A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng của bộ môn Lịch sử và yêu
cầu đổi mới giáo dục, cũng như thực tiễn dạy học bộ môn, việc biên soạn sách
giáo khoa lịch sử trung học cơ sở có nhiều đổi mới về nội dung và phương
pháp. Sách giáo khoa lịch sử hiện nay được biên soạn không chỉ là tài liệu
giảng dạy của giáo viên mà còn là tài liệu học tập ở lớp và ở nhà của học sinh
theo định hướng mới. Đó là, học sinh không phải học thuộc lòng sách giáo
khoa mà cần phải tìm tòi, nghiên cứu những sự kiện có trong sách giáo khoa
dưới sự tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên. Từ đó, các em tự hình thành
cho mình những hiểu biết mới về Lịch sử. Do đó, những thông tin trong sách
giáo khoa một mặt được trình bày dưới dạng nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ.
Mặt khác, kèm theo những thông tin là những câu hỏi, bài tập yêu cầu học sinh
thực hiện các hoạt động học tập khác nhau, trong đó đặc biệt là sự giảm tải
kênh chữ, tăng đáng kể số lượng kênh hình. Kênh hình trong sách giáo khoa
không chỉ minh họa, làm cơ sở cho việc tạo biểu tượng Lịch sử mà còn là một
nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh. Bên cạnh đó, một số bài viết trong sách
giáo khoa còn có nhiều nội dung để ngỏ, chưa viết hết, yêu cầu học sinh thông
qua làm việc với tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, sẽ tìm tòi, khám phá những kiến thức
cần thiết liên quan đến nội dung bài học mà tác giả sách giáo khoa muốn truyền
tải đến học sinh .
Kênh hình trong sách giáo khoa Lịch sử gồm nhiều loại: bản đồ, sơ đồ,
hình vẽ, tranh ảnh Lịch sử. Mỗi loại có một phương pháp lịch sử riêng. Song
tựu chung lại có thể sử dụng trong trình bày kiến thức mới, cũng cố kiến thức
đã học, ra bài tập về nhà và trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh. Riêng đối với hình ảnh, tranh ảnh Lịch sử có hai dạng dùng để minh họa
cho kênh chữ hoặc với tư cách là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức cho
người học.
1
Với việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp biên soạn sách
giáo khoa Lịch sử như vậy, đòi hỏi giáo viên và học sinh phải đổi mới phương
thác nội dung kênh hình trong sách giáo khoa là biện pháp quan trọng để nâng
cao chất lượng dạy học lại chưa được quan tâm một cách đầy đủ. Trong giờ dạy
Lịch sử THCS vẫn còn có giáo viên coi việc sử dụng kênh hình là nhằm minh
họa cho giờ dạy thêm sinh động, hoặc nếu có sử dụng khai thác thì phương
pháp và nội dung khai thác chưa phù hợp. Vì vậy việc khai thác kiến thức
trong kênh hình chưa được chú trọng phát huy. Qua các lần dự giờ tại một số
trường tôi thấy nguyên nhân của tình trạng đó có nhiều, song chủ yếu là:
Một là: Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của sách giáo khoa, coi
đây là nguồn cung cấp kiến thức Lịch sử duy nhất trong dạy học mà không thấy
rằng kênh hình không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng, cung cấp một lượng
thông tin đáng kể, mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học Lịch
sử trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn, gây hứng thú học tập hơn cho học sinh.
Hai là: Không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất xứ, nội dung ý nghĩa của
kênh hình trong sách giáo khoa. Trong khi đó lần đổi mới sách giáo khoa lần
này số lượng kênh hình đã được tăng lên đáng kể so với trước. Riêng tranh ảnh
đã có 65 tranh ảnh, ngoài ra còn sơ đồ, lược đồ
Ba là: Có những giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị, nội dung kênh hình
nhưng lại ngại sử dụng, sợ mất thời gian, hoặc sử dụng mang tính hình thức,
minh họa cho bài giảng.
