Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2012 - 2013, sau 2014. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG THỊ THƠ Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC
THẢI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC KẠN 2013” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên, năm 201466
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Hiện trạng sử dụng nước và xử lý nước thải bệnh viện trên địa bàn các
tỉnh 23
Bảng 2.2. Một số các công nghệ xử lý nước thải hiện đang áp dụng trong bệnh viện
tại Việt Nam 24
Bảng 3.1. Vị trí, số lượng và phương pháp lấy mẫu 27
Bảng 4.1. Quy mô một số khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn 39
Bảng 4.2. Lượng rác thải rắn của Bệnh viện Đa Khoa Bắc Kạn 2013 42
Bảng 4.3. Phân loại chất thải rắn bệnh viện theo mức độ độc hại 42
Bảng 4.4. Các nguồn phát sinh nước thải của Bệnh viện Đa khoa 44
tỉnh Bắc Kạn 44
Bảng 4.5. Ký hiệu vị trí lấy mẫu 51
Bảng 4.6. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hóa học nước thải trước xử lý của Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT1) 52
Bảng 4.7. Kết quả phân tích một đố số chỉ tiêu vật lý, sinh học nước thải trước xử lý
của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn(NT1) 53
Bảng 4.8. Kết quả phân tích chỉ tiêu vật lý, sinh học của nước thải sau quá trình xử
lý của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) 54
Bảng 4.9. Kết quả phân tích chỉ tiêu hóa học của nước thải sau quá trình xử lý của
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (NT2) 54
Bảng 4.10. So sánh kết quả phân tích chỉ tiêu nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc
Kạn. 55
1
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT


2.3.3. Nước thải bệnh viện thành phần và tính chất 15
2.3.4. Chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm nước thải bệnh viện 16
2.3.5. Độc tính của một số chất trong nước thải bệnh viện tới môi trường và con
người 17
2.4. Cơ sở thực tiễn 20
2.4.1. Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện trên
Thế giới 20
2.4.2. Hiện trạng xử lý và xả nước thải ở một số bệnh viện tuyến TW tại Việt
Nam 21
2.4.3. Hiện trạng xử lý và xả nước thải tại một số bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bắc
Kạn 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1. Đối tượng, thời gian nghiên cứu 26
3.1.1. Công tác xử lý vệ sinh môi trường của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26
3.1.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.2. Nội dung nghiên cứu 26
3.2.1. Tổng quan về bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26
3.2.2. Tình hình sử dụng nước của bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạn 26
3.2.3. Đánh giá hiện trạng nước thải bệnh viện Đa Khoa tỉnh Bắc Kạ. 26
3.2.4. Đề xuất giải pháp quản lý và giảm thiểu ô nhiễm nước thải bệnh viện 26
3.3. Phương pháp nghiên cứu 27
69
3.3.1. Nghiên cứu các văn bản pháp luật 27
3.3.2. Phương pháp kế thừa 27
3.3.3. Phương pháp điều tra thực địa 27
3.3.4. Phương pháp lấy mẫu nước thải 27
3.3.5. Phương pháp đánh giá tổng hợp 27
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Môi trường rất cần thiết cho sự tồn tại sinh trưởng và phát triển của con
người cũng như tất cả các loài sinh vật trên trái đất, môi trường có nhiều chức
năng quan trọng khác nhau đối với sự sống trên Trái đất. Song song với tiến
trình phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước, thì vấn đề về môi trường, sức khoẻ của cộng đồng là nền tảng và là
động lực để phát triển đất nước và tham gia hội nhập quốc tế. Với sự tăng về
dân số cùng với sự phát triển của các khu đô thị thì việc phát triển về vấn đề
giáo dục, kinh tế - văn hóa- xã hội đặc biệt là phát triển y tế nhằm đảm bảo
sức khoẻ cho nguồn lực lao động được coi là vấn đề quan trọng và cấp thiết.
Năm 2010, Việt Nam có khoảng 1186 bệnh viện với công suất là 187843
giường. Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con
người thì trong quá trình hoạt động cũng gây các tác động tiêu cực tới môi
trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế gây ra. Trên cả nước có khoảng
70% bệnh viện chưa có các biện pháp xử lý nước thải. Với tính chất độc hại,
nước thải bệnh viện có sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh nhất là
nước thải được thải ra từ các phòng khoa, bệnh viện lây nhiễm. Ngoài ra, các
chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu
diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái trong
hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý
nước thải của vi sinh vật, nếu không quản lý tốt có thể gây ra những nguy cơ
đáng kể cho con người và môi trường.
Xuất phát từ thực trạng trên, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa
Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn trực
tiếp của thầy giáo Tiến sĩ Dư Ngọc Thành, em tiến hành nghiên cứu đề tài:

