BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
__________________
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT TRẦN THỊ THANH HẢO
GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỐ THU THUẾ
TỪ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP
CỦA VIỆT NAMChuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60.31.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ THÀNH TỰ ANH
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011
1
này.
3 TÓM TẮT
Trong bối cảnh các nguồn thu chính từ dầu mỏ, ngoại thương và doanh nghiệp nhà nước
của Việt Nam có xu hướng giảm sút, từ năm 2004, Chính phủ Việt Nam đã có những cải
cách mang tính toàn diện hệ thống thuế quốc gia nhằm tìm kiếm những nguồn thu ổn định
hơn cho ngân sách nhà nước. Theo đó, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được chọn là giải
pháp giúp bù đắp các khoản chi của chính quyền địa phương nhằm không chỉ cung cấp các
dịch vụ công địa phương tốt hơn mà còn giúp giảm gánh nặng ngân sách trung ương.
Về lý thuyết, thuế đánh vào bất động sản có khả năng mang lại nguồn thu tương đối ổn
định cho ngân sách địa phương và có độ nổi cao do sự tăng giá của nhà, đất cùng với sự
phát triển của nền kinh tế. Song, khác với thông lệ quốc tế, Việt Nam chỉ đánh thuế đất
nguyên thổ mà không đánh thuế công trình trên đất.Không chỉ như vậy, so với các nước
được chọn trong nghiên cứu, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của Việt Nam có cơ sở thuế
hẹp và thuế suất thấp.Điều này ngược với lý thuyết về thiết kế thuế vững chắc (thuế suất
thấp, cơ sở thuế rộng). Ngoài ra, cũng theo sắc thuế này, giá đất tính thuế được giữ ổn định
trong mỗi chu kỳ năm năm thay vì được điều chỉnh hàng năm theo giá thị trường. Những
hạn chế bên trên không chỉ khiến cho mục tiêu tăng nguồn thu cho ngân sách không đạt
được mà còn làm mất đi tính công bằng theo chiều dọc của sắc thuế.
Xuất phát lý do này, trên cơ sở lý thuyết về đánh thuế tối ưu và thuế đấtvà từ bài học kinh
nghiệm của một số nước, trong nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất các phương án nâng cao
số thu thuế thông qua việc nâng cao thuế suất, mở rộng cơ sở thuế và nâng cao hiệu quả
hành thu thuế.
Việc thực hiện các phương án thuế này được chia thành hai giai đoạn: trong ngắn hạn, chú
trọng công tác hành thu, cụ thể là hoàn thiện hệ thống dữ liệu, định giá, ứng dụng công
nghệ thông tin và tuyên truyền;ngoài ra, đối với khu vực đô thị, giá đất tính thuế được áp
dụng theo giá thị trường điều chỉnh hàng năm theo hệ số CPI để vừa giúp tăng thu ngân
sách vừa kiềm chế tình trạng bong bóng bất động sản; trong dài hạn, khi công tác hành thu