2. Kết quả, hiệu quả thực trạng trên.
Từ việc nhận thức và xác định về vị trí, ý nghĩa của việc sử dụng đồ
dùng trực quan trong dạy học lịch sử chưa đúng đã dẫn đến tình trạng tranh
ảnh, bản đồ được cấp nhiều nhưng có nơi tranh ảnh vẫn còn nằm im lìm trong
thư viện của nhà trường từ nguyên nhân trên, hoặc nếu tranh ảnh có được sử
dụng thì đó là các tiết thao giảng có người dự giờ, khi sử dụng thì còn mang
tính chất minh họa. Vì thế trong giờ giảng, giáo viên không khai thác hết nội
3
dung kiến thức lịch sử mà bức tranh, ảnh chứa đựng, trong khi đó kênh chữ
không đề cập đến. Từ đó dẫn đến không tạo được biểu tượng cho học sinh,
không cụ thể hóa các sự kiện, không khắc phục được tình trạng “hiện đại hóa”
Giáo viên phải phân loại được các nhóm đồ dùng trực quan. Đâu là đồ
dùng trực quan hiện vật, đồ dùng trực quan tạo hình, đồ dùng trực quan quy
ước. Bởi có phân loại được các nhóm đồ dùng trực quan này thì giáo viên mới
lựa chọn được các phương pháp phù hợp để khai thác và khi sử dụng mới linh
hoạt và sáng tạo. Đồng thời để sử dụng tốt, giáo viên phải xác định rõ nội dung
lịch sử được phản ánh qua đồ dùng trực quan. Phải dự kiến và xác định sử dụng
chúng trong từng bài cụ thể.
Giáo viên phải tổ chức, hướng dẫn, phát huy tính tích cực, độc lập của
học sinh trong quá trình quan sát, tìm hiểu nội dung lịch sử được phản ánh qua
tranh, ảnh lịch sử. Muốn vậy trong kế hoạch bài giảng của giáo viên phải có sự
chuẩn bị chu đáo các thao tác, hệ thống câu hỏi để nhằm phát huy tính tích cực
chủ động sáng tạo của học sinh. Làm sao để học sinh hiểu đồ dùng trực quan
nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học tập cho học sinh.
Nó là chiếc “cầu nối” giữa quá khứ với hiện tại.
II . CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Các nguyên tắc khi sử dụng.
Đồ dùng trực quan tạo hình trong dạy học lịch sử 9 có nhiều loại: đồ
phục chế, mô hình, sa bàn, tranh ảnh lịch sử, mỗi loại có một phương pháp sử
dụng riêng. Song tựu chung lại có thể sử dụng trong trình bày kiến thức mới,
cũng cố kiến thức đã học, ra bài tập về nhà và trong kiểm tra, riêng đối với hình
vẽ, tranh ảnh lịch sử lại có hai dạng: dùng để minh họa cho kênh chữ hoặc với
tư cách là nguồn cung cấp thông tin, kiến thức cho người đọc.
Khi sử dụng những kênh hình được trình bày với tư cách để minh họa
cho kênh chữ thì việc sử dụng chúng chỉ dừng lại ở việc nhằm minh họa làm
cho nội dung bài giảng sinh động, phong phú, hấp dẫn hơn. Giáo viên không sử
5
dụng chúng trong cũng cố bài hay trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
học sinh. Khi sử dụng những kênh hình loại này, giáo viên không đặt vấn đề
bằng các câu hỏi gợi mở để học sinh giải quyết vấn đề. Giáo viên cũng không
thống câu hỏi gợi mở của giáo viên để học sinh rút ra được những kết luận. Khi
tìm hiểu nội dung kênh hình qua các câu hỏi gợi mở giáo viên có thể tổ chức
cho các em làm việc cá nhân hoặc theo nhóm hoặc toàn lớp.
2. Cách khai thác, tiếp cận Lịch sử qua tranh ảnh.
Trước hết giáo viên phải xác định nguồn gốc và thời điểm xuất hiện tài liệu.
Có nghĩa là nội dung xuất sứ của bức ảnh, bức ảnh phản ánh toàn diện hay một
mặt, một khía cạnh nào đó của Lịch sử. Nội dung của tranh ảnh phản ánh sự
kiện, hiện tượng, tiến trình lịch sử nào, ở khía cạnh nào, trung thành đến đâu.
Tranh hay ảnh gốc bao giờ cũng là loại tài liệu có giá trị bậc nhất.