- Tạo cho sinh viên cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
- Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều
kiện tốt hơn để phục vụ công tắc bảo vệ môi trường.
- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học.
- Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao phương pháp làm việc
có khoa học, giúp bố trí được thời gian và công việc một cách hợp lý.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý
nước thải Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn.
3
- Cảnh báo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và
xử lý theo quy định.
Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý
nước thải y tế một các phù hợp và khoa học với điều kiện của Bệnh viện
nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Luật số 17/2012/QH13 của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ

- Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà
chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng
cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với
thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm,
vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ
tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng
vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật
pháp, nghị định, thông tư, quy định.
- Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở
để sống và phát triển.
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường
- Theo Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam năm 2005
“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi
phạm Tiêu chuẩn môi trường”.
- Ô nhiễm môi trường là khái niệm để chỉ sự xuất hiện của một chất lạ
trong môi trường tự nhiên hoặc làm biến đổi thành phần, tỷ lệ về hàm lượng
của các yếu tố có sẵn, gây độc hại cho cơ thể sinh vật và con người nếu như
hàm lượng của các chất đó vượt khỏi giới hạn thích nghi tiềm tàng của cơ thể.
- Sự ô nhiễm môi trường có thể là hậu quả của các hoạt động tự nhiên, như
hoạt động núi lửa, thiên tai lũ lụt, bão,… hoặc các hoạt động do con người thực
6
hiện trong công nghiệp, giao thông, chiến tranh và công nghệ quốc phòng, trong
sinh hoạt, trong đó công nghiệp được xem là nguyên nhân lớn nhất.
7
b, Khái niệm về nước thải và phân loại nước thải
Khái niệm về nước thải
- Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980 - 1995 và ISO 6170/1 - 1980. Nước
thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá
trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với qúa trình đó.
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử
dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. [14]
- Nước thải là nước đã dùng trong sinh hoạt, sản xuất hoặc chảy qua vùng
đất ô nhiễm. Phụ thuộc vào điều kiện hình thành mà nước thải được chia thành:
nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải tự nhiên và nước thải đô thị.
+ Nước thải sinh hoạt là: nước thải ra từ khu dân cư, khu vực hoạt động
thương mại, công sở, trường học hay các cơ sở khác. Chúng chứa khoảng 58%
chất hữu cơ và 42% chất khoáng. Đặc điểm cơ bản cuả nước thải sinh hoạt là hàm
lượng cao các chất hữu cơ không bền sinh học (như cacbonhydrat, protein, mỡ),
chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), vi trùng, chất rắn và mùi.
+ Nước thải công nghiệp (hay nước thải sản xuất) là: nước thải từ các
nhà máy đang hoạt động sản xuất.
+ Nước thải tự nhiên là: Nước mưa được xem là nước thải tự nhiên. ở
những thành phố hiện đại, nước mưa được thu gom bằng hệ thống riêng.
+ Nước thải đô thị là: chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát cuả một
thành phố. Đó là các hỗn hợp các chất thải kể trên.[14]
2.3. Tổng quan về tài nguyên nước trên Thế giới và Việt Nam
Nước là tài nguyên vật liệu quan trọng nhất của loài người và sinh vật
trên trái đất. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước cho sinh hoạt, 1.500 lít
nước cho hoạt động công nghiệp và 2.000 lít cho hoạt động nông nghiệp.
Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44%
trọng lượng cơ thể con người. Ðể sản xuất 1 tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn

lụt thường xuyên. Nhiều nước Trung Ðông phải xây dựng nhà máy để cất
nước ngọt hoặc mua nước ngọt từ quốc gia khác. Các biến đổi khí hậu do con
người gây ra đang làm trầm trọng thêm sự phân bố không đều tài nguyên
nước trên trái đất.
Con người ngày càng khai thác và sử dụng nhiều hơn tài nguyên nước.
Lượng nước ngầm khai thác trên thế giới năm 1990 gấp 30 lần năm 1960 dẫn đến
nguy cơ suy giảm trữ lượng nước sạch, gây ra các thay đổi lớn về cân bằng nước.
Nguồn nước đang bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người. Ô
nhiễm nước mặt, nước ngầm, nước biển bởi các tác nhân như NO
3
, P, thuốc
trừ sâu và hoá chất, kim loại nặng, các chất hữu cơ, các vi sinh vật gây bệnh
v.v. Do vậy, vấn đề đảm bảo nguồn nước sạch cho dân cư các vùng trên thế
giới đang là nhiệm vụ hàng đầu của các tổ chức môi trường thế giới.
2.3.2. Tài nguyên nước tại Việt Nam
Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú. Việt Nam
là nước có lượng mưa trung bình vào loại cao, khoảng 2000 mm/năm, gấp 2,6
lượng mưa trung bình của vùng lục địa trên Thế giới. Tổng lượng mưa trên
toàn bộ lãnh thổ là 650 km
3
/năm, tạo ra dòng chảy mặt trong vùng nội địa là
324km
3
/năm. Vùng có lượng mưa cao là Bắc Quang 4.000-5.000mm/năm,
tiếp đó là vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn,
9
Ðèo Cả, Bảo Lộc, Phú Quốc 3.000-4.000 mm/năm. Vùng mưa ít nhất là Ninh

phương với mức độ ngày càng nghiêm trọng. Ví dụ, giảm trữ lượng nước ở các
hồ thuỷ điện lớn (Thác Bà, Trị An, Hoà Bình) hoặc lũ quét ở các tỉnh Sơn La,
Tuyên Quang, Nghệ An v.v Nguyên nhân chủ yếu là nạn chặt phá rừng.
Tình trạng cạn kiệt nguồn nước ngầm, ô nhiễm nước ngầm, mặn hoá các
thấu kính nước ngầm đang xảy ra ở các đô thị lớn và các tỉnh đồng bằng. Nước
ngầm ở các khu dân cư tập trung đang bị ô nhiễm bởi nước thải không xử lý. Các
thấu kính nước ngầm đồng bằng Nam bộ đang bị mặn hoá do khai thác quá mức.
Ô nhiễm nước mặt (sông, hồ, đất ngập nước) do các nguồn thải công
nghiệp và hoá chất nông nghiệp. Mức độ phú dưỡng các hồ nội địa gia tăng.
Một số vùng cửa sông đang bị ô nhiễm dầu, kim loại nặng, thuốc trừ sâu.
10
Hiện nay tình trạng ô nhiễm và suy thoái nguồn nước (nước mặt và
nước ngầm) đang xảy ra phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị và
các thành phố công nghiệp. Chẳng hạn như nước ngầm đang được khai thác ở
một số nhà máy nước thành phố Hà Nội cũng đã bị ô nhiễm như Pháp Vân,
Mai Động hoặc như ở thành phố Hồ Chí Minh nước ngầm bắt đầu bị nhiễm
mặn và suy giảm khả năng khai thác.
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên
cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh
cho người và sinh vật. Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi
khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh như các loại ký sinh trùng bệnh tả, lỵ,
thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật
bản, giun đỏ, trứng giun v.v
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác,
nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện v.v Ðể đánh giá
chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng
chỉ số coliform. Ðây là chỉ số phản ánh số lượng trong nước vi khuẩn coliform,