3.1.4 Hành thu 19
3.1.5 Mục tiêu cải cách 19
3.1.6 Hiệu quả 20
3.1.7 Kết luận 20
5 3.2 Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam 21
3.2.1 Mục tiêu cải cách 22
3.2.2 Nguyên tắc cải cách 22
3.2.3 Quá trình cải cách 23
IV. THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM 25
4.1 Thiết Kế Thuế SD ĐPNN 25
4.1.1 Cơ sở thuế 25
4.1.2 Thuế suất 26
4.2 Dự Báo Số Thu Từ Thuế SD ĐPNN Của Việt Nam 27
4.2.1 Số Thu Thuế Theo PLTNĐ 27
4.2.2 Dự báo số thu từ Thuế SD ĐPNN 29
4.3 Các phương án nâng cao số thu thuế ròng từ Thuế SD ĐPNN 30
4.3.1 Phương án 1.Tăng thuế suất 30
4.3.2 Phương án 2. Mở rộngcơ sở thuế 32
4.3.3 Phương án 3. Nâng cao hiệu quả hành thu 42
V. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 46
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 1. TÍNH SỐ THU THUẾ DỰ KIẾN THU ĐƯỢC ĐỐI VỚI ĐẤT Ở 53
PHỤ LỤC 2. TÍNH SỐ THU THUẾ DỰ KIẾN THU ĐƯỢC ĐỐI VỚI ĐẤT SẢN XUẤT,
KINH DOANH PHI NÔNG NGHIỆP 55
PHỤ LỤC 3. TÍNH SỐ THU THUẾ DỰ KIẾN THU ĐƯỢC ĐỐI VỚI NHÀ Ở 57
Hình 4 Bảng thuế suất Thuế SD ĐPNN 26
Hình 5 Bảng tổng kết số thu thuế theo PLTNĐ 27
Hình 6 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước năm 2008 29
Hình 7 Bảng tóm tắt các đề xuất phương án tăng thuế suất 32
Hình 8 Mối quan hệ giữa giá bất động sản và tăng trưởng GDP 38
Hình 9 Minh hoạ nguồn thu thuế từ nhà ở bị bỏ lỡ 40
Hình 10 Minh hoạ người nghèo nộp thuế nhiều hơn người giàu 41
Hình 11 Bảng tóm tắt các đề xuất mở rộng cơ sở thuế 42
Hình 12 Bảng tóm tắt các đề xuất nâng cao hiệu quả hành thu thuế 45
Hình 13 Bảng tổng hợp các kiến nghị tổng hợp các kiến nghị 48
8 I.
GIỚI THIỆU
1.1 Bối Cảnh Nghiên Cứu
Việt Nam được biết đến là một trong những quốc gia có nguồn thu ngân sách phụ thuộc
nhiều vào thuế xuất nhập khẩu, dầu mỏ và doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, những
nguồn thu này đang có xu hướng giảm sút.
1
Do vậy, chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tìm
kiếm các nguồn thay thế nhằm đảm bảo tính ổn định cho ngân sách nhà nước. Theo đó,
chương trình cải cách toàn diện hệ thống thuế đã được tiến hành với mục tiêu đảm bảo tỷ
lệ động viên về thuế vào ngân sách nhà nước bình quân hàng năm đạt từ 20-21% GDP
nhưng vẫn đảm bảo công bằng xã hội và gây ra ít tổn thất xã hội nhất.
2
Nằm trong
chương trình cải cách này, năm 2009 một sắc thuế mới về bất động sản theo hướng mở
rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế đã được đưa ra thảo luận.
3
7
Năm 1992, với mục tiêu góp phần quản lý nhà nước về đất đai, khuyến khích tổ chức, cá
nhân sử dụng đất tiết kiệm và động viên sự đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách
nhà nước, Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thuế nhà, đất (“PLTNĐ”).
8
Đối tượng chịu
thuế theo Pháp Lệnh này là đất ở, đất công trình và nhà ở. Tuy nhiên, từ năm 1992 đến nay,
Việt Nam chỉ thực hiện thu thuế đối với đất mà không thu thuế đối với nhà ở. Song song
với PLTNĐ, Pháp lệnh thuế sử dụng đất nông nghiệp (“PL Thuế ĐNN”) cũng được ban
hành năm 1992. Dưới sự điều chỉnh của hai sắc thuế này, Việt Nam chỉ đánh thuế đối với
đất mà không đánh thuế đối với công trình trên đất.
Sau hơn 15 năm thực hiện PLTNĐ, ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua
Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12 (“Thuế SD ĐPNN” hay “Luật
số 48”) có hiệu lực từ 1/1/2012. Theo đó, nhà được loại ra khỏi đối tượng chịu thuế, đất
phi nông nghiệp là đối tượng chịu thuế theo sắc thuế mới này. Luật số 48 được ban hành
với ba mục tiêu chính (trong số các mục tiêu khác):
9
1. Khuyến khích việc sử dụng đất tiết kiệm và hiệu quả;
2. Động viên hợp lý sự đóng góp của người sử dụng đất vào ngân sách nhà nước; và
3. Xây dựng một sắc thuế dễ thực hiện, dễ quản lý
Câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam có đạt được cả ba mục tiêu trên hay không và Luật số 48
có góp phần vào việc đạt được mục tiêu chung là tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách hay
không.
6 Tham khảo từ Rosengard (2010).
7 Việt Nam đang trong quá trình xây dựng hệ thống ngân sách theo hướng tăng cường phân cấp quản lý
ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của ngân sách nhà nước và vai trò chủ đạo của ngân sách trung
ương; đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của ngân sách các cấp chính quyền địa phương trong
••
• tìm ra những điểm chưa hợp lý của thiết kế Thuế SD ĐPNN; và từ đó
•
••
• đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao số thu thuế.
