Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
DANH SÁCH NHÓM 6
1. Nguyễn Thị Ngọc Điệp
2. Phan Trần Hoàng Yến
3. Trần Thị Bích Trâm
4. Phạm Thị Thùy Dương
5. Huỳnh Ngô Mỹ Linh
6. Nguyễn Anh Thư
7. Lê Thị Thanh Hoa
8. Nguyễn Công Phát
9. Lê Thị Minh Hằng
10. Thân Thị Quỳnh Hương
11. Lê Quân Huy
1
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ “LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ”
1.1 Quá trình phát triển:
Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis: EMH) lần đầu tiên
xuất hiện trong luận án tiến sĩ của nhà thống kê học người Pháp Louis Bachelier vào
năm 1900. Đến đầu thập niên 1960 Giáo sư Eugene Fama của trường đại học Chicago
đã có công phát triển EMH như một khái niệm mang tính học thuật trong các nghiên
cứu của mình: “Một thị trường được coi là hiệu quả khi giá cả luôn được phản ánh
đầy đủ bởi các thông tin có sẵn”.
Hiện nay, EMH được phát triển không chỉ bằng việc đưa ra các khái niệm mà nó
còn được áp dụng nhiều trong thực hành để kiểm định về tính hiệu quả của thị trường
chứng khoán. Từ đó, có rất nhiều kết luận được rút ra thiết thực trong hoạt động của
thị trường chứng khoán và thị trường tài chính nói chung.
1.2 Khái niệm:
Tính hiệu quả của thị trường là khả năng và tốc độ mà tổng thể các thông tin trên
CÁC HÌNH THÁI CỦA THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ
2.1 Các mức độ thông tin:
Giáo sư Eugene Fama (Đại học Chicago, Mỹ) là người đã tổng hợp và đưa ra phổ
biến các dạng hiệu quả của thị trường thành ba giả thuyết thành phần tương ứng với ba
tập thông tin được xem xét.
- Tập thông tin dạng yếu: tập thông tin chỉ bao hàm các dữ liệu lịch sử về loại
chứng khoán đang phân tích, đó là các thông tin giá quá khứ, lợi suất, thu nhập, trong
quá khứ.
- Tập thông tin dạng trung bình: tập thông tin bao gồm tất cả các dữ liệu phù hợp
đã được công bố ra công chúng trong quá khứ và hiện tại, tập thông tin này cũng bao
gồm tập thông tin dạng yếu.
- Tập thông tin dạng mạnh: tập thông tin bao gồm tất cả các dữ liệu được biết,
không kể các dữ liệu đó có được công bố hay không, đây là tập thông tin bao hàm cả
tập thông tin dạng yếu và dạngtrung bình.
Như vậy, từ tương ứng ba tập thông tin trên, thị trường hiệu quả được phân chia
ra thành ba cấp độ hiệu quả hay ba dạng hiệu quả, đó là thị trường hiệu quả dạng yếu,
thị trường hiệu quả dạng trung bình và thị trường hiệu quả dạng mạnh.
2.2Các mức độ thị trường:
2.2.1 Mức độ thứ nhất: Thị trường hiệu quả dạng yếu (weak – form)
Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng này cho rằng giá chứng khoán hiện tại là sự
phản ánh đầy đủ mọi thông tin dạng yếu của thị trường chứng khoán (các thông tin quá
khứ), bao gồm các mức giá trong quá khứ, lợi suất trong quá khứ hay sự thay đổi của
giá hay các mức lợi suất ở các thời điểm Tại thị trường hiệu quả dạng yếu, mức giá
thị trường hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin trên
thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là lợi suất – suất sinh lời của chứng khoán trong
quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai (các lợi suất
độc lập với nhau). Nói cách khác, không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương
lai hay là có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng những căn cứ từ thông tin tương
tự của chúng trong quá khứ.
2.2.2 Mức độ thứ hai: Thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi – strong)
Tất cả thông tin (kể cả thông tin nội bộ)
5
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
CHƯƠNG 3:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ
3.1 Lý thuyết dự tính hợp lý – cơ sở lý luận của lý thuyết thị trường hiệu quả:
Dự tính có vai trò quan trọng và ý nghĩa trong một số lĩnh vực của nền kinh tế,
giúp cho nhà quản lý, nhà đầu tư, người tiêu dùng phán đoán xu hướng vận động,
phát triển của thị trường trong tương lai. Từ đó vạch định ra những chiến lược, chính
sách, đưa ra quyết định thực hiện để mang lại lợi ích và hiệu quả kinh kế. Những kết
quả thu được lại tác động trở lại đến sự vận động của thị trường.