ở hạ lưu làng Hít và thác Huống cách thành phố Thái Nguyên khoảng 4km.
Diện tích lưu vực 6 030km
2
, chiều dài 290km, độ cao bình quân lưu vực
190m, độ dốc bình quân 16,1%, chiều rộng lưu vực 31km, hệ số uốn khúc
2,02. Lưu lượng sông Cầu từ 1500mm/năm đến 2700mm/năm. Lưu lượng
hàng năm 4,2 tỷ m
3
. Sông Cầu chảy qua địa phận tỉnh Bắc Kạn có chiều dài
100km, ứng với lưu vực 1 660km
2
.
Tổng lượng dòng chảy trung bình năm của lưu vực sông Cầu như sau:
- Trên sông Cầu (đến cửa sông): 4,50 km
3
/năm, trong đó đóng góp của
sông Công là 0,8992 km
3
/năm (19,8%), sông Cà Lồ là 0,8800 km
3
/năm (19,5%).
- Mức bảo đảm nước trung bình năm của toàn lưu vực sông Cầu vào
khoảng 116.103 m
3
/km
2
và 2.250 m
3
/người. Giá trị này thấp hơn nhiều so với
mức bảo đảm nước trung bình của toàn lãnh thổ Việt Nam (2.500.103 m

bắc. Chiều dài toàn bộ sông chảy qua tỉnh Bắc Kạn là 70km, diện tích lưu vực
tính đến Thác Đầu Đẳng là 890km
2
, lưu lượng bình quân 42,1 m
3
/giây
Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng tây nam núi Tam Tao, huyện Chợ
Đồn chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua các xã Đồng Lạc, Ngọc Phái
sang tỉnh Tuyên Quang, Vĩnh Phúc nhập vào sông Lô tại ngã ba Việt Trì với
chiều dài 190km, diện tích lưu vực 1610km
2
. Đoạn sông Phó Đáy chảy qua
địa phận tỉnh Bắc Kạn có chiều dài 60km, diện tích lưu vực là 390km
2
, lưu
lượng bình quân là 9,7m
3
/s. Mùa mưa sông Phó Đáy thường hay có lũ quét và
lũ ống gây nhiều thiệt hại về tài sản cho dân.
Sông Bắc Giang gồm lưu vực sông Na Rì và sông Bắc Giang. Sông Na
Rì bắt nguồn từ xã Liêm Thuý chảy theo hướng đông bắc - tây nam về tới Pác
Cáp thì đổi dòng chảy theo hướng tây sang đông chảy qua đất Lạng Sơn rồi
đổ vào sông Bắc Giang, chiều dài chảy qua tỉnh là 35km, diện tích lưu vực
1200km
2
. Lưu lượng dòng chảy bình quân năm 24,2m
3
/s, có năm vào mùa lũ
lưu lượng lên tới 2100m
3

5
, COD, TSS (nồng độ các chỉ tiêu này đã vượt
qua giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT). Nguyên nhân chính làm
ô nhiễm nước sông Bắc Giang là do hiện tượng khai thác cát, sỏi và vàng sa
khoáng tại dòng sông và các phụ lưu của sông đó gây ra. Tài nguyên nước
trong lòng đất chủ yếu được khai thác phục vụ cho mục đích sinh hoạt. Tính
đến nay, Bắc Kạn có khoảng 37.730 công trình cấp nước sinh hoạt. Trong đó
bao gồm cả giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước tập trung, đường ống dẫn
nước tự chảy, 301.000 người được cấp nước sinh hoạt, chiếm trên 91% dân
số. Tổng lượng nước đang được khai thác, sử dụng cho sinh hoạt khoảng
11.399 m
3
/
ngày đêm.
Qua tiến hành thanh kiểm tra 20 đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài
nguyên nước cho thấy vẫn còn một số tổ chức, cá nhân thiếu ý thức, không chấp
hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước. Có 13 đơn vị hoạt động xả
nước thải vào nguồn nước và hơn 7đơn vị xả nước thải ra môi trường.
Trên thực tế, việc quy hoạch khai thác và sử dụng nước phần lớn là do
từng đơn vị thực hiện, chưa quan tâm tới việc đảm bảo nhu cầu nước cho môi
trường. Một số cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn cố tình vi phạm việc xả nước
thải chưa qua xử lý ra môi trường, người dân tự tiện đổ rác xuống sông, suối…
14
Mặt khác, nếu xét riêng từng vùng và theo từng tháng trong năm thì một số
tháng trong mùa khô xảy ra tình trạng thiếu nước mức bảo đảm chỉ đạt 60-
70%. Tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, lấn chiếm bờ hồ, bờ sông không có quy
hoạch làm giảm khả năng tự làm sạch của dòng chảy mặt. Việc khai thác