Để làm rõ, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các yếu tố có ảnh hưởng đến số thu từ Thuế
SD ĐPNN. Nghiên cứu không phân tích các yếu tố như tính công bằng về mặt xã hội hay
những biến dạng về mặt kinh tế. Những vấn đề này chỉ được đề cập cho mục đích đánh
giá số thu thuế tiềm năng hoặc tính ổn định của số thu thuế. Ngoài ra, để làm rõ hơn, thuế
sử dụng đất nông nghiệp theo PL Thuế ĐNN không phải là đối tượng của nghiên cứu này.
Việc dẫn chiếu đến PL Thuế ĐNN chỉ nhằm mục đích so sánh hoặc làm rõ hơn vấn đề
nghiên cứu trong từng ngữ cảnh cụ thể.
11 1.4 Cấu Trúc Của Nghiên Cứu
Nghiên cứu gồm sáu phần chính. Phần tiếp theo (Phần II) đề cập một cách ngắn gọn cơ
sở lý thuyết về đánh thuế tối ưu, đặc biệt phân tích lý thuyết về đánh thuế đất, làm cơ sở
cho các bước phân tích tiếp theo. Phần này cũng tóm tắt một số nghiên cứu trước, giải
thích phương pháp mà nghiên cứu này áp dụng, đồng thời giới thiệu một số nguồn tài liệu
mà nghiên cứu dẫn chiếu. Phần III phân tích kinh nghiệm đánh thuế đất ở một số nước
trên thế giới. Trong phần này, nghiên cứu sẽ giới thiệu hệ thống thuế bất động sản của
một số nước đang phát triển có điều kiện kinh tế khá tương đồng với Việt Nam, bao gồm
Indonesia, Jamaica, Philippines, Chile và nhưng bài học rút ra cho Việt Nam. Phần IV
phân tích thiết kế thuế và các phương án tăng số thu từ Thuế SD ĐPNN ở Việt Nam. Phần
này, sau khi phân tích từng yếu tố thuế suất, cơ sở thuế và phương án hành thu, sẽ tiến
hành phân tích các lựa chọn giúp tăng số thu thuế. Phần V, trên cơ sở kết quả phân tích
các phần trên, sẽ rút ra những gợi ý về mặt chính sách nhằm nâng cao số thu từ Thuế SD
ĐPNN.
12
Nâng cao số thu thuế
từ Thuế SD ĐPNN trong phạm vi của nghiên cứu này là việc phân
tích và đề xuấtphương án thuế mà phương án này giúp đạt được số thu thuế cao nhất với
mức chi phí hành thu thấp nhất trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay và phù hợp
với thông lệ quốc tế.
10 Tác giả tổng hợp và tóm tắt từ các bài giảng của giáo sư Jay K. Rosengard về thuế bất động sản đăng
tải trên website: và một số giáo trình về thuế tại thưviện của FETP.
11 Như trên.
13 2.2 Lý Thuyết Về Đánh Thuế Đất
Đặc điểm chung của hầu hết các loại thuế là gây ra biến dạng về mặt kinh tế. Tuy nhiên,
về mặt lý thuyết, điều này không xảy ra đối với thuế đất bởi vì loại thuế này đánh trên đất
nguyên thổ mà không phụ thuộc vào việc đất đó có được sử dụng hay không hoặc sử dụng
hiệu quả hay không hiệu quả. Do cung đất không co giãn nên thị trường đất đai phụ thuộc
nhiều vào mức sẵn lòng chi trả của bên thuê đất hơn là chi phí của bên cho thuê. Cũng do
cung đất không co giãn nên người cho thuê đất không thể trực tiếp chuyển gánh nặng thuế
sang cho bên thuê đất (xem Hình 1dưới đây).
12
Do đó, bên cho thuê đất (người chủ đất) là
người trực tiếp và cuối cùng phải chịu toàn bộ gánh nặng thuế đất, và như vậy, không gây
ra những tổn thất xã hội vô ích.
