Khảo sát chất lượng dịch vụ dược tại các nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP trên địa bàn thành phố vinh nghệ an - Pdf 29

C
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DƯỢC
TẠI CÁC NHÀ THUỐC ĐẠT TIÊU CHUẨN GPP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH – NGHỆ AN

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I HÀ NỘI - 2013 Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Thị Trâm HÀ NỘI, NĂM 2013

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ts.Vũ Thị Trâm - Trường Đại
học Dược Hà Nội, là người đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm
nghiên cứu cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ts.Nguyễn Thị Thanh Hương – Bộ
môn Quản lý kinh tế dược, trường ĐH Dược Hà Nội, DS.Nguyễn Hồng Lĩnh -
Trưởng phòng Hành nghề y dược tư nhân, Sở Y tế tỉnh Nghệ An đã tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập và xử lý số liệu trên địa bàn tỉnh
Nghệ An và hoàn thành đề tài này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học dược
Hà Nội, phòng sau đại học, thầy cô các bộ môn đã tham gia giảng dạy lớp chuyên
khoa 1 này, đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè và những
người thân của tôi trong suốt thời gian qua đã luôn ở bên cạnh khích lệ, đồng
viên tôi thực hiện đề tài này.

Vinh, ngày 30 tháng 6 năm 2013
Học viên

1.3.2 Nhiệm vụ và kỹ năng của người dược sỹ tại các nhà thuốc GPP.
15
a) Nhiệm vụ của người dược sĩ hay nhân viên bán thuốc.
15
b) Kỹ năng thực hành của nhân viên bán thuốc tại nhà thuốc GPP
16
1.4 Khái niệm và tình hình triển khai GPP tại Việt Nam
18
1.4.1 Khái niệm GPP
18
1.4.2 Tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc
19
1.4.3. Tình hình triển khai GPP tại Việt Nam.
19
1.5. Đặc điểm về mạng lưới cung ứng thuốc ở Nghệ An.
20
1.5.1. Mạng lưới cung ứng thuốc tại tỉnh Nghệ An.
20
1.5.2. Một số tồn tại của các đại lý bán lẻ thuốc trên địa bàn toàn tỉnh.
20
1.5.3. Tình hình triển khai GPP tại Nghệ An và Tp Vinh
21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
24
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
24

2.3. Thiết kế nghiên cứu 24
2.3.1. Cỡ mẫu nghiên cứu và kỹ thuật chọn mẫu

3.2.1 Trình độ của người bán thuốc
37
3.2.2 Các thuốc khách hàng đã mua.
37
a) Các nhóm thuốc
37
b) Tỷ lệ thuốc bán có nhãn phù hợp và không phù hợp.
39
c) Tỷ lệ trường hợp mua thuốc ETC/ OTC
40
d) Tỷ lệ mua thuốc ETC đúng quy chế và không đúng quy chế.
41
3.2.3 Kỹ năng thực hành của nhân viên tại nhà thuốc
42
a) Kỹ năng hỏi
42
b) Kỹ năng khuyên
44
c) Kỹ năng hướng dẫn sử dụng thuốc.
46

Chương 4. BÀN LUẬN 48
1. Cơ sở vật chất, sổ sách, tài liệu và việc thực hiện một số quy định chuyên
môn của nhà thuốc GPP.
48
1.1 Cơ sở vật chất.
48
1.2 Sổ sách, tài liệu tại các nhà thuốc GPP
49
1.3 Thực hiện một số quy định chuyên môn.

