Phân tích tình hình sử dụng thuốc an thần kinh trong điều trị tâm thần phân liệt tại bệnh viện tâm thần - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI ĐINH GIA BAN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
SỬ DỤNG THUỐC AN THẦN KINH
TRONG ĐIỀU TRỊ TÂM THẦN PHÂN LIỆT
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC Kính gửi: CỤC QUẢN LÝ DƯỢC – BỘ Y T

HÀ NỘI - 2013

C QUẢN LÝ

ƯỢCBỘ Y TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thành Hải
TS. Nguyễn Hữu Chiến

HÀ NỘI - NĂM 2013 LờI CảM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biêt ơn sâu sắc tới:
- TS. Nguyễn Thành Hải- Giảng viên Bộ môn Dợc lâm sàng- Trờng Đại
học Dợc Hà Nội.
- TS. Nguyễn Hữu Chiến- P.Giám đốc Bệnh viện Tâm thần TW1.
là những thầy đã trực tiếp tận tình hớng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá
trình học tập nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ThS. DS. Ngô Văn Nghiệp- Trởng khoa
Dợc Bệnh viện TTTW1 đã cho tôi những ý tởng và lời khuyên quan trọng
để thực hiện luân văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới:
- Ban giám hiệu nhà trờng cùng toàn thể các thầy cô giáo trong trờng đại
học Dợc Hà Nội đã dạy dỗ, đào tạo tôi trong suốt 5 năm học đại học và 2
năm học cao học.
- Ban giám đốc, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng lu trữ hồ sơ bệnh án,
khoa dợc và các bác sĩ Bệnh viện Tâm thần Trung ơng 1 đã tạo mọi điều

1.1. BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT 3
1.1.1. Khái ni
ệm và lịch sử nghiên cứu

3

1.1.2. Quan niệm về bệnh sinh của tâm thần phân liệt 5
1.1.3. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh TTPL 6
1.1.4. S
ự tiến triển và tiên l
ư
ợng bệnh

9

1.1.5. Chẩn đoán xác định và các thể bệnh TTPL 12
1.2. ĐIỀU TRỊ 16
1.2.1. Li
ệu pháp tâm lý
-

xã h
ội:

1
7

1.2.2. Liệu pháp sinh học 17
1.3. THUỐC AN THẦN KINH 19
1.3.1. Khái ni


2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.2.1. Loại hình nghiên cứu 29
2.2.2. Th
ời gian lấy mẫu nghiên cứu

29

2.2.3. Mẫu nghiên cứu và phương pháp lấy cỡ mẫu nghiên cứu 30
2.2.4. Công cụ nghiên cứu 30
2.2.5. N
ội dung nghiên cứu và cách tiến hành

30

2.2.6. Phương pháp x
ử lý số liệu

35

Chưong 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
36
3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 36
3.
1.1. Tu
ổi bệnh nhân tại thời
đi
ểm nghiên cứu và giới tính

36


4
4

3.2.5. Tỷ lệ kết hợp hai thuốc ATK trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt.

45
3.2.6. Tỷ lệ kết hợp ba thuốc ATK trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt. 47
3.2.7. Th
ể bệnh
TTPL
và s
ự phối hợp thuốc ATK trong
đi
ều trị

48

3.3. PH
ÂN TÍCH HI
ỆU QUẢ VÀ AN TOÀN KHI SỬ DỤNG THUỐC ATK
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TTPL TẠI BỆNH VIỆN TTTW 1
49
3.3.1. Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị 49
3.3.2. Hi
ệu quả
đi
ều trị khi ra viện

50

Ử DỤNG THUỐC ATK TRONG
ĐI
ỀU TRỊ BỆ
NH
TTPL TẠI BỆNH VIỆN TTTW1.
56
4.2.1. Các thuốc ATK được sử dụng trong điều trị tâm thần phân liệt 56
4.2.2. Các ph
ối hợp thuốc ATK t
rong
đi
ều trị TTPL

