Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các trường mầm non huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Các biện pháp tăng cường quản lý
hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các trường mầm non huyện
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình” đã được hình thành và đưa ra bảo vệ.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Phòng Khoa học, các thầy giáo, cô giáo giảng viên Khoa quản lý giáo
dục - trường Học viện quản lý Giáo dục Hà Nội.
Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lương Sơn, đội ngũ hiệu trưởng,
giáo viên các trường mầm non huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình đã tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo - Phó
Giáo sư - Tiến sĩ Lưu Xuân Mới đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện, hoàn thành luận văn này./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Thị Tuyết
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1) BGD&ĐT - Bộ Giáo dục và Đào tạo
2) CBGV-CNV - Cán bộ giáo viên - công nhân viên
3) CBQL - Cán bộ quản lý
4) CBQLGD - Cán bộ quản lý giáo dục
5) CNH-HĐH - Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
6) CSGD - Chăm sóc giáo dục
7) CSVC - Cơ sở vật chất
8) GD&ĐT - Giáo dục và Đào tạo
9) GDMN - Giáo dục mầm non
10) GV - Giáo viên
11) HT - Hiệu trưởng
12) QL - Quản lý
13) QLGD - Quản lý giáo dục
14) QLGDMN - Quản lý giáo dục mầm non

1.4.2. Các đặc điểm về công tác quản lý của hiệu trưởng trường mầm non: 20
1.4.3. Các yêu cầu về quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng trường mầm
non: 24
1.5. Tính tất yếu của việc tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động CSGD trẻ của hiệu
trưởng trường mầm non: 32
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC
TRƯỜNG MẦM NON
HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH 34
2.1. Khái quát về đặc điểm tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 35
2.2. Thực trạng công tác giáo dục huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình 38
2.3. Thực trạng về quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các trường mầm
non huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình: 42
2.3.1. Thực trạng số lượng trường lớp mầm non trên địa bàn huyện Lương Sơn: 43
2.3.2. Thực trạng về chất lượng hoạt độngchăm sóc - giáo dục trẻ của các trường mầm non
trên địa bàn huyện Lương Sơn: 44
2.3.3. Thực trạng về các biện pháp quản lý của hiệu trưởng các trường mầm non huyện
Lương Sơn: 48
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN
LƯƠNG SƠN 68
3.1. Định hướng đề xuất các biện pháp 68
3.1.1. Quan điểm, mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trường mầm non
trong giai đoạn mới: 68
3.1.2. Những định hướng mục tiêu cơ bản phát triển giáo dục mầm non của huyện Lương
Sơn tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2010-2015: 70
3.2. Những nguyên tắc đề xuất các biện pháp: 72

Bảng 2.4. Kết quả xếp loại quản lý hoạt động chăm sóc-giáo dục trẻ các trường mầm non
công lập huyện Lương Sơn (cuối năm học 2010 - 2011) 48
Bảng 2.5. Kết quả điều tra chất lượng đội ngũ Hiệu Trưởng các trường mầm non huyện
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình: 51
Bảng 2.6. Kết quản điều tra nhận thức về vai trò của HT các trường mầm non huyện
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình: 53
Bảng 2.7. Kết quả điều tra giáo viên về mức độ ảnh hưởng của năng lực chuyên môn của
hiệu trưởng: 54
Bảng 2.8. Kết quả điều tra hiệu trưởng, giáo viên mầm non về nhận thức kết quả hoạt
động chăm sóc - giáo dục trẻ của đơn vị mình: 55
Bảng 2.9. Tổng hợp điều tra về kết quả công tác quản lý của các hiệu trưởng mầm non
huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình 57
Bảng 2.10. Tổng hợp điều tra mức độ thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động chăm
sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các trường mầm non: 59
Bảng 2.11. Tổng hợp những khó khăn của hiệu trưởng trong quá trình quản lý : 62
Bảng 2.12. Tổng hợp các nguyên nhân làm hạn chế kết quả hoạt động chăm sóc - giáo
dục trẻ ở các trường mầm non: 63
Bảng 3.1. Bảng tổng hợp kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp đề xuất: 93
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Bảo vệ, chăm sóc - giáo dục trẻ em là truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Vì lợi ích mười năm trồng cây,
vì lợi ích trăm năm trồng người” trong nhiều thập kỷ qua khi hòa bình hay lúc
chiến tranh Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt
đến trẻ em, coi đây là sự nghiệp cao quý, là trách nhiệm to lớn đối với tiền đồ
của đất nước.
Ngày nay với sự phát triển kinh tế của đất nước, công tác chăm sóc -
giáo dục trẻ ngày càng được đẩy mạnh và thực hiện có kết quả tốt hơn. Nhất
là từ khi Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á