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Số liệu thống kê sản xuất, xuất nhập khẩu thuốc qua các năm
Bảng 1.2. Tiền thuốc bình quân đầu người qua các năm
Bảng 1.3. Tốc độ tăng trưởng thị trường dược phẩm qua các năm
Bảng 1.4. Tỷ lệ mẫu thuốc không đạt chất lượng
Bảng 1.5. Thống kê tỷ lệ thuốc giả từ năm 2005 đến 2010
Bảng 1.6. Số liệu các cơ sở đạt tiêu chuẩn GPP đến 8/2012
Bảng 2.1. Chỉ tiêu về kỹ năng hỏi, khuyên và hướng dẫn sử dụng
Bảng 3.1. Một số tiêu chuẩn về xây dựng và thiết kế
Bảng 3.2. Một số thiết bị bảo quản tại nhà thuốc
Bảng 3.3. Một số chỉ tiêu về sổ sách và tài liệu chuyên môn
Bảng 3.4. Chỉ tiêu về một số SOP áp dụng tại nhà thuốc
Bảng 3.5. Tình hình thực hiện một số quy định chuyên môn
Bảng 3.6. Trình độ người bán thuốc
Bảng 3.7. Các nhóm thuốc khách hàng đã mua
Bảng 3.8. Tỷ lệ thuốc có nhãn phù hợp và không phù hợp
Bảng 3.9. Số trường hợp mua thuốc ETC và OTC
Bảng 3.10. Tỷ lệ mua thuốc ETC có đơn và không có đơn
Bảng 3.11. Những câu hỏi của nhân viên nhà thuốc
Bảng 3.12. Những lời khuyên của nhân viên nhà thuốc
Bảng 3.13. Hướng dẫn sử dụng thuốc của nhân viên nhà thuốc
Trang
5
6
7
8
8
22
27

Hình 3.13. Hướng dẫn sử dụng thuốc của nhân viên bán thuốc
Trang
6
7
30
32
33
35
36
37
39
40
41
42
43
45
47

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

ADR (Adverse Drug Reaction): Phản ứng bất lợi của thuốc.
BYT: Bộ y tế
FIP (Federation International Pharmaceutical): Liên đoàn dược phẩm quốc tế
(Good Pharmacy Practice): Thực hành tốt nhà thuốc
GMP (Good Manufacturing Practice): Thực hành tốt sản xuất thuốc
GLP (Good Laboratory Practice): Thực hành tốt phân phối thuốc
GSP (Good Storage Practice): Thực hành tốt bảo quản thuốc
HIV (Human Immunodeficiency Virus): Virus suy giảm miễn dịch ở người
NIDA (National Institute on Drug Abuse): Viện nghiên cứu về lạm dụng thuốc
NQ: Nghị quyết

thuốc tư nhân, các quầy thuốc là hết sức quan trọng và cấp thiết để đáp ứng nhu cầu
điều trị ngày một tăng của người dân. Tuy nhiên, sự phong phú và sẵn có của các
loại thuốc trên thị trường, cùng với thói quen và xu hướng tự sử dụng thuốc để điều
trị của người dân đã nảy sinh nhiều vấn đề đối với sức khỏe người bệnh, hiện tượng
lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc sai chỉ định hay sai hướng dẫn ngày càng trở nên
phổ biến[8]. Tình trạng các nhà thuốc tư nhân vì chạy theo lợi nhuận mà vi phạm
các quy chế chuyên môn vẫn xảy ra phổ biến ở nhiều tỉnh thành trong cả nước, điều
này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như tính mạng của người bệnh.
1

Thấy được vai trò quan trọng của các cơ sở bán lẻ thuốc đối với việc chăm sóc
sức khỏe cộng đồng, Liên đoàn dược phẩm quốc tế FIP đã đưa ra một văn bản bao
gồm các tiêu chuẩn về “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP” và được WHO thông qua
năm 1997[16]. Kể từ đó đến nay, FIP và WHO đã đưa ra nhiều văn bản hướng dẫn
để hoàn thiện về “Thực hành tốt nhà thuốc” để các khu vực và quốc gia thực hiện.
Tại Việt Nam, năm 2007 Bộ Y tế chính thức ban hành và áp dụng nguyên tắc,
tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP” nhằm hướng đến cung ứng thuốc đảm
bảo chất lượng và sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả cho người dân. Các tỉnh,
thành trong cả nước đã tích cực triển khai quyết định số 11/2007/QĐ-BYT về “Thực
hành tốt nhà thuốc”, trong đó Nghệ An là tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong việc thực
hiện chuẩn hóa các nhà thuốc theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế đưa ra để các nhà thuốc
trên địa bàn toàn tỉnh đạt GPP theo đúng lộ trình. Cho đến nay, các nhà thuốc trên
địa bàn thành phố Vinh đã cơ bản được chuẩn hóa để đạt tiêu chuẩn GPP. Điều này
đã góp phần làm việc kinh doanh thuốc tại các nhà thuốc có chất lượng được nâng
lên rõ rệt, góp phần làm củng cố niềm tin đối với người dân trong việc đến các nhà
thuốc để mua thuốc điều trị bệnh, phần nào làm thay đổi diện mạo ngành Dược trên
địa bàn. Tuy vậy, thực trạng các nhà thuốc đã đạt chuẩn GPP vẫn còn tồn tại nhiều
bất cập và sai sót trong quá trình hoạt động. Trước thực trạng đó, trong thời gian từ
tháng 6/2012 đến tháng 10/2012, tôi đã thực hiện đề tài “Khảo sát chất lượng dịch
vụ dược tại các nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP trên địa bàn thành phố Vinh,