Sau khi xác định nguồn gốc, thời điểm như trên, ta có thể gợi ý cho học
sinh nội dung và cách thể hiện những nội dung đó của tác giả trên tranh ảnh.
- Những nhân vật chính trong tranh ảnh họ là ai? Họ đại diện cho ai?
- Tiếp theo nhằm giáo dục học sinh đi sâu vào nội dung tranh ảnh.
3. Những kỹ năng khi khai thác tranh ảnh.
Hình thành kỹ năng quan sát, nhận xét
Hình thành kỹ năng mô tả tường thuật.
Hình thành kỹ năng phân tích, nhận định, đánh giá.
4. Các bước làm việc với đồ dùng trực quan tạo hình.
Bước 1. Cho học sinh quan sát tranh, ảnh để học sinh xác định một cách
khái quát nội dung tranh ảnh cần khai thác.
Bước 2. Giáo viên nêu câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh
tìm hiểu nội dung của tranh ảnh.
Bước 3. Học sinh trình bày những kết quả tìm hiểu của mình về tranh ảnh,
học sinh khác bổ sung hoàn thiện.
Bước 4. Giáo viên nhận xét, bổ sung, học sinh trả lời và hoàn thiện nội
dung khai thác tranh ảnh cung cấp cho học sinh về kiến thức Lịch sử.
7
5 . Hướng dẫn khai thác một số tranh ảnh cụ thể:
A. Trong SGK Lịch sử lớp 8.
BÀI 29 CHÍNH SÁCH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN
B. Trong SGK Lịch sử Lớp 9
9
Bài 1: LIÊN XÔ VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU TỪ NĂM 1945 ĐẾN GIỮA
NHỮNG NĂM 70 CỦA THẾ KỶ XX.
Hình 1: Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô.
* Phương pháp sử dụng:
Đây là bức ảnh chụp vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người do Liên Xô
phóng lên vũ trụ thành công năm 1957. Giáo viên sử dụng kênh hình này để
dạy mục: I. Ý 2 – Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội (1950 đến nữa đầu những năm70 của thế kỷ XX).
Hoạt động 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát toàn bộ bức tranh
gợi ý bằng một số câu hỏi như sau:
Em biết gì về vệ tinh nhân tạo do Liên Xô phóng lên vũ trụ?
Việc Liên Xô là nước đầu tên phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên vũ
trụ cho chúng ta biết điều gì ?
Hoạt động 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát và trả lời những
câu hỏi trên bằng khả năng hiểu biết của các em.
Hoạt động 3: Giáo viên tập chung sự chú ý của các em vào bức ảnh,
giáo viên tiến hành miêu tả:
10
“ Trong kế hoạch 5 năm và 7 năm về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội. Liên Xô đã thu được những thắng lợi to lớn, đạt được
những thành tựu về kinh tế , khoa học – kỹ thuật và vũ trụ".
Trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh
của Xiômcốpxki (ông tổ của ngành khoa học vũ trụ). Ngày 4/10/1957, Liên Xô
đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất mang tên "Xpútnic -
1" mở ra kỷ nguyên con người chinh phục vũ trụ.
Vệ tinh được phóng lên bởi một tên lửa do Colô- lép chế tạo, bay quanh
trái đất theo một quỹ đạo hình bầu dục, điểm thấp nhất cánh mặt đất 227km,
điểm cao nhất cách mặt đất 94km, thời gian vệ tinh được phóng lên bay quanh
Ước muốn đòi độc lập của họ được thể hiện trong bức tranh mà họ mang theo
khi đi biểu tình. Cụm từ viết tắt "CCCP " nghĩa là Liên Xô, hình chiếc kéo cắt
12
đôi làm hai phần : một phần có chữ "CCCP" Biểu thị cho việc tách khỏi Liên
bang Xô Viết để thành lập một nhà nước riêng. Đó là Lít-va. Bức ảnh cũng
diễn tả lại không khí tham gia biểu tình của người Lít-va đòi độc lập trong bối
cảnh chung lúc bấy giờ của Liên Xô, góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự tan rã
của đất nước gần 70 năm tồn tại của Liên bang cộng hoà XHCN Xô Viết. Ngày
11/3/1990 Lít va tuyên bố độc lập. Quốc hội Lít va vừa được bầu đã quyết định
tạm thời áp dụng Hiền pháp 1938. Vitautat Lanxbơgit, người đứng đầu phong
trào Mặt trân Nhân dân Saiudit được bầu làm Chủ tịch Quốc hội. Lít va là nước
đầu tiên trong số 15 nước cộng hòa tuyên bố thành lập. Tuy nhiên, kỳ họp bất
thường của Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô ngày 15 - 3 - 1990 đã ra tuyên
bố không công nhận Tuyên ngôn của Quốc hội Lít va .
