ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN SÓC SƠNTỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Thu Hương
HÀ NỘI, 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2003
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hòa
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu tôi đã luôn nhận được sự
giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến hết sức nhiệt tình và quý báu của PGS.TS.
Chương 1 7
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
HUYỆN SÓC SƠN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA SAU 15 NĂM ĐỔI
MỚI 7
1.1. Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện Sóc Sơn 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Sóc Sơn 7
Chương 2: 34
ĐẢNG BỘ HUYỆN SÓC SƠN LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC GIÁO DỤC -
ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 34
2.1. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục - đào tạo
của Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2005 34
2.1.1. Đảng bộ huyện Sóc Sơn cụ thể hóa chủ trương của các cấp bộ Đảng
về phát triển giáo dục - đào tạo từ năm 2000 đến năm 2005 34
2.1.2. Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện phát triển công tác giáo dục -
đào tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2005 43
2.2. Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo phát triển giáo dục - đào tạo phục vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2006 - 2010) 54
2.2.1. Chủ trương đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ mới
(2006 - 2010) 54
* 71
Chương 3: 73
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 73
3.1. Nhận xét 73
3.1.1. Thành tựu đạt được 73
3.1.2. Một số hạn chế 81
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 103
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sóc Sơn là một huyện ngoại thành phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, được
coi như một đô thị vệ tinh của Thành phố. Mặc dù là một huyện còn nhiều
khó khăn nhưng trong tương quan so sánh với các địa phương khác của Thành
phố, thì Sóc Sơn có những tiềm năng lớn về tài nguyên, khí hậu, lao động và
đặc biệt là trí tuệ con người. Với mục tiêu từng bước phát triển kinh tế - xã
hội với tốc độ nhanh, hiệu quả cao, toàn diện và bền vững theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa… không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, trở
thành huyện phát triển của Thủ đô Hà Nội, Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc
Sơn đã rất quan tâm đến công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện nhằm
nâng cao dân trí, xây dựng đội ngũ lao động trình độ cao đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đóng góp vào sự phát triển chung của
Thủ đô Hà Nội và cả nước.
Trong thời kỳ 2000 - 2010, được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của
Trung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội và Đảng bộ huyện Sóc Sơn,
công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện đã có những chuyển biến lớn.
Bên cạnh đó, công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện cũng gặp nhiều
khó khăn về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục giữa các ngành học, cấp học
còn chưa đồng đều, cơ cấu đào tạo, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được
yêu cầu của xã hội về trình độ nhân lực… Chính vì vậy, việc tìm hiểu vai trò
lãnh đạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn; quá trình vận dụng quan điểm, đường
lối của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội về phát triển giáo dục -
đào tạo trên địa bàn huyện là việc làm có ý nghĩa to lớn. Xuất phát từ suy nghĩ
đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Quá trình lãnh đạo công tác giáo dục - đào
tạo của Đảng bộ Huyện Sóc Sơn từ năm 2000 đến năm 2010” làm Luận văn
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giáo dục - đào tạo từ trước tới nay đã nhận được sự quan tâm
tìm hiểu, đầu tư nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học, các cơ quan, tổ
2
chức trong và ngoài nước. Nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã
Thị Quế Liên, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Đảng bộ
Thành phố Hà Nội lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến
năm 2006, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam; Giáo dục - Đào tạo Phú Thọ: Sự nghiệp “ trồng người” trên mảnh
đất cội nguồn của Thu Hà, Việt Cường, Tạp chí Đông Nam Á, số 11 năm
2004; Phát huy truyền thống dạy và học trên vùng đất Tổ của tác giả Phan
Văn Lân, Tạp chí Thương mại số 13 năm 2005…
Thứ ba là các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến huyện Sóc
Sơn có các đề tài: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1991 - 2000, Trần Thị Phương Thảo,
Khóa luận cử nhân Lịch sử năm 2001; Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo thực
hiện chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương thời kỳ 1992 - 2000, Lê
Tiến Dũng, Khóa luận cử nhân Lịch sử năm 2001; Đảng bộ huyện Sóc Sơn
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 1986 - 2005, Lê Tiến Dũng, Luận
văn Thạc sĩ Lịch sử năm 2007; Lịch sử Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn,
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Sóc Sơn, Hà Nội, 2010… Những công trình
nêu trên đã đề cập tới một vài khía cạnh trong toàn bộ quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn nhưng chưa có công trình cụ thể nào
nghiên cứu về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện. Hầu hết các vấn
đề liên quan đến giáo dục - đào tạo mới chỉ được đề cập đến trong các báo cáo
tổng kết của các ban ngành chức năng của huyện. Chính vì vậy, đề tài được
thực hiện với mong muốn làm rõ thêm sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện với
công tác GD - ĐT huyện Sóc Sơn thời kỳ 2000 - 2010 đóng góp vào sự phát
triển kinh tế - xã hội của huyện.