chuyển tiếp, ít hơn 40% bệnh nhân trong khu vực công và 30% bệnh nhân trong
khu vực tư nhân được điều trị phù hợp với hướng dẫn điều trị chuẩn. Thuốc
kháng sinh được sử dụng sai mục đích và sử dụng quá mức ở tất cả các vùng.
Tại châu Âu, một số nước đã sử dụng gấp ba lần số tiền thuốc kháng sinh cho
mỗi đầu người so với các nước khác với hồ sơ bệnh tương tự. Ở các nước đang
phát triển và chuyển đổi, chỉ có 70% trường hợp viêm phổi nhận được kháng
sinh thích hợp, khoảng một nửa tất cả các nhiễm trùng cấp tính do virus trên
3

đường hô hấp và các trường hợp tiêu chảy do virus sử dụng thuốc kháng sinh
không phù hợp.
Hiện tượng sử dụng các thuốc an thần và tiền chất không đúng theo chỉ
dẫn y tế cũng rất đáng lưu ý. Tại Mỹ, năm 2010 theo báo cáo của Viện nghiên
cứu về lạm dụng thuốc NIDA (National Institute on Drug Abuse) có khoảng 7 triệu
người sử dụng các thuốc tâm lý trị liệu không hợp lý (khoảng 2,7% dân số). Các loại
thuốc bị lạm dụng phổ biến nhất là: thuốc giảm đau: 5,1 triệu; thuốc an thần, gây
ngủ: 2,6 triệu; các chất kích thích: 1,1 triệu [20].
Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ chế độ điều trị chiếm khoảng 50% trên thế gới và
thấp hơn ở các nước đang phát triển và chuyển tiếp, có đến 50% của tất cả các
trường hợp pha chế thuốc là không đầy đủ (về hướng dẫn bệnh nhân hoặc ghi nhãn
khi cấp phát thuốc) [20].
Hậu quả tai hại của việc sử dụng thuốc không hợp lý dẫn đến việc: xuất hiện
nhiều thêm các tác dụng phụ, làm tăng các vi khuẩn kháng thuốc, hậu quả làm lây
lan các bệnh nhiễm trùng khiến nhiều bệnh lý trở nên trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao và
chi phí điều trị tăng lên hàng tỷ đô la mỗi năm.
Chưa đến một nửa các quốc gia trên thế giới đang thực hiện các chính sách cơ
bản cần thiết để đảm bảo sử dụng hợp lý các loại thuốc như: giám sát và cập nhật
thường xuyên việc sử dụng thuốc, các hướng dẫn lâm sàng và có một trung tâm
thông tin thuốc ETC, thuốc OTC, tổ chức các hội đồng thuốc và điều trị tại hầu hết
các bệnh viện hoặc khu vực.