58

4.3. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VÀ SỰ AN TOÀN KHI SỬ DỤNG THUỐC
ATK TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TTPL TẠI BỆNH VIỆN TTTW1
59
4.3.1. Tuân th
ủ trong
đi
ều trị và hiệu quả
đi
ều trị

59

4.2.2. Tác dụng không mong muốn của các thuốc trong điều trị bệnh tâm
thần phân liệt
60
Danh sách b
ệnh n
hân trong nghiên c
ứu
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

5-HT
2A

Thụ thể serotonin 2A
ADR Phản ứng có hại của thuốc
APA American Psychiatric Association
Hiệp hội tâm thần Mỹ
ATK An thần kinh
ATK I An thần kinh điển hình - An thần kinh cổ điển
ATK II An thần kinh không điển hình - An thần kinh mới
BA Bệnh án
BN Bệnh nhân
BPRS Brief Psychiatric Rating Scale - Thang đánh giá tâm thần ngắn
D
1
, D
2
, …D
5

Bảng 3.5 Tỷ lệ bệnh nhân mắc các thể tâm thần phân liệt 39
Bảng 3.6 Tỷ lệ số bệnh án sử dụng thang BPRS 40
Bảng 3.7 Các thuốc ATK được sử dụng trong điều trị 41
Bảng 3.8
Thuốc ATK thế hệ 1 và thế hệ 2 sử dụng điều trị
Các thể bệnh TTPL
42
Bảng 3.9
Tỷ lệ các liệu pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng
thuốc ATK
43
Bảng 3.10 Tỷ lệ các thuốc ATK dùng đơn độc 44
Bảng 3.11 Tỷ lệ các cặp kết hợp 2 thuốc ATK trong điều trị 46
Bảng 3.12 Tỷ lệ các cặp phối hợp 3 thuốc ATK trong đơn điều trị 47
Bảng 3.13 Tỷ lệ cặp phối hợp 2 thuốc ATK trong điều trị các thể TTPL 48
Bảng 3.14 Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị 49
Bảng 3.15 Kết quả điều trị khi xuất viện 50
Bảng 3.16 Mức điểm BPRS trước và sau điều trị của BN nghiên cứu 51
Bảng 3.17
Các TDKMM của thuốc trong quá trình điều trị bệnh nhân
TTPL
52
Bảng 3.18 Các cặp tương tác thuốc ATK và tần suất gặp phải 53

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) là một trong những bệnh tâm thần đặt ra
nhiều vấn đề nan giải trong y học, không những vì bệnh căn chưa rõ ràng, thường

thần. Mặc dù vậy, theo nghiên cứu gần đây nhất, Rajiv Tandon và Wolfgang
Fleischhacker (2005) cho rằng liệu pháp kết hợp này vẫn còn nhiều tranh cãi về
hiệu quả điều trị và độ an toàn khi sử dụng thuốc trong quá trình điều trị bệnh
nhân TTPL [35].
Với mong muốn phân tích được tình hình thực tế sử dụng thuốc ATK trong
điều trị bệnh TTPL tại bệnh viện TTTW1, cung cấp thêm thông tin cho Hội đồng
thuốc và điều trị, các bác sĩ lâm sàng, dược sĩ bệnh viện về các liệu pháp điều trị
bệnh TTPL bằng các thuốc ATK và tính an toàn khi sử dụng phối hợp, góp phần
vào việc xây dựng hướng dẫn điều trị bệnh TTPL tại Bệnh viện TTTW1 trong thời
gian tới. Từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng các thuốc tâm thần cho người bệnh,
chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích tình hình sử dụng thuốc ATK
trong điều trị TTPL tại Bệnh viện Tâm thần Trung Ương 1”, với ba mục tiêu
chính:
1. Khảo sát một số đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân TTPL được nghiên cứu
tại Bệnh viện TTTW1.
2. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc ATK trong điều trị bệnh TTPL tại Bệnh viện
TTTW1.
3. Phân tích tính hiệu quả và an toàn khi sử dụng thuốc ATK trong điều trị bệnh
TTPL tại bệnh viện TTTW1.
3