Hoạt động 4: Giáo viên kết luận: Bức ảnh đã phản ánh được phần nào sự
khủng hoảng chế độ xã hội ở Liên Xô và sự tan rã của Liên bang cộng hòa
XHCN Xô Viết.
Bài 4: CÁC NƯỚC CHÂU Á.
Hình 7: Thành Phố Thượng Hải ngày nay.
* Phương pháp sử dụng:
Đây là bức ảnh chụp một góc thành phố Thượng Hải của Trung Quốc sau hơn
20 năm đất nước này tiến hành công cuộc cải cách - mở cửa (1978 – 2001)
Giáo viên sử dụng bức ảnh này để dạy mục: II, Ý 4 - Công cuộc cải cách - mở
cửa (1978 đến nay) trong bài.
13
Hoạt động 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát toàn diện bức ảnh
một cách khái quát, rồi đặt câu hỏi gợi mở, kích thích sự suy nghĩ của học sinh.
Nhìn vào bức ảnh, em có nhận xét gì về thành phố Thượng Hải ?
Thành Phố này nằm ở đâu ?
Thượng Hải có ý nghĩa như thế nào đối với việc thúc đẩy sự phát triển
14
*Phương pháp sử dụng.
Đây là bức ảnh chụp chín đại biểu đại diện cho chín nước tham gia Hội
nghị cấp cao ASEAN VI họp tại Hà Nội (Việt Nam). Giáo viên sử dụng bức
ảnh này để dạy mục III - Từ "ASEAN 6"phát triển thành "ASEAN 10".
Hoạt động 1: Trước khi tiến khai thác bức ảnh, giáo viên cho học sinh
quan sát toàn cảnh bức ảnh, tập trung sự chú ý của các em bằng một số câu hỏi:
- Có bao nhiêu đại biểu trong bức ảnh này?
- Họ đại diện cho những quốc gia nào?
- Bức ảnh này được chụp khi nào, tại đâu? Và nói lên điều gì?
Hoạt động2: Giáo viên tổ chức cho các em quan sát, tìm hiểu bức ảnh và
trả lời câu hỏi trên bằng sự hiểu biết của các em.
Hoạt động 3: Giáo viên tập trung sự chú ý của các em váo bức ảnh và
tiến hành miêu tả.
Hội nghị cấp cao ASEAN VI được tổ chức tại Hà Nội (Việt Nam), từ
ngày 15 đến 16/12/1998. Dưới sự chủ tọa của Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam - Phan Văn Khải. Tham gia hội nghị gồm có nước chủ nhà
Việt Nam, Bru- nây, Thái Lan, In-đô-nê-xi a, Sin-ga-po, Ma-lai-xi- a, Mi-an-
ma, Phi-líp - pin và Lào.
Hội nghị đã tổng kết 31 năm phát triển của ASEAN, đề ra các biện pháp
để đối phó với những thách thức trong khu vực khi bước vào thế kỷ XXI.
15
Chủ đề của Hội nghị cấp cao lần này là" Đoàn kết và hợp tác vì một
ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển đồng đều". Hội nghị cũng đưa ra
Tuyên bố Hà Nội cùng một số văn kiện quan trọng, được các nguyên thủ quốc
gia ASEAN thông qua "Chương trình Hà Nội - bước triển khai cụ thể của
tầm nhìn ASEAN năm 2020".
Ngày 15/12/1998, tại Hội nghị VI, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí
kết nạp Cam - pu - chia trở thành thành viên thứ 10 của hiệp hội. Như vậy, quá
trình phát triển từ ASEAN 6 đến ASEAN 10 đã được lịch sử ghi nhận. Trong
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vì vậy nhà cầm quyền Prê-tô-ri-a đã bắt giam Nen-
xơn Man-đê-la và kết án ông tù chung thân.