2006
956.353
475.403
710.000
2007
1.136.353
600.630
810.711
2008
1.425.657
715.435
923.288
2009
1.696.135
831.205
1.170.828
2010
1.913.661
919.039
1.252.572
2011
2.397.972
1.182.583
1.295.834
(Nguồn: Cục quản lý Dược)
Có thể thấy trong những năm gần đây, việc sản xuất, xuất nhập khẩu thuốc đã
có những bước tiến rõ rệt. Năm 2010, giá trị thuốc sản xuất trong nước đạt khoảng
919,04 triệu USD, tăng 10,57% so với năm 2009, đáp ứng được 48,03% nhu cầu sử
dụng thuốc trong nước.
5

16.2
13.8
11.6
9.1
7.5
6.7
5.9
25.4
29.4
33.8
76
78
80
82
84
86
88
90
92
94
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012

17.2
17.4
17.7
17.5
0
5
10
15
20
25
30
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
năm
Gr %
Gr %
Hình 1.2. Tốc độ tăng trường thị trường dược phẩm Việt Nam
Tuy nhiên, trên thị trường thuốc Việt Nam vẫn xuất hiện một số loại thuốc
với chất lượng không đáng tin cậy.

7

Bảng 1.4. Tỷ lệ mẫu thuốc không đạt chất lượng
Năm
Tổng số mẫu lấy để
kiểm tra chất lượng
Số mẫu không đạt
TCCL
Tỷ lệ thuốc không
đạt TCCL (%)
2005

2009
2010
Tỷ lệ (%)
0,09
0,13
0,17
0,095
0,12
0,075
(Nguồn: Cục quản lý Dược)
(Tỷ lệ thuốc giả được phát hiện tính trên tổng số mẫu lấy kiểm tra, không
tính trên tổng số thuốc lưu hành trên thị trường)
Việt Nam tuy chưa phải là nước có tỷ lệ thuốc giả, thuốc kém chất
lượng thuộc dạng cao trên thế giới, song đã có những diễn biến phức tạp và
đang đứng thứ 2 trong khu vực, có nguy cơ trở thành “bãi rác thuốc kém chất
lượng” của các nước công nghiệp phát triển. Đầu năm 2012, trong hơn 31.000
mẫu thuốc lấy từ các cơ sở bán lẻ để kiểm tra đã có hơn 1000 mẫu không đạt
chất lượng. Để cải thiện tình hình chất lượng thuốc trên thị trường. Bộ Y tế
đang tập trung xây dựng hệ thống cơ sở bán lẻ thuốc đạt tiêu chuẩn GPP (thực
hành tốt nhà thuốc) đồng thời triển khai hệ thống quản lý chất lượng toàn
diện từ sản xuất (GMP), bảo quản (GSP), kiểm nghiệm (GLP), phân phối
(GDP) và hậu kiểm [5].
8

1.1.3. Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi có những bất thường về
sức khỏe, phổ biến là những bệnh thông thường 60 đến 85% người dân thường
đến các điểm bán lẻ như quầy thuốc, nhà thuốc để tìm kiếm sự giúp đỡ và mua
thuốc điều trị trước khi đến với các loại hình dịch vụ y tế khác nếu không khỏi
bệnh[6]. Điều này dẫn đến tình hình sử dụng thuốc ở Việt Nam đang ngày càng

dược và nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành của nhân viên, các cơ sở bán lẻ
thuốc sẽ giúp cải thiện đáng kể tình hình sử dụng thuốc trong cộng đồng.
Từ tất cả những vấn đề trên, chúng ta có thể thấy được vai trò của dược
cộng đồng trong việc cung cấp những dịch vụ tốt nhất về thuốc, đảm bảo được
việc điều trị một cách hiệu quả và kinh tế cho người dân, đồng thời thấy được
vai trò của các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện cơ chế luật pháp và tăng
cường kiểm tra, giám sát hệ thống phân phối thuốc tại các nhà thuốc tư nhân và
quầy thuốc trên địa bàn.
1.2. Khái quát về dược cộng đồng
Hoạt động Dược cộng đồng là toàn bộ các dịch vụ dược cung ứng cho cộng
đồng thông qua hệ thống các cửa hàng dược phẩm (nhà thuốc, đại lý bán thuốc,
quầy thuốc …) trong cộng đồng được thực hiện bởi người dược sĩ cộng đồng[21].
1.2.1. Một số tiêu chuẩn cung ứng thuốc cho cộng đồng
Trong vài thập kỷ gần đây, Dược cộng đồng đã đề cập đến các hoạt động
chăm sóc thuốc men cho cộng đồng, từ việc cung ứng đủ, phân phối thuốc có
chất lượng đến việc sử dụng thuốc an toàn hợp lý, kinh tế. Các hoạt động thông
tin giáo dục, truyền thông và dử dụng thuốc được tiến hành thường xuyên thông
qua các hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng. Tổ chức y tế Thế giới đã
đưa ra 6 tiêu chuẩn để hướng dẫn, giám sát và đánh giá việc cung ứng thuốc cho
cộng đồng như sau[12]:
Thuận tiện: Điểm bán thuốc gần dân, người dân đi đến điểm bán thuốc
không mất nhiều thời gian dù đi bằng phương tiện thông thường (30-60 phút).
10