3. Muc đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Làm sáng tỏ một cách khách quan và toàn diện quá trình
lãnh đạo, chỉ đạo một cách sáng tạo của Đảng bộ huyện Sóc Sơn trong việc
vận dụng chủ trương của Đảng về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn
huyện thời kỳ 2000 - 2010, qua đó khẳng định tầm quan trọng của công tác
4
5
đào tạo; Các khóa luận, Luận văn, Luận án của các tác giả đã được công nhận
về công tác giáo dục - đào tạo.
* Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam về giáo dục - đào tạo.
- Sử dụng phương pháp lịch sử nhằm mô tả đúng sự thật lịch sử đã diễn
ra, kết hợp phương pháp logic, phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp sự kiện lịch sử, kết hợp khảo sát thực tiễn tại địa phương nghiên cứu.
6. Đóng góp của Luận văn
- Tái hiện một cách tương đối toàn diện, cụ thể các chủ trương, biện
pháp thực hiện cũng như kết quả thực hiện của Đảng bộ huyện và nhân dân
Sóc Sơn về công tác giáo dục - đào tạo trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến
năm 2010.
- Từ những thành công, hạn chế của công tác giáo dục - đào tạo trong
10 năm (2000 - 2010) luận văn góp phần cung cấp các dữ liệu lịch sử cho quá
trình bổ sung về chủ trương thực hiện công tác giáo dục - đào tạo của Đảng
bộ huyện trong thời gian tiếp theo.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của Luận văn chia thành 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Các yếu tố tác động đến công tác giáo dục - đào tạo huyện
Sóc Sơn và những vấn đề đặt ra sau 15 năm đổi mới
Chương 2: Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo công tác giáo dục - đào
tạo từ năm 2000 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm
6
Chương 1
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
sông Công. Phía Đông huyện giáp 2 huyện là Hiệp Hòa (Bắc Giang) và Yên
Phong (Bắc Ninh) với ranh giới tự nhiên là dòng sông Cầu và sông Cà Lồ.
Phía Nam huyện giáp huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) với ranh giới tự
nhiên là dòng sông Cà Lồ.
Ngày 5/7/1977 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178 - QĐ/ CP,
hợp nhất các huyện theo vùng quy hoạch của tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Quyết
định đó, huyện Sóc Sơn được hình thành trên cơ sở hợp nhất hai huyện Đa
Phúc và Kim Anh. Đến ngày 1/4/1979, sau khi chiến tranh biên giới kết thúc,
Chính phủ ra Quyết định chuyển huyện Sóc Sơn của tỉnh Vĩnh Phúc về trực
thuộc Thành phố Hà Nội. Kể từ thời điểm đó, huyện Sóc Sơn bao gồm 25 xã
và 1 Thị trấn (trung tâm Thị trấn đặt trên địa bàn của 2 xã là Phù Linh và Tiên
Dược); địa giới này được giữ nguyên cho tới ngày nay với tổng diện tích tự
nhiên là 30. 651,24ha.