Tóm lại, "dự tính" có tác động rất lớn đến sự vận động của nền kinh tế. Và một
dự tính chính xác với vận động thực tế của thị trường nhất sẽ mang về cơ hội lớn nhất
để tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường.
Có 03 loại dự tính:
Dự tính thích ứng: được cho rằng chỉ hình thành từ những kinh nghiệm đã qua;
Dự tính hợp lý: là dự tính dựa trên biến số;
Dự tính tối ưu: sử dụng thông tin từ rất nhiều nguồn để đưa ra dự tính.
3.1.1 Nội dung của lý thuyết dự tính hợp lý:
Lý thuyết dự tính hợp lý được phát triển sẽ không khác vời dự báo tối ưu bằng
cách sử dụng mọi thông tin có sẵn.
Cần lưu ý hai lý do khiến cho một dự tính có thể không phải là hợp lý:
+ Thứ nhất, có thể biết được mọi thông tin nhưng không thể có được dự tính hợp
lý do sự lười nhát.
+ Thứ hai, do không biết một hoặc một vài thông tin sẵn sàng.
Như vậy, điều kiện lý thuyết thị trường hiệu quả là có mọi thông tin sẵn sàng và
biết sử dụng chúng trong việc dự tính để có được dự tính hiệu quả.
6
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
3.1.2 Phân tích nội dung lý thuyết dự tính hợp lý:
7
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
và vận dụng đối với thị trường tài chính. Dự tính trên thị trường tài chính bằng với dự
báo tối ưu sử dụng mọi thông tin sẵn sàng.
3.2.1 Khái niệm thị trường hiệu quả:
Thị trường được coi là hiệu quả khi nó đạt đầy đủ ba yếu tố sau:
Phân phối hiệu quả
Hoạt động hiệu quả
Thông tin hiệu quả
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt phân phối khi các nguồn tài nguyên, vốn
khan hiếm trên thị trường được phân phối một cách có hiệu quả nhất. Tức là chỉ những
người trả giá cao nhất cho nguồn tài nguyên mới được sử dụng chúng.
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt hoạt động khi các chi phí giao dịch trong
thị trường là không. Điều đó có nghĩa, thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Tuy nhiên trên
thực tế, thị trường không thể tồn tại nếu cổ phiếu của người vận hành thị trường không
được bù đắp.
Thị trường được coi là hiệu quả về mặt thông tin nếu thị giá phản ánh lập tức và
đầy đủ tất cả các công tin trên thị trường.
3.2.2 Hình thái thị trường hiệu quả:
Các hình thái thị trường hiệu quả được phân chia căn cứ trên mức độ khác nhau
trong sự phản của giá cả đối với thông tin trên thị trường. Có 03 loại hình thái:
Thị trường hiệu quả dạng yếu: nếu giá cả đã phản ánh đầy đủ và kịp thời những
thông tin trong quá khứ của thị trường.
Thị trường hiệu quả dạng trung bình: nếu giá cả phản ánh tất cả những thông tin
liên quan đến công ty được công bố ra công chúng: thông tin trong quá khứ,
thông tin cơ bản về năng lực sản xuất, chất lượng quản lý, dự đoán thu nhập,
bảng cân đối kế toán, thông tin về đối thủ cạnh tranh
Thị trường hiệu quả dạng mạnh: nếu giá cổ phiếu đã phản ánh tất cả những
thông tin cần thiết có liên quan đến công ty, kể cả những thông tin nội bộ.
