạnh về thể chất, tinh thần. Nó sẽ
góp phần tạo ra nền tảng cho cả tiến trình phát triển về sau của các em. Các
em sẽ có đầy đủ hành trang để bước ra một môi trường mới sống với cộng
động xã hội một cách tự tin và bản lĩnh.
1.3. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trƣờng tiểu học
1.3.1. Mục đích, ý nghĩa của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Mục tiêu GD của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là
chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở người học để
đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mục
tiêu của GD Việt Nam thể hiện mục tiêu GD của thế kỉ XXI: Học để biết, học để
làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống (Delor,1996).
GD KNS cho HS trong nhà trường phổ thông nhằm các mục tiêu sau:
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp.
Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích
cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình
huống và hoạt động hàng ngày.
- Tạo cơ hội để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát
triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Vai trò, ý nghĩa của GD kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Trước đây, nhà trường là nơi duy nhất để ta có thể tiếp cận với kiến thức.
Thế giới ngày càng phẳng hơn, nhờ internet mọi người đều có thể tiếp cận
được thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi nơi. Kiến thức ngày
càng nhiều và từ việc có kiến thức đến thực hiện một công việc để có kết quả
cụ thể không phải chỉ có kiến thức là được. Từ biết đến hiểu, đến làm việc
chuyên nghiệp với năng suất cao là một khoảng cách rất lớn. Bên cạnh đó, sự 13
thay đổi toàn diện của xã hội hiện đại về kinh tế, văn hoá, xã hội và lối sống
quanh. Tạo điều kiện để các em có dịp thể hiện ý kiến của mình và xem xét ý
kiến của người khác Do vậy GV cần tổ chức các hoạt động có tính chất tương
tác trong các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp để GD KNS cho các em.
+ Trải nghiệm: Cần phải có thiết kế và tổ chức hoạt động GD ngoài giờ
lên lớp cho HS được hoạt động thực, có cơ hội thể hiện ý tưởng, có cơ hội xử
lí các tình huống cũng như phản biện… KNS chỉ được hình thành khi người
học trải nghiệm qua thực tế và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó.
+ Nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: GV không thể
GD KNS trong một lần. Mà KNS là một quá trình từ nhận thức đến hình
thành thái độ từ đó thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của một con người đặc
biệt hành vi tốt là quá trình khó khăn. Do vậy, GD KNS không thể là ngày
một ngày hai mà phải là một quá trình và cần duy trì nó không thể là cú nhát,
nửa vời.
+ Thời gian và môi trường GD: GD KNS được thực hiện mọi lúc mọi
nơi; GD KNS được GD trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã
hội; cần phải tạo điều kiện tối đa cho HS tham gia vào các tình huống thật
trong cuộc sống.
Do đó trong quá trình tổ chức SHL tăng cường GD KNS cho HS phải
đảm bảo thực hiện tốt các nguyên tắc GD KNS.
1.3.3. Phân loại kĩ năng sống
Cách phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khoẻ (WHO),KNS gồm có 3 nhóm:
- Kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng cụ thể như: Tư duy phê phán,
tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, ra
quyết định, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…
- Kĩ năng đương đầu với xúc cảm, bao gồm: ý thức trách nhiệm, cam kết,
kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự
điều chỉnh,… 15
16
là những KN cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng giao tiếp; kĩ năng xác
định giá trị; kĩ năng ra quyết định; kĩ năng đặt mục tiêu
1.3.4. Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Hiện nay, có nhiều tác giả nghiên cứu các phương pháp, biện pháp GD
KNS. Trên cơ sở nghiên cứu của các tác giả và căn cứ vào đặc điểm HS lứa
tuổi tiểu học, dưới đây người nghiên cứu trình bày một số phương pháp có ưu
thế trong việc GD KNS cho HS ở trường tiểu học.
a. Phương pháp động não
Khái niệm:
Động não là phương pháp tích cực nhằm huy động những ý tưởng mới
mẻ, độc đáo, những giả định về một chủ đề nào đó của các thành viên trong
một thời gian ngắn. Các thành viên được cổ vũ một cách tích cực, không hạn
chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơn lốc" các ý tưởng).
Cách tiến hành:
- GV hay người hướng dẫn nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả
lời) cần được bàn bạc trước cả lớp, hoặc từng nhóm từ 4 đến 10 bạn.
- Khích lệ người học phát biểu ý kiến càng nhiều càng tốt: trong khi thu
thập ý kiến, không đánh giá, nhận xét. Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp
nối nhau. Các ý kiến có thể nói hoặc có thể viết ra giấy.
- Để người học tự nguyện hoặc cử một người làm thư kí ghi lại mọi ý
kiến phát biểu lên bảng hoặc giấy to, tránh trùng lặp:
+ Phân loại các ý kiến
+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
+ Tổng hợp ý kiến và hỏi xem người học còn thắc mắc hay bổ sung gì
không?
Một số lưu ý khi sử dụng PP động não:
- Phương pháp động não có thể dùng để thảo luận bất kì một vấn đề nào.
Tuy nhiên, nó đặc biệt phù hợp với những vấn đề ít nhiều đã quen thuộc với
động; không khô khan, nhàm chán. Người học được lôi cuốn vào quá trình
học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời
giải trừ được những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập. 18
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa người học với
nhau, giữa GV với người học.
Cách tiến hành: Việc tổ chức trò chơi được tiến hành theo các bước sau:
i) Chuẩn bị:
- Xác định đối tượng và mục đích của trò chơi: Thông thường, trò chơi
nào cũng có tính GD, nhưng nó phụ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau
đối với loại, dạng trò chơi và đặc biệt phụ thuộc vào người sử dụng, tổ chức
trò chơi. Vì thế xác định đối tượng và mục đích trò chơi phù hợp là một công
việc cần thiết khi tổ chức trò chơi.
- Cử người hướng dẫn chơi (quản trò).
- Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến HS.
- Phân công nhiệm vụ cho các lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều
kiện phương tiện (lực lượng; phục trang như quần áo, khăn, cờ; còi; phần
thưởng) cho cuộc chơi.
ii) Tiến hành
Bước 1: Ổn định, giới thiệu trò chơi
- Ổn định tổ chức, bố trí đội hình: Tuỳ từng trò chơi, địa điểm tổ chức,
số lượng người chơi để bố trí đội hình, phương tiện cho phù hợp, có thể theo
đội hình hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn hay chữ U
- Xác định vị trí cố định hoặc vị trí di động của người quản trò sao cho
mọi khẩu lệnh các em đều nghe thấy, các động tác các em đều quan sát được,
thực hiện được, ngược lại bản thân người quản trò phải phát hiện được đúng,
sai khi các em chơi.