Huyện Sóc Sơn là cửa ngõ của Thủ đô đi Tây Bắc - Việt Bắc, trở thành
đầu mối giao thông quan trọng nối liền Thủ đô Hà Nội với các vùng công
nghiệp, các trung tâm dịch vụ lớn trong khu vực tam giác kinh tế thông qua
các tuyến đường lớn: Đường Quốc lộ 3 (đi lên Việt Bắc); Đường Quốc lộ 2
7
(lên Tây Bắc); Đường Đò Vát (sang Bắc Giang); Đường Cao tốc Bắc Thăng
Long - Nội Bài (nối huyện Sóc Sơn với Thủ đô Hà Nội); Đường 18 (nối liền
vành đai kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh).
Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có Cảng hàng không Sân bay Quốc tế
Nội Bài, tuyến đường quốc lộ 3 - đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh
phía Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền trong, đường sắt Hà Nội - Thái
Nguyên chạy qua ga Đa Phúc và ga Trung Giã nằm ở hai đầu của huyện,
nhiều khu công nghiệp lớn đã và sẽ hình thành. Tất cả những yếu tố đó tạo
cho Sóc Sơn những điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
huyện Sóc Sơn nói riêng và Thủ đô Hà Nội nói chung.
Theo quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội, với vị trí địa lý quan trọng
như vậy, trong tương lai Sóc Sơn là một trong những hướng quan trọng để
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.
Có thể nói, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên kể trên, huyện Sóc
Sơn có những thế mạnh cần được đầu tư khai thác hiệu quả hơn để phục vụ
cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Tuy
nhiên, để các yếu tố đó thực sự phát huy có hiệu quả cần phải có nguồn nhân
lực chất lượng cao, có trình độ để có thể khai thác hết những tiềm năng mà
điều kiện ấy mang lại. Điều đó có nghĩa là sự nghiệp GD – ĐT cần phải được
quan tâm chỉ đạo của Trung ương và của Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ huyện
cũng cần có những chương trình hành động, những quy hoạch cụ thể, quan
tâm đúng mức và đầu tư kịp thời, đúng hướng nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã
đề ra, phấn đấu đưa huyện Sóc Sơn trở thành huyện phát triển của Thủ đô.
* Tình hình kinh tế
Điều kiện tự nhiên phong phú cùng với địa hình đa dạng đã tạo ra
những tiềm năng to lớn cho huyện Sóc Sơn phát triển nền kinh tế đa dạng về
loại hình.
9
Nguồn tài nguyên đất đai canh tác, tài nguyên nước, khí hậu, sông ngòi
thuận lợi tạo điều kiện để phát triển nghề nông nghiệp trồng lúa nước. Mô
hình kinh tế trang trại cũng đang được hình thành và đi vào phát triển: hình
thành các vùng sản xuất tập trung (vùng cây ăn quả, vùng sản xuất rau tập
trung, vùng sản xuất chè, ); chăn nuôi phát triển theo hướng công nghiệp
(chương trình Sind hóa đàn bò, phát triển đàn gia cầm…). Huyện đã chỉ đạo
cho các xã lập dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên cơ sở quy
hoạch phát triển ngành nông nghiệp của huyện nhằm giảm dần diện tích cây
lương thực, tăng diện tích rau an toàn, hoa, cây cảnh, hỗ trợ kinh phí cho các
mô hình chăn nuôi.
Bên cạnh đó, Sóc Sơn là địa phương có rừng với diện tích 6.630ha,
nhiều hồ, đập có khả năng trữ nước tưới cho cây trồng đồng thời có khả năng
phát triển du lịch sinh thái. Trên địa bàn huyện đã có nhiều di tích lịch sử văn
Tỉ lệ sinh và số khẩu bình quân/hộ của huyện còn khá cao, trong những năm
gần đây, tỉ lệ sinh có giảm đi song công tác kế hoạch hóa gia đình của huyện
cần phát huy hơn nữa nhằm giảm tỉ lệ sinh con thứ 3 góp phần ổn định đời
sống của nhân dân.
Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 1991 – 1995 là 1,35%; giai
đoạn 1996 – 2000 là 1,4%; và giai đoạn 2001 – 2003 là 1,25%. Tỉ lệ tăng dân
số tự nhiên qua các giai đoạn có xu hướng giảm đều. Trong giai đoạn này,
Sóc Sơn ít chịu ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nên tỉ lệ tăng dân số cơ
học còn thấp. Đến năm 2005 – 2010, dân số của huyện không có sự đột biến
về tốc độ tăng, đồng thời số dân nông nghiệp cũng giảm đi cùng với quá trình
đô thị hóa diễn ra trên địa bàn huyện.