khẳng định “Đổi mới cơ bản quản lý giáo dục” coi đó là một trong những giải
pháp để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục nước ta giai đoạn
2011-2015;
Trong việc quản lý đổi mới giáo dục mầm non, vấn đề nâng cao chất
lượng quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm, cần được quan tâm nghiên cứu và áp dụng.
Trẻ ở lứa tuổi mầm non là thời kỳ tăng trưởng về cơ thể, và phát triển
trí tuệ, tình cảm, xã hội diễn ra rất nhanh,có thể nói đây là thời kỳ tăng trưởng
và phát triển nhanh nhất so với các giai đoạn sau này của cuộc đời con người.
Những thành tựu khoa học nghiên cứu về trẻ em cho thấy: Có tới 50% sự phát
triển trí tuệ của con người diễn ra trong lứa tuổi từ bào thai đến 4 tuổi.Từ 4
tuổi đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành
nhưng tốc độ chậm dần sau 18 tuổi. Do đặc điểm phát triển cơ thể và tâm lý,
trẻ ở tuổi mầm non rất cần được quan tâm chăm sóc - giáo dục đúng định
2
hướng để có thể phát triển tốt nhất, có khả năng đảm nhận trọng trách xã hội
giao cho sau này.
Để phát huy sự phát triển của bậc học mầm non theo đúng định hướng
sự phát triển và ngày càng tăng chất lượng hoạt động, vai trò quản lý của hiệu
trưởng các trường mầm non là hết sức quan trọng. Để quản lý các trường
mầm non hoạt động đạt chất lượng tốt, tạo được sự tín nhiệm của phụ huynh
học sinh, hiệu trưởng phải luôn quan tâm tăng cường các biện pháp quản
lý,vừa thực hiện nhiệm vụ nâng chất lượng chăm sóc - giáo dục các cháu, vừa
nghiên cứu cải tiến công tác quản lý, để nhà trường ngày càng phát huy được
vai trò, trọng trách mà phụ huynh học sinh và xã hội giao cho, góp phần vào
thành quả chung của ngành giáo dục. thực tế cho thấy, nếu hiệu trưởng có
phong cách và kế hoạch làm việc khoa học, có những biện pháp và sáng tạo
riêng, thì hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao, chất lượng chăm sóc - giáo dục
sẽ đáp ứng được nhu cầu của phụ huynh học sinh, làm tăng uy tín của nhà
trường đối với xã hội.Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề

5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề quản lý chăm sóc - giáo dục trẻ
của hiệu trưởng các trường mầm non
5.2. Khảo sát thực trạng công tác chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non và
các biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các
trường mầm non huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.
5.3. Đề xuất các biện pháp tăng cường công tác quản lý hoạt động
chăm sóc - giáo dục trẻ của hiệu trưởng các trường mầm non huyện Lương
Sơn tỉnh Hòa Bình.
6. Phạm vi nghiên cứu:
6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu:
4
- Các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ
của hiệu trưởng các trường mầm non huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.
- Số liệu điều tra tại Phòng Giáo dục và 24 trường mầm non huyện
Lương Sơn tỉnh Hòa Bình.
6.2. Giới hạn khách thể điều tra:
- Lãnh đạo,Cán bộ chuyên trách giáo dục mầm non của Phòng Giáo
dục huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình (03 người )
- Hiệu trưởng các trường mầm non (24 người )
- Giáo viên mầm non (48 người )
7. Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi sử dụng phối hợp các
phương pháp nghiên cứu sau:
7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Sưu tầm các văn kiện, tài liệu, các tạp chí, các văn bản có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề
tài nghiên cứu.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ
CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về giáo dục mầm non và quản lý giáo dục mầm non, tăng
cường nghiệp vụ quản lý và tăng cường năng lực quản lý của hiệu trưởng các
trường mầm non đã được quan tâm nghiên cứu trong một số công trình như:
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Tỉnh, cấp cơ sở và một số luận
văn thạc sĩ, các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành như:
- Những vấn đề quản lý Nhà nước và quản lý giáo dục, tài liệu dành
cho nữ CBQL giáo dục mầm non của trường Cán bộ Quản lý giáo dục Trung
ương phát hành năm 1997.
- Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Năm với đề tài “Một số giải pháp nâng
cao năng lực quả lý của hiệu trưởng các trường mầm non tỉnh Hải Dương”
năm 2005.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Thủy về đề tài “Các
biện pháp nâng cao năng lực quản lý chuyên môn của hiệu trưởng các trường
mầm non Hà Nội” năm 2002.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Cung Hồng Vân với đề tài “Một số biện
pháp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu trưởng các trường mầm non thị xã
Uông Bí tỉnh Quảng Ninh” năm 2004.
Các công trình nghiên cứu trên, tập trung nghiên cứu ở cấp độ tổng
quát hoặc góc độ cụ thể về quản lý của đội ngũ hiệu trưởng trường mầm non.
Tuy nhiên, những nghiên cứu đi sâu về công tác quản lý hoạt động
Chăm sóc - Giáo dục trẻ, một trong những nội dung quản lý trọng tâm cuả
người hiệu trưởng còn ít được quan tâm nghiên cứu. Ở huyện Lương Sơn tỉnh
7
Hòa Bình, nơi hệ thống giáo dục mầm non phát triển khá mạnh thì càng đòi
hỏi chú trọng đến việc tăng cường quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ
của hiệu trưởng.Thế nhưng, đây là một mảng trống cần được quan tâm hơn về

một điều đó là tự hỏi “Mình làm điều này để làm gì?”
- Hoạt động bao giờ cũng mang tính chủ thể: Chủ thể của hoạt động
chính là người thực hiện hoạt động. Tính chất của chủ thể biểu hiện trong tính
tích cực của chủ thể. Trong quá trình vươn tới đối tượng của hoạt động con
người buộc phải huy động toàn bộ sức mạnh cơ bắp và sức mạnh tinh thần, trí
tuệ của mình, bộc lộ phải nỗ lực cao độ để chiếm lĩnh nó.
1.2.2. Quản lý:
Trong quá trình phát triển của lý luận quản lý có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về khái niệm quản lý:
Theo Từ điển Tiếng Việt do trung tâm tự điển học biên soạn 1988,
quản lý được hiểu là hoạt động:
+ Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
+ Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Frederick Winslow Taylor (1856-1915) người sáng lập thuyết quản lý
theo khoa học đã định nghĩa: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái
gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất.
Henry Fayol (1845-1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho
rằng: Quản lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển,
phối hợp và kiểm tra.
Harold Koontz người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại,
đã viết: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ
lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm. Mục tiêu của mọi hoạt
9
động có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Theo thuyết quản lý hiện đại thì: Quản lý là quá trình làm việc với và
thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một
môi trường luôn biến động.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã lý giải một cách đầy đủ hơn và
phản ánh chính xác những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý. Theo

