PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội hoá công tác giáo dục được coi như một phương châm, một phương
thức, cách làm giáo dục. Hàng loạt các công trình khoa học, các báo cáo tham
luận, tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn đã giúp mọi người có cách nhìn đúng
đắn hơn về công tác xã hội hoá giáo dục
Song trong hoạt động thực tiễn còn có nhiều quan điểm đánh giá việc thực
hiện công tác xã hội hoá công tác giáo dục khác nhau, thậm trí trái ngược nhau.
Chính vì vậy, một trong những đòi hỏi bức xúc của các nhà quản lý giáo dục là
cần có những tiêu trí cơ bản trong việc đánh giá công tác này để đối chiếu, so
sánh và quan trọng hơn là định hướng đúng vào hoạt động thực tiễn. Xã hội hoá
giáo dục mầm non là một bộ phận của xã hội hoá công tác giáo dục, được vận
dụng vào đặc thù của giáo dục mầm non. Xã hội hoá giáo dục phải xuất phát từ
nhiệm vụ, mục tiêu của giáo dục mầm non, vai trò của giáo dục đối với sự phát
triển kinh tế- xã hội và ngược lại từ phía xã hội đối với phát triển giáo dục mầm
non
Từ vị trí và đối tượng của mình, giáo dục mầm non có số lượng học sinh
ngoài công lập đông nhất và đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển các
bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, trên thực tế giáo dục
mầm non vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Hiện nay giáo dục mầm non đang đứng
trước những thử thách lớn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển giáo dục
mầm non và ngân sách đầu tư của nhà nước cho giáo dục mầm non còn hạn chế.
Kinh phí đầu tư của nhà nước mới có thể cho 1/3 số nhà trẻ,mẫu giáo hiện có, mà
tổng số trẻ ra lớp mới chỉ chiếm 70% số trẻ trong độ tuổi mầm non. Đó là chưa kể
số đầu tư chỉ là tối thiểu và để tập trung chính là để chi lương cơ bản cho giáo
viên. Dù vậy mặt bằng lương của giáo viên mầm non vẫn ở mức quá thấp,
nhưng trách nhiệm, thời gian, công sức lại quá nặng nề.Mặt khác, đó cũng là mâu
thuẫn giữa một mặt là yêu cầu của phổ cập giáo dục tiểu học đòi hỏi phát triển với
quy mô rộng lớn của lớp mẫu giáo 5 tuổi, đảm bảo cho 100% trẻ 5 tuổi được
chuẩn bị vào tiểu học với một mặt là không có đủ điều kiện để phát triển, mà khó
khăn trước hết là đội ngũ giáo viên và cơ sở, vật chất.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1.Khách thể nghiên cứu
Trường mầm non Hoa Sen,Thành Phố Lào Cai, Tỉnh Lào cai
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội hoá giáo dục ở trường mầm non Hoa Sen
4.Nhiệm vụ nghiên cứu
Việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường chưa đạt kết quả
cao, do công tác tuyên truyền, vận động của đội ngũ giáo viên mới còn hạn chế, giáo
viên chưa sáng tạo, chưa linh hoạt, trình độ chuyên môn còn nhiều bất cập, cơ sở vật
chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, vui
chơi của trẻ.
Vì vậy việc nghiên cứu công tác xã hội hoá giáo dục giúp cho chúng ta những
kết luận để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
4.1. Nghiên cứu về quan điểm của Đảng, Nhà nước, và pháp luật có liên
quan đến công tác xã hội hoá giáo dục
4.2. Tìm hiểu thực trạng của nhà trường và những giải pháp khi chỉ đạo
công tác xã hội hoá giáo dục
4.3. Một số giải pháp trong công tác xã hội hoá giáo dục của trường đã và
đang thực hiện, những đề xuất, kiến nghị của nhà trường đối với các cấp, các
ngành có liên quan
2
Xã hội hoá giáo dục được tiến hành trong nhiều lĩnh vực hoạt động. Song
tôi chỉ dừng lại ở lĩnh vực công tác xã hội hoá giáo dục tại trường mầm non Hoa Sen
và nơi địa bàn tôi công tác. Để từ đó đưa ra những biện pháp tốt nhất cho công tác
này
5. Các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích, khái quát, hệ thống hoá các tài liệu có liên quan đến đề tài
5.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1.Phương pháp quan sát
đoạn đầu tiên chiếm vị trí quan trọng trong quá trình phát triển của một đời người.