Theo điều tra của Sở Lao động thương binh xã hội, năm 2000 tỉ lệ hộ
nghèo ở huyện Sóc Sơn cao nhất thành phố, với 23,9%. Toàn huyện có tới
khoảng 88% dân số làm lao động nông nghiệp, lao động phi nông nghiệp chỉ
chiếm 12%. Số lao động nông nghiệp trong những lúc nông nhàn thường phải
đi làm thuê trong khi các nhà máy, xí nghiệp đóng trên địa bàn của huyện vẫn
11
phải sử dụng một số công nhân không có hộ khẩu thường trú tại huyện. Nói
cách khác, việc đào tạo công nhân, thợ lành nghề đáp ứng kịp thời nhu cầu và
đòi hỏi ngày càng cao của các doanh nghiệp, nâng cao thu nhập ổn định đời
sống nhân dân đang trở thành vấn đề cấp thiết của huyện Sóc Sơn.
Nhìn chung, trong lĩnh vực lao động và công tác cán bộ, huyện Sóc Sơn
đang đứng trước nhiều vấn đề mà nổi bật là:
Cơ cấu lao động phân bổ trong các ngành không đều, chưa hợp lý, lao
động trong ngành sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn chiếm chủ yếu, các ngành
khác chiếm tỉ lệ ít hơn.
Chất lượng lao động thấp, số lao động được đào tạo chỉ chiếm 15,62%,
số không qua đào tạo chiếm 84,38% trên tổng số lao động của huyện.
Số lao động của huyện được tuyển chọn vào làm việc tại các dự án
công nghiệp có đầu tư nước ngoài còn thấp.
Tiến sĩ (Văn Miếu - Quốc Tử Giám), nhiều người trong số đó đã làm quan
cho triều đình. Tiếp nối truyền thống hiếu học ấy, hiện nay học sinh các xã
trên địa bàn huyện đều ra sức học tập đạt kết quả cao, đặc biệt là các xã vùng
sâu, vùng xa học sinh luôn luôn tìm cách vượt khó, vươn lên trong học tập.
Tiêu biểu là tại trường THPT Trung Giã - một ngôi trường làng nằm ở phía
Bắc của huyện, học sinh theo học tại trường chủ yếu là các xã vùng núi của
huyện (Nam Sơn, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, Trung Giã) nhưng ở các em học sinh
này có tinh thần vươn lên vượt khó, đạt thành tích cao trong học tập. Trường
THPT Trung Giã là một ngôi trường có bề dày thành tích trong dạy và học, tỷ
lệ học sinh thi đỗ Đại học hàng năm cao, đứng thứ nhất, nhì trong số các
trường THPT trên địa bàn huyện, có nhiều em thi đỗ thủ khoa Đại học.
Thứ ba, huyện Sóc Sơn đã có chính sách quan tâm tới công tác giáo
dục - đào tạo: vấn đề luân chuyển trường của giáo viên THCS, vấn đề xây
dựng cơ sở hạ tầng và đầu tư cơ sở vật chất giáo dục cho các trường học…
13
Đặc biệt là công tác khuyến học rất được quan tâm: các trường phổ thông trên
địa bàn huyện có nhiều hình thức để động viên tinh thần học tập cho thế hệ
trẻ; lãnh đạo huyện Sóc Sơn cũng rất quan tâm tới sự nghiệp trồng người,
hàng năm vẫn tổ chức Lễ Tuyên dương tài năng trẻ trên địa bàn huyện, trao
học bổng cho những học sinh học giỏi, có kết quả thi Đại học - Cao đẳng cao.
Chính sách khuyến học của huyện đã có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ tinh
thần học tập cho các em học sinh phổ thông, đặc biệt là các em học sinh có
hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập.