Sau hơn 27 năm bị giam giữ, trước áp lực đấu tranh của nhân dân tiến bộ
trong và ngoài nước, ngày 11/2/1990 chính quyền Nam Phi buộc phải trả tự do
cho ông. Sau khi ra tù, ông được tổ chức ANC bầu làm Phó chủ tịch và ngày
7/5/1991 Hội nghị toàn quốc ANC đã nhất trí bầu Nen-xơn Man-đê-la làm Chủ
tịch.Sau cuộc bầu cử toàn quốc đa sắc tộc năm 1994, ngày 10/5/1994 Chủ tịch
ANC Nen-xơn Man-đê-la tuyên bố nhận chức Tổng thống nước Cộng hòa Nam
Phi, trở thành Tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử đấu tranh chống chế độ
phân biệt chủng tộc A-pác-thai ở Nam Phi, Nen-xơn Man-đê-la là người đấu
tranh không mệt mỏi, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh này. Với
17
những cống hiến của ông vào sự nghiệp giải phóng con người khỏi sự kì thị,
phân biệt chủng tộc Nen-xơn Man-đê-la đã được nhận giải thưởng thế giới "Nô
ben" về "Hũa bỡnh" (1993).
Bài 8. NƯỚC MĨ
Hỡnh 16. Tàu con thoi của Mĩ đang được phóng lờn .
* Phương pháp sử dụng.
Đây là bức ảnh chụp tàu con thoi của Mĩ đang được phóng lên vũ trụ.
Giáo viên sử dụng bức ảnh này để minh họa khi giảng dạy mục: II - Sự phỏt
triển về khoa học kỹ thuật Mĩ sau chiến tranh.
Hoạt động 1: Giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh, gợi mở câu hỏi
để phát triển tư duy, suy nghĩ của các em.
- Nhỡn vào bức ảnh tàu con thoi của Mĩ đang được phóng lên, các em
biết gỡ về lĩnh vực khoa học kỹ thuật của nước Mĩ sau triến tranh thế giới thứ
hai ?
- Tàu con thoi được phóng lên vũ trụ vào thời gian nào và trọng lượng
của nó là bao nhiêu?.
18
Hoạt động 2: Giỏo viờn tổ chức cho học sinh trả lời những cõu hỏi trờn
không ?
- Vỡ sao người ta gọi con tàu này là " đoàn tàu biết bay".
Hoạt động 3: Giỏo viờn tập trung sự chỳ ý của học sinh vào bức ảnh và
tiến hành miờu tả.
Đây là hỡnh ảnh tàu chạy trờn đệm từ của Nhật bản có tốc độ
400km/giờ, nó thể hiện thành tựu kỡ diệu về lĩnh vực khoa học - kỹ thuật mà
Nhật Bản đó đạt được trong những năm cuối thế kỷ XX.
Cỏc em hóy tưởng tượng, nếu chúng ta ngồi trên đoàn tàu này, chỉ cần 1
giờ có thể đi du lịch ở một thành phố cách điểm xuất phỏt 400km, nhanh hơn
cả máy bay. Vỡ vậy người ta gọi đây là " đoàn tàu biết bay".
Tàu chạy bằng đệm từ lợi dụng từ lực làm cho thân tàu lướt trên đường
bay, không những tốc độ nhanh hơn, mà do thân tàu nổi, nên độ lắc và tiếng ồn
giảm đến mức thấp nhất, không " ồn ào" và "náo động" như các con tàu khác
20
mà chúng ta đó nhỡn thấy. Loại tàu này chạy bằng điện từ IR, do các chuyên
gia Nhật Bản nghiên cứu năm 1960. Đến nay, các chuyên gia đó hoàn thành
việc thớ nghiệm vận chuyển siờu cao tốc một cỏch thành cụng trờn tuyến
đường thực nghiệm và đang tiến tới sử dụng để chạy tàu trong thế kỷ XXI.