Hình 1. Cung – cầu đất khi có thuế
(Tác giả trình bày dựa trên McCluskey, William J.; Franzsen, Riël C. D. (2005),nguồn Wikipedia)
Tuy nhiên, do thuế đất chỉ đánh trên đất nên so với thuế bất động sản (đánh trên đất và
công trình trên đất), cơ sở thuế của thuế đất bị thu hẹp. Điều này có nghĩa là, trong trường
ư
ờng
14 là thuế suất phải cao hơn bao nhiêu để vẫn đảm bảo số thu thuế mà không làm cho người
sử dụng đất trốn tránh nghĩa vụ thuế hoặc từ bỏ quyền đối với đất đai của mình. Không có
một công thức chung cho vấn đề này, nhưng kinh nghiệm của các nước có thể là một
nguồn tham khảo tốt.
13
Ngoài ra, thực tiễn đã chứng minh rằng lý thuyết về cung đất không co giãn chỉ đúng trong
trường hợp xem xét tổng nguồn cung đất của quốc gia trong điều kiện các loại đất đã được
sử dụng ổn định, không có biến động đáng kể về mục đích sử dụng đất. Lý thuyết này sẽ
không còn đúng khiáp dụng vào việc xác định cung đất phi nông nghiệp ở Việt Namkhi mà
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa. Như sẽ phân tích trong
Phần IV dưới đây, diện tích đất phi nông nghiệp chịu thuế của Việt Nam năm 2010 tăng
49% so với năm 2005 do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, khi Thuế SD
ĐPNNcao hơn Thuế SD ĐNN(ở mức độ đáng kể) có thể dẫn đến thay đổi hành vi của
người sử dụng đất. Họ có động cơ để không tiếp tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ
nông nghiệp sang phi nông nghiệp như xu hướng hiện tại. Ngược lại, người sử dụng đất có
động cơ kê khai gian dối về mục đích sử dụng đất để hưởng mức thuế thấp hoặc tự ý
chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp nhưng không đăng
ký để vẫn được hưởng mức thuế thấp. Trong trường hợp này, Thuế SD ĐPNNcó khả năng
gây ra những biến dạng về mặt kinh tế.
2.3 Nguồn Tài Liệu Và Nghiên Cứu Trước
Nghiên cứu này ngoài việc sử dụng các tài liệu về lý thuyết đánh thuế đất, về kinh nghiệm
cải cách thuế ở các nước, tài liệu về Thuế SD ĐPNN của Việt Nam, còn tham khảo các
nghiên cứu trước của các tác giả về thuế bất động sản. Cụ thể, nghiên cứu này được thực
Chương này được thiết kế dựa trên quan điểm cho rằng, về mặt thiết kế, thuế bất động sản
tại các nước có nhiều điểm khác nhau; tuy nhiên, khi đưa vào thực hiện, những điểm khác
biệt về luật định trở nên không đáng kể do có những tương đồng về điều kiện kinh tế,
phương thức quản lý và hành vi của con người. Kết quả thực thi trên thực tế cho thấy, hệ
thống thuế bất động sản tại các nước đang phát triển với điều kiện kinh tế tương đồng
giống nhau nhiều hơn so với chủ định của các nhà thiết kế.
14
Là một nước đang phát triển, Việt Nam có những đặc điểm tương đồng về điều kiện kinh
tế, phương thức quản lý và hành vi của con người so với các nước được chọn trong nghiên
cứu, bao gồm Indonesia, Malaysia, Chile và Jamaica. Bảng dưới đây cho thấy mặc dù Việt
Nam có GDP và tỷ lệ dân số thành thị thấp hơn nhưng có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất
trong số năm nước được so sánh. Điều này phù hợp với thực tiễn là các nước đã tiến hành
cải cách trước đó, trong khi Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hoá và
công nghiệp hóa. Do vậy, việc học hỏi và rút kinh nghiệm từ các nước đi trước là điều cần
thiết giúp Việt Nam đạt được những kết quả như mong muốn trong quá trình cải cách.
14 Rosengard (1998), Chương VI.
17
Indonesia 3.600
6,06
128
43
Phillipines
3.900
3,8
307
63
Việt Nam
2.700
6,31
260
30
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Tổng Cục Thống Kê, 2008)
Lập luận bên trên cho thấy việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước chắc chắn sẽ giúp
Việt Nam học hỏi và rút kinh nghiệm trong việc thiết kế cũng như trong công tác hành
thuThuế SD ĐPNN.Với mục tiêu đó, chương này sẽ gồm hai phần: phần thứ nhất so sánh
Việc miễn thuế giúp đạt được các mục tiêu về mặt xã hội và về mặt chính trị, nhưng về mặt
kinh tế làm giảm đáng kể số thu thuế do việc thu hẹp cơ sở thuế gây ra.