Giai đoạn đánh dấu sự phát triển từ một cá thể với những tư chất tự nhiên, năng
lực tiềm năng được phát triển trở thành con người và đặt nền tảng ban đầu của
con người có nhân cách. ở giai đoạn này, nếu trẻ em mới sinh ra không có quá
trình xã hội hoá, không có môi trường giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội
thì trẻ em không thể phát triển thành con người có nhân cách.
Như vậy có thể nói quá trình giáo dục và phát triển trẻ em ở lứa tuổi mầm
non là quá trình giáo dục mang đậm bản chất xã hội, mang tính tự nguyện, là giai
4
đoạn đầu tiên và cũng là một bộ phận quan trọng của quá trình xã hội hoá cá nhân
trong quá trình phát triển đời người.
2.Quan điểm của Đảng và nhà nước
Xã hội hoá giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các
tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của
nhà nước.
Quan niệm này được thể chế hoá ở điều 11 của luật giáo dục về “ Xã hội
hoá sự nghiệp giáo dục” và ở đó đã xác định rõ vai trò chủ đạo của nhà nước, vai
trò tham gia của xã hội, vai trò chủ động của giáo dục, nhà trường.Sự kết hợp “ 3
yếu tố: Nhà nước – Xã hội – Giáo dục” tạo nên tác động tổng hợp cho sự phát
triển giáo dục bền vững, cho việc giải quyết các mâu thuẫn của giáo dục:
Giáo dục mầm non là bậc học hình thành xã hội hoá đa dạng, giáo dục mầm
non trong chủ trương chung của giáo dục đào tạo.Mục tiêu của giáo dục đến năm
2010 là thực hiện tốt công tác chăm sóc, giáo dục trẻ từ o- 6 tuổi “ Phát triển toàn
diện về thể lực, tình cảm, trí tuệ và hình thành nhân cách cho trẻ” Trên cơ sở xây
dựng một đội ngũ giáo viên giỏi chuyên môn cũng như kỹ năng tư vấn tại gia
đình để phát triển các loại hình giáo dục mầm non đa dạng và phong phú. Tương
ứng là một hệ thống cơ sở vật chất phù hợp hướng tới công bằng cho trẻ từ những
vùng khó khăn đến thuận lợi, từ miền đồng bằng đến miềm núi đều được hưởng
môi trường giáo dục như nhau. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải khai thác mọi
nguồn lực của cộng đồng, của các tổ chức kinh tế tham gia vào môi trường giáo
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ
vào học lớp một.
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nó có tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và đào tạo thế hệ trẻ,vì
giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu dặt nền móng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách trẻ em.Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng nhân
cách của con người được hình thành tương đối đầy đủ trong 5 năm đầu tiên của
cuộc đời.
4.2. Xã hội hoá công tác giáo dục mầm non
Xã hội hoá công tác giáo dục mầm non là một bộ phận của xã hội hoá công
tác giáo dục nói chung. Vì vậy cần có sự nhìn nhận xem xét vấn đề xã hội hoá
công tác giáo dục mầm non trong mối quan hệ khăng khít, gắn bó của xã hội hoá
công tác giáo dục và những đặc thù của giáo dục mầm non.
Xã hội hoá công tác giáo dục mầm non có nghĩa là: Huy động mọi nguồn lực
xã hội cùng làm giáo dục mầm non, dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước.
Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các trường lớp mầm
non, gia đình trẻ và cộng đồng tạo điều kiện để cộng đồng và gia đình tham gia
vào các hoạt động giáo dục mầm non. Giáo dục mầm non phải đáp ứng được nhu
cầu của xã hội, cộng đồng.Có thực hiện xã hội hoá giáo dục mầm non chúng ta
mới thực hiện được mục tiêu trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài đến năm 2020:
“ Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non cho hầu hết trẻ em trong
độ tuổi. Phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình.”
5.Vai trò của công tác xã hội hoá giáo dục đối với trường mầm non
Như chúng ta đã biết công tác xã hội hoá giáo dục có vai trò vô cùng quan
trọng trong công tác chăm sóc- giáo dục và phát triển trẻ em ở lứa tuổi mầm non,
tạo điều kiện cho mọi thành viên trong gia đình và xã hội yên tâm công tác, lao
động sản xuất. Đồng thời tạo điều kiện thực hiện quyền bình đẳng trong giáo dục.
Dân chủ hoá giáo dục mầm non nhằm thực hiện tốt nhất, có hiệu nhất trong
điều luật giáo dục quy định theo phương châm “ Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra” trong các hoạt động nhà trường. Như vậy nó xoá bỏ được tính
đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ mà còn bảo đảm tính đồng bộ giữa nhà
trường, gia đình và các cơ quan hữu trách, hình thành những chương trình tích
hợp chăm sóc và giáo dục trẻ đảm bảo hiệu quả tối ưu của các biện pháp can
thiệp.
Đa dạng hoá giáo dục mầm non về nội dung, chương trình chăm sóc, giáo
dục trẻ, về hình thức trường, lớp mầm non và các hình thức đầu tư. Đa dạng hoá
các loại hình trường lớp mầm non dựa trên mục tiêu đào tạo,nội dung giáo dục
thống nhất dưới sự quản lý Nhà nước của bộ giáo dục đào tạo. Đa dạng hoá các
loại hình trưòng lớp mầm non góp phần quan trọng vào tiến trình đổi mới giáo
dục- đào tạo theo hướng nâng cao khả năng thích ứng của hệ thống giáo dục- đào
tạo đối với nhu cầu chăm sóc giáo dục trẻ của nhân dân trong nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đa dạng hoá góp phần mở rộng cơ hội cho số đông trẻ được hưởng dịch vụ
chăm sóc giáo dục trẻ với những loại hình thích hợp với từng đối tượng, từng khu
7
vực, địa phương đa dạng hoá góp phần tăng thêm nguồn lực cho phát triển giáo
dục - đào tạo; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc- giáo dục trẻ,do
sự cạnh tranh giữa các loại hình trường trong quá trình phát triển.Vì vậy, một
trong những đặc điểm của giáo dục mầm non là có nhiều loại hình, nhiều chương
trình, mang tính xã hội cao.Đa dạng hoá được thể hiện ở những nội dung:
Đa dạng hoá về nội dung, chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ.
Đa dạng hoá các hình thức trường, lớp mầm non.
Đa dạng hoá các hình thức đầu tư cho giáo dục mầm non.
Tóm lại
Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương lớn, một tư tưởng chiến lược, một con
đường để phát triển giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục mầm non là một bộ phận của xã hội hoá giáo dục. Việc vận
dụng vào giáo dục mầm non đã tạo ra những nét mới trong phương thức phát triển
thể hiện trong bức tranh sinh động về thực tiễn mà chúng ta phải đẩy mạnh công
tác này hơn nữa để góp phần phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá,
ăn, lấy tiền rau hỗ trợ vào bữa ăn phụ cho trẻ, cho những cháu suy dinh dưỡng với mức
ăn 1.000đ / 1 cháu mặt khác nhà trường phối hợp với trung tâm y tế khám chữa bệnh
định kỳ cho trẻ, cho trẻ uống vác – xin theo quy định, thường xuyên trao đổi với các bậc
phụ huynh về tình trạng sức khoẻ của trẻ để các bậc phụ huynh bồi dưỡng thêm cho trẻ
ở gia đình.