của tổ chức để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
1.2.3. Quản lý giáo dục:
Về lịch sử phát triển khoa học thì khoa học quản lý giáo dục ra đời sau
khoa học quản lý kinh tế, cho nên trong các nước tư bản chủ nghĩa người ta
thường vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trường
học) và coi quản lý cơ sở giáo dục như một loại (xí nghiệp) đặc biệt.
Quản lý giáo dục (QLGD) là một bộ phận của quản lý xã hội nó bao
gồm toàn bộ các bộ phận, hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương,
gồm tất cả các ngành học,cấp học,các hệ thống giáo dục,đặc biệt là các trường
học với mục đích “Thầy dạy tốt, trò học tốt, cán bộ phục vụ tốt”. Để phát huy
sức mạnh tổng hợp và các chức năng đặc biệt của hoạt động giáo dục, các nhà
khoa học quan tâm đặc biệt đến vấn đề quản lý giáo dục, tức là vấn đề điều
khiển quán trình giáo dục, rèn luyện con người nói chung, đặc biệt là hệ thống
nhà trường, nơi giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ nói riêng và cho mọi người có
nhu cầu học tập thường xuyên. QLGD là một bộ phận quan trọng trong quản
lý xã hội, nó xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Dựa vào khái
niệm quản lý, một số tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra khái niệm về
QLGD như sau:
11
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: QLGD theo nghĩa tổng quát nhất là hoạt
động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy đào tạo thế hệ
trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Theo P.V. Khuđôminski: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch,
có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả
các khâu của hệ thống (từ Bộ Giáo dục đến các trường) nhằm mục đích đảm
bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển toàn
diện và hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung
vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như quy luật khách quan của quá trình dạy
học-giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng
như thanh niên.

1.2.4. Quản lý nhà trường:
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục.
Trường học với tư cách là một tổ chức cơ sở giáo dục, mang tính xã hội và
trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ. Nhà trường là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo
dục. Trường học vừa là thành tố khách thể cơ bản của tất cả cấp quản lý giáo
dục vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó quản lý nhà trường vừa
có tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội .
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục
khác cũng như huy động tối đa các nguồn lục giáo dục để nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã viết: Quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng, trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh.
13
Bản chất của việc quản lý trường học là quản lý hoạt động dạy và học.
Tức là làm sao đưa hoạt động từ trạng thái này tới trạng thái khác để dần dần
tiến tới mục tiêu giáo dục. Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt
động trung tâm của nhà trường. Vì vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản
lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập, tự giáo dục của trò
diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục. Có thể nói rằng, quản lý nhà
trường, thực chất là quản lý quá trình dạy học giáo dục.
Như vậy, quản lý trường học chính là quả lý giáo dục nhưng trong một
phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. Vì thế,
quản lý giáo dục vừa vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý cũng
như của quản lý giáo dục và vừa có nét đặc thù riêng.
Quản lý trường học phải là quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát
triển nhân cách thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả. Thành công
hay thất bại của bất kỳ một cải tiến nào trong ngành giáo dục đều phụ thuộc

móng cho sự hình thành nhân cách của trẻ. Hiện nay, GDMN bao gồm hệ
thống nhà trẻ, trường mẫm giáo, trường mầm non trên quy mô toàn quốc,
nhìn vào các hình thức giáo dục mầm non có thể khẳng định: Đây là cấp học
được xã hội hóa sớm nhất so với các cấp học khác trong hệ thống giáo dục quốc
dân. GDMN thực hiện nguyên tắc nhà nước, xã hội và nhân dân cùng làm.
Đến nay, GDMN tồn tại nhiều loại hình công lập, bán công, tư thục với
đủ loại quy mô trường , lớp, nhóm trẻ gia đinh. Với cách làm sáng tạo, phù
hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng vùng miền. Được sự quan tâm của
Đảng và chính quyền các cấp, giáo dục mầm non đã thực sự tạo được niềm tin
trong nhân dân và thực sự đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giáo dục chung cả
nước, Vì thế, Vị trí của giáo dục mầm non ngày càng được khẳng định trong
toàn bộ sự nghiệp giáo dục con người.
* Mục tiêu của giáo dục mầm non:
15
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,
tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp Một.
Mục tiêu của GDMN đã được vạch rõ trong (chiến lược phát triển giáo
dục năm 2001-2010: “ Nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ trước 6
tuổi, tạo cơ sở cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ,thẩm
mỹ, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên địa bàn dân cư, đặc
biệt là vùng nông thôn, miền núi, vùng khó khăn, tăng cường các hoạt động
phổ biến kiến thức cho lực lượng cộng đồng và tư vấn cách nuôi dạy trẻ tại
các gia đình”
* Nhiệm vụ của giáo dục mầm non:
Giáo dục mầm non có những nhiệm vụ sau:
- Thực hiện nội dung giáo dục toàn diện và ngày càng nâng cao chất
lượng giáo dục trẻ theo mục tiêu, kế hoạch đào tạo.
- Tuyên truyền và hướng dẫn công tác nuôi dạy trẻ theo khoa học cho
các bậc cha mẹ ủng hộ những tập quán tốt, bài trừ những tập quán phản khoa