Ngoài ra, các cơ sở thuế cũng bị tổn hao nghiêm trọng do danh sách đối tượng nộp thuế
không đầy đủ và không chính xác, phân loại sai giá trị và công năng của bất động sản, và
công tác hành thu kém.
3.1.2 Thuế suất
Indonesia đánh thuế suất đồng nhất 0,5% cho cả đất và công trình. Tương tự, Chile cũng áp
dụng thuế suất đồng mức2% và 30% phụ phí. Ở Phillipines, thuế suất lũy tiến từ 0,5% đến
2% tùy theo mục đích sử dụng và loại bất động sản cộng với 1% quỹ giáo dục đặc biệt. Ở
Jamaica, mức thuế 5 đô Jamaica cho phần giá trị 6.000 đô Jamaica đầu tiên, sau đó thuế
suất lũy tiến từ 1% đến mức cao nhất là 3%. Thuế suất lũy tiến tại Jamaica có cùng tác
động giống như tỉ lệ bất động sản chịu thuế luỹ tiến tại Philippines làm tăng tình trạng định
giá và phân loại không đúng bất động sản để được nộp thuế thấp hơn, và do vậy làm cho
mức thuế suất hiệu dụng theo đó giảm đi.
3.1.3 Định giá
Jamaica sử dụng giá thị trường trực tiếp trong khi các nước khác cho phép người nộp thuế
tự kê khai và sử dụng bảng giá.Việc định giá được tiến hành ba năm một lần bởi cơ quan
thuế ở Indonesia và bởi chính quyền địa phương ở Phillipines. Trong khi đó, ở Jamaica Sở
địa chính định giá năm năm một lần, ở Chile cơ quan thuế định giá mười năm một lần. Mặc
dù có khoảng thời gian dài nhất giữa hai lần định giá, nhưng Chile có cơ sở thuế với độ nổi
19 nhiều nhất, bởi vì giá trị bất động sản tại Chilê được gắn với chỉ số giá tiêu dùng và được
tự động điều chỉnh sáu tháng một lần.
3.1.4 Hành thu
Indonesia thu thuế hàng năm, còn Chile thu thuế hàng quý và đều thông qua hệ thống ngân
thuế từ các hoạt động tái định giá tổng thể.
3.1.6 Hiệu quả
Số thu thuế bất động sản tại Jamaica sụt giảm với tốc độ trung bình năm 5,5% từ 1980 đến
1990, trong khi số thu thuế tại Indonesia tăng ở mức trung bình năm là 10,2% trong cùng
giai đoạn. Số thu thuế bất động sản tại Philippines vàChilê tăng trung bình hàng năm ở
mức xấp xỉ bằng nhau và lần lượt là 4,0% và 4,4%. So sánh xu thế của số thu thuế bất
động sản với tình hình hiệu quả kinh tế chung tạibốn nước này trong vòng thập kỷ vừa qua
thì hiệu quả của Indonesia là tốt nhất và Jamaica là xấu nhất, trong khi Philippines và Chilê
nằm giữa hai thái cực này. Số thu thuế bất động sản nông thôn và thành thị của Indonesia
tăng 19,3%, lớn hơn so với mức tăng của GDP (15,6%) cũng như của tổng thu ngân sách
(12,1%). Ngược lại, số thu thuế bất động sản của Jamaica chỉ tăng 10,5%bằng hơn một
nửa mức tăng GDP (17,9%) và tổng nguồn thu ngân sách (18,2%); tại Philippines và Chilê,
số thu thuế bất động sản tăng bằng mức tăng của GDP và nguồn thu ngân sách. Tuy nhiên,
trong cả bốn trường hợp số thu thuế bất động sản vẫn chiếm tỉ trọng không đáng kể trong
tổng nguồn thu ngân sách (xấp xỉ1% đến 3%) và tổng sản phẩm quốc nội (chưa đến 1%).