* Những khó khăn, thách thức đối với GD - ĐT huyện Sóc Sơn
Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn,
dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông, thu nhập thấp, đời sống nhân dân lại
gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn chưa cao, vì vậy nhận thức của họ về
sự nghiệp giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, thậm chí không đủ điều kiện
cho con đi học THCS hay THPT, do đó mức độ đóng góp của nhân dân cho
việc học tập của con chưa cao, việc đầu tư cho con đi học còn hạn chế hoặc
nhim v ch yu cho 5 nm (1991 - 1995) v thụng qua Cng lnh v thi
k quỏ lờn ch ngha xó hi nc ta, thụng qua chin lc n nh v
phỏt trin kinh t - xó hi n nm 2000.
Trờn c s ỏnh giỏ chung thc trng cụng tỏc giỏo dc - o to t sau
i hi VI, i hi VII ó ra mc tiờu giỏo dc v o to nh sau: Mc
tiờu giỏo dc v o to nhm nõng cao dõn trớ, o to nhõn lc, bi dng
nhõn ti, hỡnh thnh i ng lao ng cú tri thc v cú tay ngh, cú nng lc
thc hnh, t ch, nng ng v sỏng to, cú o c cỏch mng, tinh thn
yờu nc, yờu ch ngha xó hi. Nh trng o to th h tr theo hng
ton din v cú nng lc chuyờn mụn sõu, cú ý thc v kh nng t to vic
lm trong nn kinh t hng húa nhiu thnh phn [26, tr.21].
15
Để thực hiện mục tiêu ấy, nhiệm vụ của 5 năm (1991 - 1995) là “tiếp
tục đổi mới, ổn định phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Coi trọng chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên;
hiện đại hóa một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hóa nhà
trường và quản lý giáo dục; đa dạng hóa các loại hình đào tạo và loại hình
trường lớp, từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục,
dạy nghề, phát triển loại hình vừa học vừa làm…” [26, tr.21].
Báo cáo cũng nêu rõ nhiệm vụ phải “Tập trung thực hiện chương trình
phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp
với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế. Củng cố và phát triển trường phổ
thông trẻ em có tật… Tăng cường đầu tư cho giáo dục ở miền núi và dân tộc
thiểu số, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức
người dân tộc” [26, tr.22].
Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng tại Đại hội VII đối với giáo dục,
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 4 (khóa VII) đã được tổ chức
(tháng 1/1993). Hội nghị đã phân tích về tình hình giáo dục đào tạo Việt Nam
giai đoạn đã qua, khẳng định và tự hào về thành tựu giáo dục của nhân dân ta,
đội ngũ giáo viên và học sinh đã đạt được. Đồng thời “nhìn thẳng vào sự
Phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục trong 5 năm tới là phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa; khắc phục
những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo… lấy việc phát triển
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”
[26, tr.36]. Như vậy, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đã trở thành
“khâu đột phá” của thời kỳ cách mạng mới. Giáo dục phải đi trước một bước
hợp lý so với phát triển kinh tế; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan
trọng nhất, không chỉ về tài chính mà là đầu tư về mọi mặt.
17
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng đã họp (tháng 12/1996) và ra Nghị quyết số 02-
NQ/TW “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”.
Hội nghị đã phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục và đào tạo, vạch ra
những nguyên nhân khách quan, chủ quan và nhận định: “Hiện nay sự nghiệp
giáo dục - đào tạo đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phát
triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng
giáo dục - đào tạo, trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn
nhiều hạn chế” [12, tr.60]. Trên cơ sở đó Hội nghị đã đề ra những định hướng
chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông thời kỳ 1996 -
2000 được tập trung vào 10 chữ: “chấn chỉnh”, “sắp xếp”, “củng cố”, “nâng
cao” và “phát triển”. Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục phổ thông toàn
diện: đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục, ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng
giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực
thực hành cho người học.
Để thực hiện những mục tiêu đó, nhiều biện pháp tích cực đã được đề
ra, cụ thể:
- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục: coi đầu tư cho giáo dục là
đầu tư phát triển, đầu tư cơ bản quan trọng nhất. Kết hợp giáo dục xã hội, giáo