Giờ giấc bán: Phù hợp với tập quán sinh hoạt của từng địa phương, cần
có hiệu thuốc phục vụ 24/24 giờ để phục vụ cấp cứu, thủ tục mua bán thuận tiện
nhất là thuốc thông thường không cần đơn.
Tính kịp thời: Có sẵn và đủ các loại thuốc đáp ứng nhu cầu, có thuốc
cùng loại để thay thế. Có sẵn và đủ các loại thuốc thiết yếu.
Chất lượng thuốc: Đảm bảo và không bán những thuốc chưa có số đăng

làm việc trong lĩnh vực sức khỏe cộng đồng hay đúng hơn, các dược sĩ chính là
một bộ phận của hệ thống chăm sóc sức khỏe có vai trò quản lý và phân phối[16].
Trong những năm gần đây, chăm sóc dược ngày càng trở nên quan trọng
do những thách thức của việc tự chăm sóc, được xem như một triết lý cho thực
hành dược mà trong đó bệnh nhân và cộng đồng là những đối tượng hưởng lợi
đầu tiên từ những thực hành của người dược sĩ. Thực hành dược có xu hướng
chuyển trọng tâm từ tập trung cung cấp thuốc sang tập trung chăm sóc sức khỏe
cho bệnh nhân. Vai trò của dược sĩ đã phát triển từ người pha chế, cung cấp các
sản phẩm dược thành người cung cấp thông tin và các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe cho cộng đồng. Nhiệm vụ mới của người dược sĩ là đảm bảo bệnh nhân sử
dụng thuốc hợp lý, an toàn và đạt hiệu quả cao nhất.
Tổ chức y tế thế giới WHO đã tổ chức ba cuộc họp về vai trò của người
dược sĩ trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Cuộc họp đầu tiên được tổ chức tại
New Dehli Ấn Độ, năm 1988 đã phác thảo ra các hoạt động khác nhau của dược
sĩ như kiểm soát, quản lý thuốc, mua bán, bảo quản và phân phối thuốc, thông
tin thuốc, nghiên cứu khoa học. Cuộc họp thứ hai tại Tokyo, Nhật Bản năm
1993 giới thiệu khái niệm về chăm sóc dược. Cuộc họp lần thứ 3 tại Vancouver,
Canada năm 1997 thảo luận khung chương trình để đào tạo dược sĩ trong tương
lai[16]. Khái niệm dược sĩ với các vai trò mới như: người cung cấp dịch vụ
chăm sóc, người đưa ra quyết định, người giao tiếp, người lãnh đạo, nhà quản lý,
người học suốt đời, người giáo viên. Dược sĩ ngày nay tham gia ngày càng nhiều
vào việc tự chăm sóc, vì vậy trách nhiệm đối với khách hàng cũng lớn hơn. Khái
12

niệm dược sĩ 7 sao được giới thiệu bởi WHO và được sự đồng thuận bởi FIP
(Federation International Pharmaceutical) vào năm 2000 đã nhìn nhận vai trò mới
của người dược sĩ:
* Người giao tiếp:
- Thảo luận và lắng nghe ý kiến của khách hàng để hiểu được bản chất bệnh
tật của khách hàng.