16
3.1.7 Kết luận
Những phân tích bên trên cho thấy quy định pháp luật ở các nước khác nhau tương đối
nhiều về cơ sở thuế, các khoản miễn và giảm thuế, tỉ lệ bất động sản chịu thuế và thuế suất,
tần số và kỹ thuật định giá và hệ thống hành thu. Tuy nhiên, trong thực tế hệ thống thuế của
các nước trên hội tụ với nhau tại các điểm tương đồng trong vận hành, các cán bộ thuế phải
đương đầu với cùng một vấn đề, đó là tạo nguồn thu thuế một cách hiệu quả, công bằng và
bền vững. Một số hạn chế chung của các hệ thống thuế này là: áp lực chính trị mâu thuẫn,
vừa muốn tăng nguồn thu vừa muốn đạt được các mục tiêu khác; cơ sở thuế có khuynh
hướng thu hẹp theo thời gian; những người quản lý thuế có khuynh hướng làm tăng sự
phức tạp; và tình trạng tham nhũng tràn lan.
17
Việt Nam có thể học hỏi từ Indonesia trong việc đặt mục tiêu rõ ràng cho cải cách thuế bất
động sản; đồng thời rút kinh nghiệm từ Indonesia, ưu đãi thuế bất động sản không hẳn là
một phương án tốt để thu hút và thúc đẩy đầu tư vào các khu vực có điều kiện kinh tế khó
khăn mà trái lại còn làm giảm nguồn thu quan trọng của địa phương.
3.2.2 Nguyên tắc cải cách
Chú trọng đến tính đơn giản, phạm vi thu thuế và độ nổi nên Chilê đã phát triển được hệ
thống thuế bất động sản bền vững, công bằng và hiệu quả nhất trong số bốn trường hợp.
Bốn nguyên tắc cơ bản của Chile là:
(i) Thu thập dữ liệu có tính chọn lọc cả về lượng thông tin đối với mỗi bất động sản và
số lượng bất động sản khi tiến hành các hoạt động cập nhật định kỳ.
(ii) Lập bản đồ chính xác là yêu cầu tối thiểu cho mục đích đánh thuế.
(iii) Không định giá riêng lẻ, các nhà quản lý thuế dựa vào đánh giá đồng loạt trên máy
tính, gồm cả việc gắn giá trị của bất động sản theo chỉ số của giá tiêu dùng.
(iv) Hầu hết các chức năng hành thu được tự động hóa, phụ thuộc nhiều vào hệ thống
ngân hàng để thực hiện các chức năng thủ quỹ và kế toán.
18 Tham khảo Rosengard (1998), Chương VI.
23 Tại Chilê, tính bền vững được nâng cao khi xây dựng một nhóm chuyên xử lý vướng mắc,
nhóm này thường xuyên đến thăm các văn phòng thu thuế. Các chuyến đi như vậy nhằm
hai chức năng: cải thiện sự hiểu biết và chấp hành của địa phương đối với các chính sách
thuế của trung ương, và tạo ra một kênh để nắm được những vấn đề của những cấp trực
tiếp, từ đó có tác động đến việc định hình các chính sách trong tương lai.
19
Thuế suất và tỉ lệ bất động sản chịu thuế thống nhất của Indonesia làm giảm cơ hội quản lý
thuế một cách tùy tiện, việc miễn thuế đối với các công trình xây dựng có giá trị thấp làm
Thứ hai, các nguyên tắc cơ bản của cải cách thuế bất động sản là hiệu quả quản lý và phân
bổ, công bằng theo chiều dọc và chiều ngang, và tính bền vững của hệ thống;
Thứ ba, giảm thiểu chi phí và tối đa hóa tuổi thọ cải cách bằng cách tăng phạm vi thu thuế,
tăng độ nổi, và chú trọng tính đơn giản;
Thứ tư, cần cải thiện các chính sách thuế và hệ thống quản lý hiện hữu theo hướng hiệu
quả, hợp nhất và theo giai đoạn;
Thứ năm, cải cách thuế bất động sản không thể thành công mà không sử dụng các biện
pháp khuyến khích cần thiết dành cho tổ chức và cá nhân để kích thích sự thay đổi căn bản
về hành vi của người nộp thuế, của các nhà hoạch định chính sách, và của quan chức địa
phương;
Thứ sáu, cần chú ý dành nguồn lực đáng kể cho các chiến dịch thông tin tuyên truyền rộng
khắp nhắm vào cả cộng đồng nộp thuế và được miễn thuế, các quan chức cao cấp, các quan
chức được bầu và được chỉ định, các công chức của các ban ngành.