tuổi từ trong bào thai đến 4 tuổi ; từ 4 đến 8 tuổi đạt được 30% nữa và tiếp tục
hoàn thiện cho đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm đần sau 18 tuổi”.
A.X.Makarenkô - nhà giáo dục vĩ đại Liên Xô cũ và của thế giới đã
từng nhận xét “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ em đã được hình
thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy cho trẻ em thời kỳ đó chiếm đến
90% tiến trình giáo dục trẻ em. Về sau, việc giáo dục đào tạo con người vẫn
tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn nụ hoa thì vẫn được vun
trồng, chăm sóc trong 5 năm đầu tiên”.
17
Những trẻ em ở độ tuổi mầm non hôm nay, đến năm 2020 sẽ là những
thành viên có nghị lực, tinh thần, trí tuệ, đầy sức sống, những người thực sự là
chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy, việc giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ
ngay từ lứa tuổi còn thơ ấu là hết sức quan trọng.
Hiện nay ở Mỹ đang có 10 chương trình giáo dục, trong đó có chương
trình giáo dục thứ tư là chương trình “Học phải bắt đầu từ những ngày đầu
của cuộc đời”. Từ những ý nghĩa trên đòi hỏi những người làm công tác giáo
dục mầm non nói chung, Hiệu trưởng mầm non nói riêng phải am hiểu sâu sắc
về khoa học nuôi dạy trẻ, về nội dung phương pháp chăm sóc - giáo dục trẻ ở các
độ tuổi, và hết sức yêu nghề mến trẻ, thực sự có tâm huyết với nghề nghiệp.
- Hai là: Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc
dân nhưng vẫn chưa mang tính chất bắt buộc đối với mọi trẻ em. Ở nhiều
vùng miền trong cả nước, nhiều trẻ em trong độ tuổi vẫn chưa đến trường mặc
dù nhà nước khuyến khích phát triển nhiều loại hình chăm sóc - giáo dục trẻ
cùng song song tồn tại, hơn nữa sự tồn tại và phát triển của giáo dục mầm non
chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp hỗ trợ của cộng đồng, vì vậy công tác
quản lý giáo dục mầm non phải làm cho mọi người trong xã hội hiểu rõ trách
nhiệm của mình, cùng quan tâm chú ý đến việc chăm sóc - giáo dục trẻ. Do
đó, đòi hỏi người cán bộ quản lý GDMN phải là người có năng lực làm công
tác tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Năng động, linh
hoạt. Để truyền tải thông tin và công tác tuyên truyền tới lực lượng cộng

- Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối.
- Giàu lòng thương, biết quan tâm đến mọi người xung quanh, nhường
nhịn lẫn nhau, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp.
- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi cái mới, có một số
kỹ năng sơ đẳng (quan sát, so sánh. phân tích, tổng hợp, suy luận,…) Cần
thiết để vào trường phổ thông, trẻ thích đi học.
* Nhiệm vụ của trường mầm non:
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status