Kế hoạch được triển khai tốt nên cuối năm không còn trẻ nào bị suy dinh dưỡng.
1.1.3.Kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ giáo viên
Xuất phát từ nhận thức muốn nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, thước
tiên phải trang bị kiến thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên, trường tích cực tham mưu với
các cấp tạo điều kiện cho cán bộ quản lý, giáo viên đi học chuẩn và trên chuẩn, các
nhân viên nấu ăn cũng được đi học bồi dưỡng chuyên môn thời gian 1 tháng.
Ngoài kế hoạch cho giáo viên đi học tập trung nhà trường còn có kế hoạch bồi
dưỡng tại chỗ thông qua các hội thảo chuyên đề, xây dựng các tiết mẫu. Để bồi dưỡng
có hiệu quả trường đã phân loại giáo viên dựa trên kết quả đạt được của những năm học
trước, để có biện pháp bồi dưỡng cho phù hợp với khả năng, năng lực của từng đồng
chí.
1.2. Công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền là vấn đề quan trọng trong nhà trường để tuyên truyền được
trước hết là chiếm được lòng tin của các cấp lãnh đạo. Động viên đội ngũ giáo viên
thống nhất xây dựng , kế hoạch hoá giáo dục của nhà trường . Lựa chọn tình hình đặc
điểm của từng bộ phận dân phố, phối kết hợp chặt chẽ tích cực của hội phụ huynh, dựa
vào các hội trưởng của các Ban , Ngành để tuyên truyền vận động , tham dự các buổi
hội họp , hội nghị của các cấp các ngành để tuyên truyền về công tác chăm sóc giáo dục
Mầm non là vấn đề quan trọng không thể thiếu.
Về phía nhà trường: Cán bộ giáo viên nhân viên cần cố gắng tích cực có sự thống
nhất cao, tâm huyết với nghề, cần phải nâng cao tay nghề làm tốt công tác chăm sóc
giáo dục trẻ. Thường xuyên trao đổi các thông tin , tuyên truyền vận động phụ huynh
tạo điều kiện để việc thực hiện chăm sóc dạy dỗ các cháu đạt hiệu quả cao. Cần phát
huy tinh thần trách nhiệm của cô giáo đối với các cháu, quan tâm gần gũi thương yêu
các cháu như con của mình để phụ huynh thấy được và yên tâm công tác.
công khai trước phụ huynh để mọi người thấy được chất lượng của nhà trường trong
việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Tổ chức tốt các hội thi của cô và của trẻ, tham gia các hoạt động văn hoá văn nghệ,
thể dục thể thao do ngành và địa phương phát động
1.4. Tăng cường nâng cao nhận thức nâng cao nhận thức cho các cấp đảng uỷ
chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và nhân dân trong phường về vai trò vị
trí của giáo dục mầm non với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và
của địa phương nói riêng
Tuyên truyền bằng thông tin đại chúng, nhà trường tổ chức viết bài tuyên truyền về
xây dựng cảnh quan trường mầm non, về chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường. Liên
hệ với UBND Thành phố, UBND phường nhờ sự giúp đỡ dành riêng thời gian truyền
thanh chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non trong phường 1 tuần 1 lần.
Tuyên truyền bằng băng zôn, khẩu hiệu kết hợp với đoàn thanh niên, phụ nữ của
phường, tuyên truyền ở khu dân cư, nội dung tuyên truyền giúp nhân dân hiểu được tầm
quan trọng của việc đưa trẻ mầm non ra lớp và sự cần thiết đóng góp xây dựng cơ sở vật
chất, cùng chăm lo cho giáo dục mầm non, tổ chức tốt các ngày lễ ngày hội cho trẻ.