Chương 1:
TỔNG QUAN

1.1. BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.1.1. Khái niệm và lịch sử nghiên cứu
Thuật ngữ “schizophrenia” được gọi là “tâm thần phân liệt” bắt nguồn từ
chữ Hy Lạp: “schizo” có nghĩa là chia tách, phân rời và “phrenia” có nghĩa là tâm
thần. Tâm thần phân liệt là một bệnh hay chính xác hơn là một nhóm bệnh có
bệnh sinh khác nhau. Bệnh tương đối phổ biến, nguyên nhân chưa rõ ràng, tiến

chứng dương tính đặc trưng của bệnh là các rối loạn về tư duy như các hoang
tưởng, rối loạn tri giác như là các ảo thanh và các hiện tượng tâm thần tự động và
là triệu chứng quyết định chẩn đoán. Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt,
ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp cũng
đóng vai trò trong việc xác định bệnh.
TTPL là một bệnh loạn thần nặng, có khuynh hướng tiến triển mạn tính, căn
nguyên hiện nay chưa được làm rõ. Bệnh bao gồm nhiều thể bệnh khác nhau.
Những biểu hiện của bệnh gồm các triệu chứng rối loạn về tư duy, nhận thức, cảm
xúc, tri giác gây khó khăn trong việc giao tiếp với mọi người xung quanh. Biểu
hiện đặc trưng của bệnh là những triệu chứng loạn thần như hoang tưởng nhất là
hoang tưởng bị chi phối, ảo giác nhất là ảo thanh bình phẩm hoặc ảo thanh ra lệnh,
hội chứng tâm thần tự động. Nếu không được điều trị sớm và tích cực, bệnh sẽ
làm biến đổi nhân cách người bệnh một cách sâu sắc, làm cho người bệnh khó
khăn trong học tập, giảm khả năng lao động nghề nghiệp và khả năng tự lập trong
cuộc sống [12],[28], [17], [29].
Bệnh TTPL là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, tỷ lệ
từ 0,3-1% dân số. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi 15-35 (50% trước tuổi 25), hiếm
5

gặp trước tuổi 10 và sau tuổi 40. Tỷ lệ mắc giữa nam và nữ là 1- 1,2/1, tuổi mắc
bệnh ở nam sớm hơn ở nữ [2],[26],[17],[32]
Bệnh TTPL tuy chỉ chiếm khoảng 16% tổng số các bệnh nhân tâm thần cần
điều trị, nhưng trong bệnh viện tâm thần 50% số bệnh nhân là tâm thần phân liệt
[10].
1.1.2. Quan niệm về bệnh sinh của tâm thần phân liệt.
Cơ chế bệnh sinh của TTPL rất phức tạp và chưa được sáng tỏ. Chưa có
một giả thuyết nào có thể giải thích được cách khởi phát đa dạng và sự dao động
rất lớn của các biểu hiện triệu chứng lâm sàng trong TTPL.
Quan niệm hiện nay cho rằng, bệnh sinh của TTPL có thể là sự tác động
của các yếu tố sinh học, xã hội và tâm lý. Do đó nhiều giả thuyết chỉ phản ảnh một

