Ý nghĩa của việc gia nhập WTO đối với chính phủ và các doanh nghiệp - Pdf 29

Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI
CHÍNH PHỦ VÀ CÁC DOANH NGHIỆP
1. Bản chất của WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995
và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết,
đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung
về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Các
quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa,
dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm
phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các
diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định
kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).
Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển
nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể
hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được
thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số
Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương
mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung
Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003),
Campuchia (2004) và Nêpan (2004).
WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong
thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng
của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính
phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có
lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy
định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc
chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:
Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng việc
nhập khẩu khẩu hàng hóa và dịch vụ từ một Thành viên WTO sẽ được đối xử không kém
thuận lợi hơn việc nhập khảu hàng hóa và dịch vụ từ bất kỳ Thành viên nào khác. Đối xử

năm 2001 đang được tiến hành. Bảo hộ nông nghiệp tại các nước phát triển là nội dung
cản trở chính của vòng đàm phán này.
Minh bạch hóa: Luật và quy định của các nước ảnh hưởng tới ngoại thương và đầu tư
nước ngoài phải được công bố và cung cấp cho tất cả các bên, các thủ tục để thực thi luật
lệ và quy định phải công khai. Hơn nữa, quy chế thương mại của mỗi Thành viên phải
được WTO rà soát định kỳ để đảm bảo sự tuân thủ với các quy định của WTO.
Giải quyết tranh chấp: Để thực hiện chức năng giám sát các quy tắc đã được thỏa thuận
trong các Hiệp định của mình, WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên.
Bất kỳ quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan có đầy đủ thẩm quyền quản lý các mối quan hệ
thương mại quốc tế của mình cũng có thể gia nhập WTO. Hiện nay, hơn 75% các quốc
gia và lãnh thổ hải quan trên thế giới là Thành viên của tổ chức này và hơn 10% quốc gia,
tổ chức nữa đang trong quá trình gia nhập.
2. Bối cảnh và phương thức gia nhập WTO
Để trở thành Thành viên WTO, một nước hoặc vùng lãnh thổ phải tuân theo các thủ tục
công khai, rõ ràng và quá trình gia nhập của Việt Nam cũng đã được thực hiện theo các
thủ tục này. Các điều kiện gia nhập WTO phải được thỏa thuận giữa nước gia nhập và
các Thành viên WTO (Điều XII). Tiến trình gia nhập thường phải thông qua một số
bước, trong đó đàm phán gia nhập là giai đoạn thực chất cuối cùng. Tóm lại, các thủ tục
liên quan là Chính phủ thông báo mong muốn trở thành Thành viên WTO của mình
thông qua việc gửi một bức thư thông báo cho Tổng giám đốc (trên thực tế, nước xin gia
nhập sẽ phải yêu cầu trở thành quan sát viên trước khi gửi thư). Sau khi nhận được thư,
Tổng giám đốc WTO sẽ thành lập một Ban công tác bao gồm các Thành viên WTO có
quan tâm để xem xét đơn xin gia nhập. Chính phủ nước xin gia nhập sẽ phải đệ trình một
bản Bị vong lục mô tả cơ chế ngoại thương của mình. Trên cơ sở tài liệu này, Ban công
tác sẽ thảo luận và làm rõ cơ chế thương mại của nước xin gia nhập, thường là thông qua
các câu hỏi cụ thể dựa trên bản Bị vong lục cũng như kinh nghiệm thực tế của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh doanh (trong quá trình gia nhập, Việt Nam đã nhận được khoảng
3500 câu hỏi của các Thành viên Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO). Những
câu hỏi đó tập trung cụ thể xem cơ chế thương mại của nước xin gia nhập có phù hợp với
các quy tắc của WTO hay không. Các quy định và thực tiễn không phù hợp với WTO