Nhỡn vào bức ảnh cỏc em thấy, tạo hỡnh của con tàu chạy bằng điện từ
MLUOO X2 xinh đẹp như máy bay phản lực trở khách. Trong toa tàu, hành
khách ngồi thoải mái rộng rói. Ngoài ra tàu cũn cú ti vi, điện thoại hành khách
có thể sử dụng điện thoại di động, máy tính cá nhân, soạn thảo văn bản như
đang ngồi trong phũng làm việc của mỡnh Núi chung, khi ngồi trờn con tàu
này, hành khỏch thấy rất thoải mỏi và thuận tiện.
Bài 11. TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI
THỨ HAI
Hình 22: Sớc sin, Ru- dơ- ven và Xta-lin tại Hội nghị I - an - ta.
Đây là bức ảnh chụp ba nguyên thủ quốc gia của các cường quốc: Liên
xô, Mĩ và Anh tại Hội nghị I- an- ta diễn ra từ ngày 4 đến 12/2/1945 tại lâu đài
Li va di a, gần thành phố I an ta trên bán đảo Crưm ( Liên Xụ - nay thuộc
tớch cực trong việc giải quyết vấn đề nước Đức, Nhật Bản và thành lập một tổ
22
chức quốc tế sau chiến tranh (Liên hợp quốc). Đồng thời, hội nghị cũng dẫn
đến sự hỡnh thành trật tự hai cực sau chiến tranh:" Trật tự hai cực I - an - ta "
do Mĩ và Liờn Xụ đứng đầu, sau đó tiến hành cuộc "Chiến tranh lạnh"( kéo dài
từ 1947 đến 1989).
Hình 25: Năng lượng xanh (điện mặt trời) ở Nhật Bản.
* Phương pháp sử dụng.
Đây là hình ảnh năng lượng xanh (điện mặt trời) ở Nhật bản - một thành
quả của cách mạng khoa học – kỹ thuật. Giáo viên sử dụng kênh hình này để
dạy mục: I- những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách
mạng khoa học - kỹ thuật.
Hoạt động 1: Trước khi khai thác, giáo viên tổ chức cho học sinh quan
sát bức ảnh chụp đồng thời tập trung sự chú ý của các em bằng một số câu hỏi:
- Vì sao người ta sử dụng năng lượng mặt trời để thay thế năng lượng
trước đây?
- Việc sử dụng năng lượng mặt trời có từ khi nào ?
- Người ta sử dụng năng lượng mặt trời như thế nào? Nó có đặc điểm gì
khác so với các nguồn năng lượng trước đây?
Hoạt động 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát và trình bày
những hiểu biết của các em thông qua những câu hỏi trên?
Hoạt động3: Giáo viên tiến hành miêu tả cho học sinh.
23
Người ta dùng một cái hộp, bên trên đậy một tấm kính, dưới đáy có một
tấm tôn sơn đen. Khi ánh nắng mặt trời chiếu sáng, bức xạ mặt trời sẽ chiếu qua
kính, ánh sáng có thể nhìn thấy được và tấm tôn sẽ hấp thụ một phần năng
lượng, còn một phần bị phản xạ lai dưới dạng bức xạ hồng ngoại. Bức xạ hồng
ngoại bị “cầm tù” qua tấm kính và tấm tôn đen. Hiện tượng này gọi là “Hiệu
ứng lồng kính” và nó sẽ tự cho phát điện.
Điều đặc biệt hơn nữa là nguồn điện năng này liên tục được “tích luỹ”
Học sinh vận
dụng kiến thức
Học sinh khắc sâu
sự kiện
Học sinh rèn kỹ
năng thực hành
Tỉ lệ% Tỉ lệ% Tỉ lệ%
8A 80% 87% 86%
8B 75% 79% 76%
* Kết quả:
Kết quả
Lớp
Học sinh vận dụng
kiến thức
Học sinh khắc sâu
sự kiện
Học sinh rèn kỹ
năng thực hành
Tỉ lệ% Tỉ lệ% Tỉ lệ%
9A 20% 22% 18%
9B 25% 27% 20%
- Khi áp dụng sáng kiến(năm 2008-2009)
Kết quả
Lớp
Học sinh vận
dụng kiến thức
Học sinh khắc sâu
sự kiện
Học sinh rèn kỹ
năng thực hành