d. Giả thuyết về sinh hóa phân tử tại các tế bào thần kinh.
Nhiều nghiên cứu gần đây đều đưa ra giả thiết cho rằng rối loạn chuyển hoá
dopamin đóng vai trò chính trong bệnh sinh bệnh TTPL. Giả thuyết này căn cứ
vào 2 bằng chứng: (1) Các thuốc an thần kinh đều có tác dụng ức chế các thụ thể
dopamin ở não, đặc biệt là thụ thể D
2
, có tác dụng điều trị TTPL. Các thuốc làm
tăng hoạt tính của dopamin như amphetamin, cocain thì gây ra các triệu chứng
loạn thần giống như tâm thần phân liệt [10], [28].
Ngoài giả thiết dopamin, những bất thường của hệ thống dẫn truyền
glutamat, cụ thể nồng độ glutamat giảm trong não của bệnh nhân TTPL được cho
là nguyên nhân gây rối loạn tâm thần. Trong các thử nghiệm trên người có sử
dụng chụp cộng hưởng từ và nghiên cứu giải phẫu bệnh lý đều chứng tỏ có sự
giảm sút hoạt động của hệ glutamat ở các tế bào hình tháp của vùng trước trán.
Các tế bào thần kinh thụ cảm glutamat có tác động qua lại lên cả hai hệ serotonin
và dopamin [1],[15].
1.1.3. Các biểu hiện lâm sàng của bệnh TTPL.
7

Các triệu chứng trong bệnh TTPL là vô cùng phong phú, vô cùng phức tạp
và luôn biến đổi nhưng đa số tác giả đều chia ra 2 loại triệu chứng chung gồm có
các triệu chứng âm tính và các triệu chứng dương tính.
a. Nhóm triệu chứng âm tính.
Theo quan điểm của Bleuler.P.E., triệu chứng âm tính là nền tảng của quá
trình phân liệt. Đó là các triệu chứng thể hiện sự tiêu hao mất mát các hoạt động
tâm thần, mất tính toàn vẹn, tính thống nhất của hoạt động tâm thần [10],[28].
Những triệu chứng âm tính thường gặp là:
- Các rối loạn cảm xúc:
+ Cảm xúc cùn mòn: đặc trưng bởi nét mặt lờ đờ, bất động, vô cảm, ánh
mắt vô hồn, giảm sút khả năng biểu lộ và phản ứng tình cảm.

- Rối loạn nội dung tư duy:
Hoang tưởng là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân TTPL. Nội dung
hoang tưởng rất đa dạng, phong phú. Hoang tưởng hay gặp là hoang tưởng bị chi
phối. Đây là hoang tưởng đặc trưng của TTPL. Các loại khác như hoang tưởng bị
hại, hoang tưởng liên hệ, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng tự cao, hoang
tưởng phát minh, hoang tưởng được yêu, hoang tưởng kỳ quái cũng thường gặp.
- Các rối loạn tri giác: chủ yếu là các ảo giác bao gồm:
+ Ảo thanh: người bệnh nghe thấy âm thanh phát ra từ các bộ phận trên cơ
thể. ảo thanh độc thoại như bệnh nhân nghe thấy giọng nói của chính mình trò
9

chuyện trong đầu, ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân.
Đây là những ảo thanh khá điển hình trong bệnh TTPL.
+ Ảo thị: cũng thường gặp và hay kết hợp với ảo thanh, bệnh nhân nhìn
thấy người, súc vật, ma quỷ, phong cảnh
+ Ảo giác vị giác và ảo giác xúc giác hiếm gặp.
- Các rối loạn hoạt động:
+ Rối loạn hoạt động ở bệnh nhân TTPL rất đa dạng và phong phú. Có thể có
những hành vi thô bạo, hung hãn, đi lại không mục đích , các rối loạn này có thể
là do hoang tưởng, ảo giác chi phối.
+ Kích động: là những động tác si dại, lố bịch, vô nghĩa, thiếu tự nhiên như
đùa cợt thô bạo, nhảy nhót, gào thét, đập phá, đánh người
+ Kích động căng trương lực: với những động tác dị thường, vô nghĩa như
rung đùi, lắc người nhịp nhàng, mắt nhìn trừng trừng, định hình, giữ nguyên dáng,
có khi là những xung động bất thường xen lẫn bất động.
- Các rối loạn hoạt động bản năng:
Rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống, rối loạn bản năng tình dục. Những
xung động bản năng như: xung động đi lang thang, xung động trộm cắp, xung
động đốt nhà, xung động giết người.
1.1.4. Sự tiến triển và tiên lượng bệnh

tiến triển có thể khác nhau ở từng bệnh nhân. Nhìn chung, các triệu chứng dương
tính có xu hướng mờ nhạt dần theo thời gian, còn các triệu chứng âm tính thì ngày
càng rõ ràng [10] [15], [16].
Bệnh TTPL có thể tiến triền theo một trong các phương thức sau (theo ICD-
10 của TTYTTG) [20]:
- Liên tục
11

- Từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần
- Từng giai đoạn với thiếu sót ổn định
- Từng giai đoạn có thuyên giảm
- Thuyên giảm không hoàn toàn
- Thuyên giảm hoàn toàn
- Tiến triển khác
- Tiến triển không đoán trước được hoặc thời gian theo dõi quá ngắn (dưới
một năm).
1.1.4.2. Tiên lượng bệnh.
- Bệnh sẽ tiến triển tốt hơn nếu:
+ Không có những nét nhân cách giống phân liệt trước khi bị bệnh.
+ Quan hệ xã hội trước khi có bệnh bình thường.
+ Có bệnh cơ thể hay sang chấn tâm lý thúc đẩy.
+ Bệnh khởi đầu cấp tính, khởi phát ở tuổi trung niên (khởi phát muộn).
+ Có lú lẫn tâm thần hay rối loạn khí sắc rõ rệt.
+ Tiền sử gia đình không có bệnh TTPL.
+ Được giúp đỡ tốt.
+ Đã kết hôn.
+ Phát hiện bệnh sớm, điều trị đúng hướng và liên tục, đáp ứng tốt với điều
trị.
+ Nhiều triệu chứng dương tính.
+ Thừa nhận bệnh và tự nguyện điều trị.

lệnh cho bệnh nhân. Các ảo giác khứu giác, vị giác, thị giác cũng có thể xuất hiện
nhưng hiếm khi chiếm ưu thế.
13

Đồng thời xuất hiện hội chứng tâm thần tự động như tư duy vang thành
tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp. Có thể gặp tri giác sai thực tại và nhân
cách giải thể. Cảm xúc thường ít cùn mòn hơn các thể khác.
Tuy nhiên thường gặp cảm xúc không thích hợp ở mức độ nhẹ như cáu gắt,
giận dữ, sợ hãi và nghi ngờ. Các triệu chứng âm tính xuất hiện muộn và không sâu
sắc.
Tâm thần phân liệt thể paranoid có thể tiến triển từng giai đoạn với thuyên
giảm một phần hay hoàn toàn hoặc tiến triển mạn tính.
(2). F20.l Tâm thần phân liệt thể thanh xuân:
Thể bệnh này thường xuất hiện ở tuổi trẻ từ 15-25 tuổi. Nổi bật là hội
chứng kích động thanh xuân: Hành vi lố lăng si dại, cảm xúc hỗn hợp hời hợi, lúc
khóc, lúc cười, hát nói trêu chọc người xung quanh.
Tư duy không liên quan, rời rạc, đặt ra chữ mới, giả giọng địa phương.
Hành vi tác phong điệu bộ, nhãn mặt, nheo mắt, tinh nghịch, quấy phá. Các hoang
tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc. Có thể có hội chứng căng trương lực kích
động hoặc bất động lẻ tẻ. Người bệnh có khuynh hướng sống cô độc, cảm xúc và
hành vi thiếu mục đích.
Các triệu chứng âm tính xuất hiện sớm và tiến triển nhanh, đặc biệt cảm xúc
cừu mòn và ý chí giảm sút báo hiệu một tiên lượng xấu.
(3). F20.2. Thể căng trương lực:
Bệnh thường xuất hiện cấp tính, giai đoạn đầu biểu hiện thay đổi tính tình,
ít nói, ít hoạt động. Rồi xuất hiện triệu chứng kích động dữ dội có tính chất xung
động, định hình, bối rối, hoạt động không có mục đích không chịu ảnh hưởng các
kích thích bên ngoài. Sau đấy chuyển sang bất động sững sờ, cứng như gỗ,
không nói, không ăn, chống đối.
Các dáng điệu và tư thế không tự nhiên có thể duy trì trong một thời gian