phản đối.
Sự ra đời của WTO đã khiến cho các điều kiện gia nhập ngày càng chặt chẽ hơn giai
đoạn GATT trước đây và các cuộc đàm phán của Việt Nam đã bị ảnh hưởng rất rõ bởi xu
hướng này. Các nước xin gia nhập WTO bị yêu cầu phải ràng buộc biểu thuế của họ ở
mức bằng hoặc xấp xỉ mức thuế áp dụng. Hơn nữa, các nước mới gia nhập phải tự do hóa
việc tiếp cận thị trường nội địa của họ nhiều hơn đáng kể so với giai đoạn trước năm
1995. Có một số lý do giải thích cho việc tại sao tiến trình gia nhập WTO lại “phức tạp”
hơn trước đây.
Trước hết, phạm vi của Hiệp định WTO đã mở rộng hơn nhiều so với GATT. Bên cạnh
lĩnh vực truyền thống của GATT là thương mại hàng hóa, WTO điều chỉnh cả thương
mại dịch vụ, các vấn đề về sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan tới thương
mại.
Thứ hai, có thể thấy sự thay đổi quan điểm đáng kể của các cường quốc thương mại, đặc
biệt là Hoa Kỳ. Trước khi Liên bang Xô Viết sụp đổ vào cuối những năm 80 của thế kỷ
trước, Washington sẵn sàng chấp nhận các chính sách thương mại có thể tổn hại tới các
lợi ích thương mại của mình để đổi lấy các ưu tiên trong chính sách đối ngoại (Kostecki,
1979). Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc theo đuổi các quyền lợi kinh tế quốc gia trở
nên quan trọng hơn, cho thấy đã có nhiều quan tâm hơn tới các thỏa thuận thương mại cụ
thể (VanGrasstek, 1995, Naray, 2000).
Thứ ba, các cường quốc thương mại chính ngày càng coi việc gia nhập WTO là một bước
đi lớn của nước xin gia nhập nhằm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Việc trở thành
Thành viên WTO là một cách để khuyến khích nước gia nhập xóa bỏ các chính sách kinh
tế mang tính can thiệp, thay vào đó là việc áp dụng các cách tiếp cận ít mang tính bảo hộ
và theo định hướng thị trường nhiều hơn. Việc này giải thích tại sao tiến trình gia nhập sẽ
hiệu quả nhất khi tiến hành song song với một chương trình cải cách trong nước. Khía
cạnh này trở nên đặc biệt quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập của những nước
như Trung Quốc, Nga hoặc Việt Nam, những nước mà khối lượng thương mại hiện tại
hoặc trong tương lai rất có thể sẽ ảnh hưởng lớn tới hệ thống thương mại trong các thập
kỷ tới.
Cuối cùng, và cũng liên quan tới lý do trên, rõ ràng là các Thành viên WTO có xu hướng

Kể từ năm 1986, dưới chính sách “Đổi mới”, tăng cường định hướng thị trường và hội
nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã trở thành mục tiêu chính của Việt Nam. Tiến trình cải
cách tập trung vào việc tái cơ cấu các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong
nước, tổ chức lại hệ thống hành chính và thiếp lập các mối quan hệ kinh tế với thế giới.
Nhằm tăng cường các mối quan hệ kinh tế với khu vực, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á – Âu và Diễn đàn hợp tác kinh
tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng duy trì các mối quan hệ thương
mại chặt chẽ với Trung Quốc, được điều chỉnh theo Hiệp định Thương mại năm 1991 và
các hiệp ước hợp tác kinh tế khác. Tham gia vào các thể chế khu vực nói trên tạo ra bước
hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào hệ thống thương mại để chuẩn bị cho việc trở thành
Thành viên WTO.
Các mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với việc nộp yêu
cầu gia nhập chính thức. Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng của WTO đã thành lập
Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt Nam. Ban công tác đã tiến hành 14
cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm – một quá trình đàm phán gia nhập khá dài. Các
thành viên của Ban công tác gồm Áchentina, Úc, Braxin, Brunây, Bungari, Campuchia,
Canađa, Chilê, Trung Quốc, Côlômbia, Croatia, Cuba, Cộng hòa Đôminíc, Ai Cập, En
Sanvađo, Liên minh châu Âu và các Thành viên của mình, Honđuras, Hồng Kông,
Ixơlen, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Kyrgyzxtanxtan, Malaysia,
Mêhicô, Marốc, Myanma, Niu Dilân, Na Uy, Pakistan, Panama, Paraguay, Philíppin,
Rumani, Singapo, Sri Lanka, Thụy Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và
Uruguay (www.wto.org). Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương
của mình vào năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định
kỳ của Ban công tác mới được đưa ra. Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp do các lo
ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi hệ thống quan trọng trong nền kinh tế
Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đưa ra các nhượng bộ
lớn.
Bảng 1
Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với WTO
1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và thiết lập quan hệ