15
Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, các
nguồn vốn khác đã đầu tư hơn 210 tỷ đồng để xây dựng 430 công trình cấp
nước sạch tập trung trên địa bàn tỉnh. Bình quân, kinh phí để đưa được nước
sạch tới một hộ dân là khoảng 15 triệu đồng. Cho đến nay trên địa bàn tỉnh đã
có khoảng 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh,
tỉnh phấn đấu đến năm 2015 có 95% số dân ở nông thôn được sử dụng nước
hợp vệ sinh, trong đó 40% được sử dụng nước sạch đạt chuẩn của Bộ Y tế,
75% số hộ nông dân có nhà tiêu hợp vệ sinh, 65% số hộ nông thôn có chuồng
trại hợp vệ sinh, 60% số xã thu gom rác thải sinh hoạt. [16]
Nguồn nước thải từ các hoạt động sinh hoạt của con người, gia súc gia
cầm là một nguồn ô nhiễm lớn đổ ra môi trường. Những hoạt động sinh hoạt
như tắm rửa, giặt giũ, tẩy rửa đã thải vào môi trường một lượng lớn hóa chất
độc hại có thời gian tồn dư cao trong môi trường, ngoài ra các hoạt động vệ
sinh khác của con người và gia súc cũng thải vào môi trường làm ô nhiễm
chất hữu cơ, gây mùi khó chịu và có thể tạo nên dịch bệnh.
2.3.3. Nước thải bệnh viện thành phần và tính chất
Nước thải bệnh viện gồm có:
- Các chất thải giống như nước thải sinh hoạt.
- Các vi sinh vật, vi khuẩn, virut được thải ra từ bệnh nhân có thể dẫn
đến lây lan.
- Các chất kháng sinh và các dược chất, kể cả các chất phóng xạ (dùng
trong chẩn đoán và điều trị).
Nước sau khi sử dụng vào mục đích sinh hoạt hay sản xuất, nước mưa chảy
trên các mái nhà, mặt đường, sân vườn… chứa nhiều các hợp chất vô cơ hay hữu
cơ dễ bị phân hủy hay thối rữa và chứa nhiều vi trùng gây bệnh, truyền bệnh rất
nguy hiểm cho người và động vật. Nếu loại nước thải này thải ra môi trường một

nước thải làm giảm hàm lượng oxi hoà tan trong nước, ảnh hưởng tới đời
sống của động, thực vật thuỷ sinh. Song các chất hữu cơ trong nước thải dễ bị
phân huỷ sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân huỷ được xác định gián tiếp
thông nhu cầu ôxi sinh học (BOD) của nước thải. Thông thường, để đánh giá
độ nhiễm bẩn chất hữu có trong nước thải, người ta thường lấy trị số BOD.
Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiên tượng phú dưỡng nguồn tiếp
nhân dòng thải, ảnh hưởng tới sinh vật sống trong môi trường thuỷ sinh; các
chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự lắng đọng cặn làm tắc nghẽn
cống và đường ống, máng dẫn. Nước thải bệnh viện rất nguy hiểm vì chúng là
nguồn chứa các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh, nhất là các bệnh truyền nhiễm
như thương hàn, tả, lỵ làm ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng động. Song các chất
17
hữu cơ trong nước thải dễ bị phân hủy sinh học, hàm lượng chất hữu cơ phân
hủy được xác định gián tiếp thông qua nhu cầu oxi sinh hóa (BOD) của nước
thải. Thông thường, để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu cơ có trong nước thải,
người ta thường lấy trị số BOD. Các chất dinh dưỡng của N, P gây ra hiện
tượng phú dưỡng nguồn tiếp nhận dòng thải,ảnh hưởng tới sinh vật sống trong
môi trường thủy sinh. Các chất rắn lơ lửng gây ra độ đục của nước, tạo sự
lắng đọng cặn làm tắc nghẽn cống và đường ống, máng dẫn. Như vậy chỉ tiêu
đặc trưng để đánh giá nước thải bệnh viện là: E.coli, COD, BOD, Chất rắn lơ
lửng, N, P [12]
2.3.5. Độc tính của một số chất trong nước thải bệnh viện tới môi trường và
con người
Các thành phần chính gây ô nhiễm môi trường do nước thải bệnh viện
gây ra là các chất hữu cơ, các chất dinh dưỡng của ni-tơ (N), phốt-pho (P),
các chất rắn lơ lửng và các vi trùng, vi khuẩn gây bệnh. Các chất hữu cơ có
trong nước thải làm giảm lượng ô-xy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời

có thể bị oxy hóa đầy đủ để tạo thành Đioxitcacbon bằng các chất oxy hóa
mạnh trong điều kiện môi trường axit. Khối lượng oxi hóa cần thiết để oxi
hóa một hợp chất hữu cơ thành đioxitcacbon , ammoniac và nước.
Quá trình chuyển hóa ammoniac thành nitrate được gọi là quá trình nitrat
hóa. Dưới đây là phương trình chính tắc để oxi hóa ammoniac thành nitrat.
Phương trình thứ hai này nên được áp dụng sau phương trình tạo thành
đioxitcacbon , ammoniac và nước để gộp hai quá trình oxi hóa trong sự nitrat
hóa nếu như nhu cầu oxi từ việc nitrat hóa phải được biết đến. Dicromac
không oxi hóa ammoniac thành nitrat, vì thế quá trình nitrat hóa này có thể bỏ
qua một cách an toàn trong thử nghiệm nhu cầu oxi hóa học tiêu chuẩn.
Phần lớn các ứng dụng của COD xác định khối lượng các chất ô nhiễm
hữu cơ tìn thấy trong nước thải bề mặt, làm cho COD là một phép đo hữu ích
về chất lượng nước. Nó cần tiêu hiệu trên một lít dung dịch.Các nguồn tài liệu
cũ còn biểu hiện nó dưới dạng các đơn vị đo khác nhau như phần triệu (ppm).
Khi nhu cầu oxi hóa (vượt chỉ tiêu cho phép) thì khả năng tự làm sạch của
nước không đáp ứng được. Trong một thời gian dài sẽ gây ô nhiễm chất hữu
cơ trong nước, làm suy giảm chất lượng nước. Khi sử dụng nước này cho hoạt
đông tưới tiêu trong nông nghiệp có thể gây độc với các loại cây trồng.
* Tác động của BOD tới môi trường và con người
Nhu cầu oxi hóa sinh học hay nhu cầu oxi sinh học (ký hiệu: BOD,từ
viết tắt Tiếng anh của Biochemical hay Biological oxy gen Demand), là một
chỉ số và đồng thời là một thủ tục được cử dụng để xác định xem các sinh vật
sử dụng hết oxi trong nước nhanh hay chậm như thế nào. Nó được sử dụng
trong quản lý và khảo sát chất lượng cũng như trong sinh thái học hay khoa
học môi trường. BOD không là một thử nghiệm chính xác về mặt định lượng
mặc dù nó có thể coi như là một chỉ thị về chất lượng nguồn nước. Nhu cầu
oxi sinh học là khối lượng oxi cần thiết để oxi hóa các chất hữu co theo con

Trích đoạn Nguy cơ dịch bệnh do ô nhiễm nguồn nước bởi nước thải bệnh viện trên xuất giải pháp quản lý và giảm thiể uô nhiễm nước thải bệnh viện Phương pháp thực nghiệm và phân tích tại phòng thí nghiệm Điều kiện tự nhiên Công nghệ xử lý nước thải Bệnh viện theo mô hình DEWATS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status