(7). F20.6. Tâm thần phân liệt thể đơn thuần:
15

Bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng âm tính, giảm sút dần khả năng học tập
và công tác, không thích ứng với các yếu tố của xã hội, cảm xúc cùn mòn, ý chí
giảm sút dần, các triệu chứng dương tính như hoang tưởng và ảo giác không rõ
ràng, lẻ tẻ và các biểu hiện loạn thần không rõ bằng các thể thanh xuân, hoang
tưởng và căng trương lực của bệnh TTPL.
Các triệu chứng âm tính ngày càng sâu sắc, tiếp xúc xã hội ngày càng nghèo
nàn, người bệnh trở thành sống lang thang, thu mình lại, ăn không ngồi rồi và
sống không có mục đích.
*> Các tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt
Tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL theo ICD - 10 năm 1992 [20]:
a/ Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị
phát thanh.
b/ Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt
với vận động thân thể hay các chi, hoặc có liên quan với những ý nghĩ hành vi hay
cảm giác đặc biệt. Tri giác hoang tưởng.
c/ Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo
luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một bộ phận
nào đó của thân thể.
d/ Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn
toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những
khả năng và quyền lực siêu nhân. Thí dụ: có khả năng điều khiển thời tiết hoặc
đang tiếp xúc với những người của thế giới khác.
e/ Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng
qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý
tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
f/ Tư duy gián đoạn, hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan
hay lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.


việc điều trị phải kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau [26],[28],[27]. Các liệu pháp
này có thể được chia thành 2 nhóm liệu pháp chính là liệu pháp tâm lý- xã hội và
liệu pháp sinh học.
1.2.1. Liệu pháp tâm lý- xã hội.
Liệu pháp tâm lý: là phương pháp tác động của thầy thuốc lên tâm lý bệnh
nhân nhằm mục đích chữa bệnh thông qua lời nói, tổ chức môi trường sống thuận
lợi, giải quyết nhu cầu và mâu thuẫn của người bệnh với gia đình và môi trường
[27], [28].
Liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần: là các phương pháp lao động, nghỉ
ngơi, điều dưỡng nhằm phục hồi chức năng cả về sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe
tâm thần và tâm lý người bệnh [27], [28]
1.2.2. Liệu pháp sinh học:
1.2.2.1. Liệu pháp sốc điện và liệu pháp sốc insulin
Chỉ được sử dụng trong một số trường hợp, liệu pháp sốc điện được chỉ
định trong các trường hợp trầm cảm nặng , căng trương lực bất động đáp ứng ít
với hóa dược.
Liệu pháp sốc insulin hiện nay chỉ định rất hạn chế, cơ chế tác dụng
không rõ ràng [27], [28].
1.2.2.2. Liệu pháp hóa dược
Là liệu pháp thông dụng nhất và có hiệu lực nhất trong điều trị trạng thái
loạn thần cấp, chống lại khuynh hướng mạn tính và chống tái phát của bệnh
[26],[27]. Điều trị sớm, tích cực, năng động, hợp lý đã giảm tỷ lệ bệnh nhân TTPL
tự sát, tiên lượng bệnh tốt hơn, các thể tiến triển nặng ít gặp thay thế là những thể
trung bình dạng cơn tạo điều kiện điều trị ngoại trú. Liệu pháp hóa dược là liệu
pháp cơ bản nhất hiện nay trong tâm thần học [29].
Thuốc an thần kinh làm thay đổi một cách kỳ diệu việc điều trị bệnh tâm
thần phân liệt. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát của tâm thần phân liệt vẫn rất cao. Hai

Trích đoạn ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC ATK TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI BỆNH VIỆN TTTW1.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status