việc Việt Nam gia nhập WTO và tiến hành các cuộc đàm phán song phương cần thiết để
đạt được thỏa thuận gia nhập giữa các bên.
Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán song phương với 28 Thành viên WTO, bao gồm
cả Liên minh châu Âu (tính là một Thành viên mặc dù Liên minh này đại diện cho 25
nước), Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thỏa thuận với Hoa Kỳ ký vào tháng 5 năm 2006 là thỏa
thuận song phương cuối cùng và có lẽ là thỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt
Nam đã đàm phán. Việc ký kết thỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm
quyền cần thiết để dành cho Việt Nam quy chế “quan hệ thương mại bình thường vĩnh
viễn” (PNTR) – đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là một
Thành viên WTO.
Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu của Việt Nam đã
khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp, trở nên đơn giản hơn. Việc ký
kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu ích trong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi
động quá trình tự do hóa và tiến trình “phi điều tiết hóa” (US Aid,
2007). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng các cuộc đàm phán mở cửa thị trường là
dễ dàng. Các bên đã phải mất rất nhiều thời gian và đàm phán diễn ra rất căng thẳng
trước khi đạt được thỏa thuận gia nhập. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển và đoàn đàm phán
Việt Nam do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự đã tập trung toàn bộ sức lực vào
các cuộc đàm phán gia nhập, thường phải làm việc thâu đêm, đặc biệt trong giai đoạn
cuối cùng của các cuộc đàm phán gia nhập.
Quyết tâm trở thành Thành viên WTO của Việt Nam có thể đã được thúc đẩy bởi kinh
nghiệm thành công của các nền kinh tế hướng về xuất khẩu tại khu vực Đông Á, những
thay đổi hệ thống tại các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ và sự quan tâm của Trung
Quốc đối với tổ chức này. Có thể một động lực nữa là quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong việc tạo ra việc làm cho hơn 1 triệu lao động mới gia nhập thị trường lao động
mỗi năm tại Việt Nam, thực hiện xóa đói giảm nghèo và đạt được mục tiêu tiêu tham
vọng là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (SRV, 2006).
Trong quá trình gia nhập WTO của mình, Việt Nam đã không nhận được nhiều đối xử
đặc biệt và khác biệt từ các Thành viên WTO. Việt Nam đã phải thực hiện các bước cụ