Đảm bảo thuốc được cung ứng cho bệnh nhân một cách chính xác và an toàn.
- Bán những thuốc không kê đơn: tham gia vào hoạt động tự điều trị, tư
vấn sử dung thuốc và tự điều trị một số bệnh đơn giản.
- Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc: dược sĩ cộng đồng là chuyên gia
về thuốc phải kê đơn và thuốc không phải kê đơn, họ có trách nhiệm hướng dẫn
bệnh nhân sử dụng thuốc bao gồm: liều dùng, đường dùng, cách dùng đồng thời
khuyến cáo bệnh nhân về những tác dụng phụ và phản ứng có hại của thuốc,
khuyên họ thông báo kịp thời cho bác sĩ điều trị.
- Tư vấn cho bệnh nhân về các vấn đề sức khỏe. Ví dụ, dược sĩ cộng
đồng giúp bệnh nhân tiểu đường hiểu cách sử dụng máy đo đường huyết trong
máu, giúp bệnh nhân hen kiểm soát triệu chứng, hướng dẫn chế độ ăn uống,
tập luyện, giúp các bệnh nhân lựa chọn các thiết bị y tế thông thường như
máy đo huyết áp, đo đường huyết đồng thời cũng tư vấn bệnh nhân lựa chọn
những thuốc thông thường.
- Tư vấn cho bác sĩ lựa chọn thuốc hợp lý. Nhiều dược sĩ làm việc cùng
với bác sĩ đưa ra sự lựa chọn thuốc tốt nhất cho bệnh nhân. Dược sĩ là những
chuyên gia về thuốc và có thể giúp ích cho bác sĩ, đặc biệt là khi bệnh nhân
được điều trị nhiều thuốc cùng một lúc và có khả năng tương tác với nhau. Dược
sĩ khuyên bác sĩ đưa ra lựa chọn phối hợp thuốc an toàn, không phối hợp những
thuốc gây ra nguy hiểm đối với bệnh nhân.
- Lưu trữ thông tin bệnh nhân, thường xuyên cập nhật thông tin về thuốc,
cập nhật những thuốc mới và tác dụng của chúng.
14

Để đáp ứng được với nhu cầu phát triển của dược cộng đồng và xây dựng
được một hệ thống cung ứng dược có tiêu chuẩn thống nhất trên toàn cầu, người
ta đã xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu cảu các nhà thuốc bao gồm cơ sở vật
chất, thiết kế, tài liệu, quy định chuyên môn và các kỹ năng thực hành của người
dược sĩ tại các nhà thuốc.
1.3. Thực hành tốt nhà thuốc GPP.

bị,dụng cụ, tiêu chuẩn.
- Xử lý thuốc và các chế phẩm y tế: theo dõi và kiểm tra các thuốc trong
kho thường xuyên, biệt trữ đối với thuốc thu hồi và trả lại, thiết lập quy trình xử
lý đối với các thuốc không đạt tiêu chuẩn.
* Mang đến cho khách hàng phương pháp điều trị hiệu quả.
- Đánh giá về tình trạng và nhu cầu sức khỏe của bệnh nhân.
- Quản lý việc điều trị của bệnh nhân
- Theo dõi tiến trình điều trị và kết quả.
- Cung cấp các thông tin về thuốc và các vấn đề liên quan đến sức khỏe.
* Duy trì và nâng cao việc thực hành nhà thuốc chuyên nghiệp.
- Lập kế hoạch và thực hiện các chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ tại nhà thuốc trong thời điểm hiện tại và trong tương lai.
- Tham gia vào công tác cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống y tế và
sức khỏe người dân trong cộng đồng.
- Đánh giá các thông tin liên quan đến thuốc và các khía cạnh khác của
việc tự chăm sóc sức khỏe.
- Tham gia vào các hoạt động chăm sóc dự phòng và dịch vụ.
- Tuân thủ pháp luật, các quy định hành nghề và những hướng dẫn của cơ
quan chức năng.
- Tuyên truyền và hỗ trợ chính sách thuốc quốc gia, thúc đẩy việc cải
thiện tình hình sức khỏe cộng đồng.
b) Kỹ năng thực hành của nhân viên bán thuốc tại nhà thuốc GPP
16

Trích đoạn Cơ sở vật chất: Kỹ năng hướng dẫn sử dụng thuốc Kỹ năng thực hành của nhõn viờn bỏn thuốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status