8
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
như có thể bỏ qua, thông tin được lưu thông một cách hoàn hảo…và điều này trong
thực tế thì khó xảy ra. Vì thế, khái niệm về EMH không thể làm hài lòng tất cả giới
nghiên cứu. Nhà nghiên cứu kinh tế Jensen (1978) định nghĩa thị trường hiệu quả một
cách gần thực tế hơn như sau: “Một thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó
thông tin được phản ánh trong mức giá cho tới khi lợi ích biên của giao dịch khi có
được thông tin đó (lợi suất kỳ vọng) không thể vượt quá chi phí biên của việc khai thác
thông tin”. [3, tr 221]
Khái niệm TTHQ tiếp tục được mở rộng bằng một quan niệm của Black (1986)
được ông đưa ra phát biểu trước Hiệp hội Tài chính Mỹ: Chúng ta có thể định nghĩa
thị trường hiệu quả là một thị trường mà ở đó, giá nằm trong biên độ hai lần so với
giá trị, tức là giá lớn hơn nửa giá trị và nhỏ hơn hai lần giá trị. Nhân tử 2 ở đây là suy
nghĩ chủ quan của tôi. Tuy nhiên, nó có vẻ khá hợp lý từ quan điểm của tôi, với sự bất
định về giá trị và áp lực từ các nhân tố luôn có xu hướng đẩy giá về giá trị. Với định
nghĩa này, tôi nghĩ rằng hầu hết tất cả các thị trường đều hiệu quả trong suốt thời
gian. “Hầu hết” có nghĩa là ít nhất 90% [4, tr 129]. Định nghĩa thị trường hiệu quả
này tập trung vào quy mô của độ chệch giữa giá tài sản với giá trị thực. Thông tin của
nhà đầu tư có thể bị nhiễu và do vậy giá có thể chệch khỏi giá trị nền tảng. Tuy nhiên,
thị trường vẫn hiệu quả trong điều kiện này nếu như độ chệch không kéo dài quá lâu
hoặc quá lớn trước khi chúng được điều chỉnh lại cho đúng.
Vào năm 1992, Malkiel đã đưa ra một khái niệm khá toàn diện về EMH, được đề
cập đến như sau: “Một thị trường vốn (cũng đúng cho thị trường chứng khoán) được
cho là hiệu quả nếu nó phản ánh đầy đủ và chính xác tất cả các thông tin có sẵn trong
việc xác định giá chứng khoán” [5, tr 15- 27]. Có nghĩa, thị trường được coi là hiệu
quả đối với một tập thông tin Ωt nếu giá chứng khoán không bị ảnh hưởng bằng việc
thông tin được tiết lộ cho tất cả các thành viên thị trường. Hơn nữa, thị trường hiệu
quả đối với tập thông tin Ωt hàm ý rằng người đầu tư không thể kiếm được những lợi
nhuận bất thường trên cơ sở những thông tin từ tập Ωt .
4.2 Những lý thuyết tài chính liên quan đến lý thuyết thị trường hiệu quả:
EMH hiện nay luôn có một số lý thuyết khác phản biện lại do thực tế các sự kiện
phái phân tích cơ bản chiếm ưu thế. Nhưng cũng không hoàn toàn phủ nhận EMH bởi
các nhà đầu tư sau khi sử dụng thông tin phân tích cơ bản sẽ đưa thị trường trở nên
hiệu quả hơn. Giá cả lúc này là tín hiệu tốt để phản ánh đúng giá trị nội tại của chứng
khoán.
11
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
4.2.3 Lý thuyết tài chính hành vi
Nền tảng cơ bản của thuyết này là: “thị trường không luôn luôn đúng” đặt ra một
đối trọng lớn với lý thuyết EMH. Bởi EMH dựa trên niềm tin luôn tồn tại một cơ chế
điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Cơ
chế này thể hiện cơ hội kinh doanh chênh lệch giá giúp các nhà đầu tư điều chỉnh thị
trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng. Ngược lại lý thuyết tài chính hành vi cho
rằng cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng xảy ra, những nhà đầu tư hợp lý sẽ
không chiến thắng những nhà đầu tư bất hợp lý và thị trường sẽ không hiệu quả -
nghĩa là định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay giá các loại sản phẩm tài
chính khác,
Trong thị trường khi tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau sẽ khó tuân theo
EMH, hiện tượng định giá sai sẽ xuất hiện:
+ Tồn tại hành vi không hợp lý
+ Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống
+ Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
4.2.4 Lý thuyết thị trường thích nghi:
Lý thuyết thị trường thích nghi còn được gọi với cái tên AMH ( Adaptive Market
Hypothesis), tưc 1à thị trường hiệu quả mang tính thích nghi cao. Lý thuyết này được
giải thích là có thêm những hành động bất hợp lý của các chủ thể tham gia thị trường
và chú ý hơn đến hành vi của từng nhóm chủ thể trên thị trường.
AMH được chấp nhận trong ngắn hạn, giải thích nhiều sự kiện EMH không thể
lý giải. AMH chấp nhận những nghịch lý hiện hữu ở EMH. Trên thực tế khi tất cả các
nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán tin rằng thị trường hiệu quả thì lúc đó thị
trường lại không hiệu quả do không có động cơ để các nhà đầu tư phân tích chứng
Dựa vào thực trạng những gì đang diễn ra, để đạt được mục tiêu trên, thiết nghĩ
những nhà quản lý thị trường cần phải quan tâm và thực hiện đồng bộ các giải pháp
sau:
1) Cải thiện tính minh bạch của thông tin được công bố ở cả hai phía là công ty niêm yết
và cơ quan quản lý.