trình” này nằm trong Nghị quyết tháng 2 năm 2007 về việc ban hành Chương trình hành
động của Chính phủ để thực thi Nghị quyết 4 Hội nghị Trung ương X về một số chủ
chương và chính sách lớn để phát triển nhanh và bền vững cho nền kinh tế khi Việt Nam
gia nhập WTO (Nghị quyết số 16/2007/CP-NQ của Chính phủ) và trong Kế hoạch phát
triển kinh xã hội 5 năm 2006 – 2010 (SRV, 2006).
4. Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO: Tổng quan
Một nền kinh tế muốn phát triển xuất khẩu các sản phẩm chế biến thay vì nguyên liệu và
tận dụng các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) trên thực tế không có lựa chọn nào
khác ngoài việc tham gia hệ thống thương mại của WTO. Lý do nằm ở chỗ “con dấu gia
nhập WTO” được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế coi là một dấu hiệu về sự vận hành
bình thường trong các mối quan hệ kinh tế toàn cầu. Có thể đưa ra nhiều lý do kinh tế,
luật pháp và chính trị để giải thích tại sao gia nhập WTO lại cần thiết đến thế và việc gia
nhập sẽ đem lại những cơ hội và thách thức nào cho Việt Nam.
Đối với một số người, lý do quan trọng nhất để gia nhập WTO là nhằm hội nhập nền kinh
tế quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu. Mọi người kỳ vọng rằng với việc gia nhập WTO,
Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu và nhập khẩu một cách ổn định và dễ
dự đoán hơn, từ đó, số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu sẽ tăng
theo. Gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình tự do hóa nhập khẩu, từ đó cho phép tiếp
cận với các đầu vào nhập khẩu (công nghệ, trang thiết bị và phương pháp quản lý hiện
đại) cũng như hàng hóa tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn; các đầu vào nhập khẩu rất quan
trọng đối với một nền kinh tế đang hiện đại hóa nhanh chóng như Việt Nam.
Một lợi ích kinh tế nữa từ việc gia nhập WTO là tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Gia nhập WTO sẽ khiến các doanh nghiệp tin tưởng hơn vì Việt Nam sẽ
được coi là một điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư. Có bằng chứng cho thấy rất nhiều
nhà đầu tư nước ngoài lớn (ví dụ như Intel) đã quan tâm hơn tới Việt Nam khi Việt Nam
chuẩn bị trở thành Thành viên của WTO. Chỉ trong vòng 9 tháng sau khi gia nhập WTO,
các doanh nghiệp nước ngoài đã cam kết sẽ đầu tư gần 6,5 tỷ Đôla Mỹ vào các dự án đầu
tư mới tại Việt Nam (số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007). Hơn nữa, việc trở thành
Thành viên của WTO khuyến khích sử dụng nhiều hơn các tài sản thuộc sở hữu trí tuệ,
dẫn tới các điều kiện tốt hơn để đạt được thành công về kinh tế thông qua chất lượng sản

5. Mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam
Lý do chủ yếu và trực tiếp khiến Việt Nam muốn gia nhập WTO là tìm cách thúc đẩy
xuất khẩu nông thủy sản, dệt may, quần áo và dầy dép cũng như các mặt hàng sản xuất
trong nước khác. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam – những
doanh nghiệp có ít nguồn lực để đối phó với những vấn đề phức tạp về thể chế – rất có
thể sẽ được hưởng lợi nhờ khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn. Tác động tới
xuất khẩu là tích cực vì khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng một môi trường ổn
định và bình đẳng hơn ở nước ngoài, có nhiều khả năng hơn trong việc kiện lại các thực
tiễn thương mại không bình đẳng và có cơ hội để đảm bảo rằng các cuộc đàm phán của
WTO trong tương lai sẽ đem lại các cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm mà Việt Nam
quan tâm (bốn thị trường xuất khẩu chính chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam đều là các Thành viên của WTO). Cũng có thể hy vọng rằng việc gia nhập sẽ
không chỉ thúc đẩy doanh số xuất khẩu các mặt hàng quyền thống sang các thị trường
hiện tại mà còn tăng xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thị trường mới (xem them chi
tiết tại Chương II-VII).
Về cơ bản, có ba lý do chính khiến cho việc gia nhập WTO sẽ dẫn tới tăng cường tiếp cận
thị trường. Thứ nhất, Việt Nam sẽ được các Thành viên WTO dành đối xử MFN đầy đủ
và lâu dài và điều này là một cải thiện đáng kể. Mặc dù Việt Nam đã được hưởng đối xử
MFN tạm thời với Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác nhưng đối xử MFN dựa trên
cơ sở WTO là một thỏa thuận ưu đãi. Điều này là một mốc rõ ràng cho việc chuyển từ
môi trường mang tính đơn phương và tự nguyện (ví dụ các cuộc thảo luận tại Quốc hội
Hoa Kỳ trước khi gia hạn đối xử MFN hàng năm), nơi việc lạm dụng sức mạnh kinh tế vì
lý do chính trị thực sự là một mối đe dọa, sang một mối quan hệ đối tác thương mại dựa
trên các quy tắc rõ ràng, nơi các vấn đề thương mại được giải quyết một cách minh bạch,
tuân theo các luật lệ của WTO (xem Hộp 1).
Hộp 1
WTO và Đối xử MNF tại Hoa Kỳ
Hiện nay, các nước chưa tham gia WTO có thể được nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, đơn
phương dành đối xử MFN trong thương mại nhưng không có gì đảm bảo rằng họ sẽ tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status