13
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
Hiện nay, các công ty niêm yết không nhất quán trong vấn đề công bố thông tin,
khiến cho các công ty khác không muốn thực hiện.
Các cơ quan quản lý cần phải có biện pháp chặt chẽ hơn trong việc quản lý việc
công bố thông tin để nhà đầu tư thấy được tính chuyên nghiệp và có niềm tin khi đầu
tư vào thị trường chứng khoán.
2) Tiến tới dỡ bỏ biên độ giao dịch tại các sàn giao dịch chứng khoán, tạo điều kiện cho
chứng khoán phản ứng nhanh chóng với thông tin công bố.
Tác động của biên độ giao dịch đến TTCK tại Việt Nam còn rất lớn, dễ nhận ra
hàng loạt các lệnh đặt mua, bán với số lượng lớn được đưa vào sàn ở những giây cuối
cùng của phiên giao dịch, gây ra hiện tượng cung/cầu ảo, gây thiệt hại cho nhà đầu tư
nếu thiếu kinh nghiệm.
Khi biên độ giao dịch được xóa bỏ, giá cả sẽ rất linh hoạt điều chỉnh theo quan
hệ cung – cầu. Việc tranh nhau đặt lệnh ATO/ATC sẽ không còn hiệu lực. Nhà đầu tư
sẽ phải bám sát thị trường để quyết định mức giá. Việc đầu tư theo kiểu ép giá hôm
nay để chờ cơ hội mua vào ngày mai sẽ không còn khả thi nữa. Tính thanh khoản của
thị trường chứng khoán sẽ tăng vọt và tất cả các nhà đầu từ phải suy nghĩ, chứ không
còn ỷ lại vào dòng lệnh AT hay đặt kịt giá trần/sàn.
Khi biên độ giao dịch không còn, nếu các công ty niêm yết và các chính sách vĩ
mô công khai minh bạch thông tin giá chứng khoán sẽ được điêu chỉnh nhanh chóng
về mức giá nội tại, quan hệ cung cầu được điều chỉnh tương ứng.
3) Nâng cao vai trò của cơ quan giám sát thị trường chứng khoán như cơ quan quản lý
nhà nước, sở giao dịch chứng khoán, và các định chế trung gian (công ty chứng
khoáng, công ty quản lý quỹ, …) tạo nên hệ thống giám sát gồm 3 tầng theo hàng dọc.
6) Tại bất kỳ TTCK nào thì giá biến động của các lại chứng khoán là “điều hiển nhiên”,
song với các loại giá của các loại cổ phiếu một cách liên tục trong thời gian dài,
không đi kèm với các thông tin mang tính đột biến của doanh nghiệpp cho thấy TTCK
Việt Nam chưa thể đạt tới mức hiệu quả dạng thấp của Eugene Fama. Tuy nhiên, để
hội nhập và muốn trở thah2 một thị trường phát triển ổn định, TTCKK Việt Nam cần
thiết phải theo dõi những nội dung trong giả thuyết EMH . Với những giải pháp được
triển khai đồng bộ và quyết liệt thì việc tiếp cận được giả thuyết hiệu quả là điều hoàn
toàn có thể đạt được trong thời gian gần.
15
Lý thuyết thị trường hiệu quả Nhóm 6 thực hiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Ứng dụng Lý thuyết thị trường hiệu quả trong phân tích thị
trường chứng khoán Việt Nam – Vũ Thị Minh Luận – Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân.
2.Samuelson, Paul A. (1965), Proof that properly anticipated prices fluctuate
randomly. Reprinted in Efficient Market Hypothesis, edited by Lo
3. Đinh Xuân Trình, Nguyễn Thị Quy (1998), Giáo trình chứng khoán, NXB Giáo Dục
4. Stephen Hall and Giovanni Urga (2002), Testing for ongoing efficiency in the
Russian stock market.
5. TIAA-CREF Individual & Institutional Services LLC and Teachers Personal
Investors Services Inc (2007), “Are You a Rational Investor?”, New York, N.Y. 10017
6. Timmermann, Allen and Granger, Clive W. J. (2004), “Efficient market hypothesis
and forecasting”, International Journal of Forecasting.
16