Đưa nội dung xã hội hoá giáo dục vào các nghị quyết hội họp của HĐND của
Đảng, các ban ngành đoàn thể trong phường.
10
Tuyên truyền qua các hội thi của cô và trẻ. Tổ chức hội thi của trẻ thật tốt chu đáo
tạo lòng tin cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, phòng giáo dục và hội phụ
huynh học sinh.
Tổ chức các cuộc thi của cô giáo và cha mẹ trẻ tham gia có tính tuyên truyền rất
cao như các hội thi( tuyên truyền viên giỏi, cô nuôi giỏi, làm đồ dùng đồ chơi, gia đình
Bé thông minh nhanh trí). Qua hội thi các lãnh đạo các ban ngành các tổ chức đoàn thể
trong và ngoài nhà trường phụ huynh nhân dân tham dự công nhận, thấy được những
vấn đề cần thiết trong giáo dục mầm non như việc chăm sóc nuôi dưỡng ở nhà trường
đòi hỏi tài năng của giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, khuôn viên trường lớp cho trẻ
học, chơi đòi hỏi có sự tham gia của cộng đồng. Hiểu rõ được 3 môi trường giáo dục
“Nhà trường – gia dình – xã hội” sự cần thiết để trẻ em trong độ tuổi mầm non của
11
Có tính chất tự nguyện vì vậy nếu làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục tức là biến
sự nghiệp giáo dục thành sự nghiệp chung cho mọi người, mọi tổ chức trong xã hội
công tác xã hội hoá giáo dục trong trường mầm non được coi như một biện pháp một
phương thức một cách làm giáo dục. Đã có nhiều công trình khoa học, báo cáo tham
luận và thực tiễn để giúp mọi người có cách nhìn đúng đắn hơn về công tác xã hội hoá
giáo dục.
Giáo dục mầm non nói chung và giáo dục mầm non của trường Hoa Sen chúng tôi
nói riêng đang đứng trước thử thách lớn đó là mâu thuẫn giữa các nhu cầu phát triển
giáo dục mầm non với ngân sách đầu tư cho giáo dục mầm non. Ngân sách đầu tư cho
giáo dục mầm non quá hạn hẹp. Cho nên muốn giáo dục mầm non được củng cố và phát
triển thì cần phải đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục để huy động được nhiều nguồn
lực dầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi để nâng cao chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ và đời sống của cấn bộ giáo viên.
* Muốn các hoạt động xã hội hoá giáo dục đạt kết quả cần kế hoạch hoá lập kế
hoạch phải có căn cứ khoa học, phù hợp với hoàn cảnh điều kiện và tính đặc thù của địa
phương, kế hoạch đó phải là 1 bộ phận hữu cơ trong chương trình hành động của năm
học.
Để xã hội hoá giáo dục diễn ra đúng mục đích phát huy được tác dụng cần chú ý
đến việc tuyên truyền chủ trương xã hội hoá giáo dục một cách cụ thể rộng rãi làm sao
cho mọi tầng lớp nhân dân nhận thức được xã hội hoá giáo dục vừa là quyền lợi vừa là
nghĩa vụ của mọi người.
Nhà trường, lãnh đạo địa phương cần kịp thời cụ thể háo các chủ trương, đường lối
về xã hội hoá giáo dục của Đảng và nhà nước, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai
cụ thể các nội dung xã hội hoá giáo dục ở địa phương mình. Phải biết tận dụng vai trò
của hội đồng giáo dục địa phương, góp phần biến các nghị quyết của đại hội giáo dục
thành hành động thực tế.
Có cơ chế hợp lý trong việc huy động xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng hoá nguồn
đầu tư cho giáo dục. Trên cơ sở chú trọng đến chất lượng, hiệu quả giáo dục, đảm bảo
được nguyên tắc lợi ích, chỉ như vậy xã hội hoá giáo dục mới đi vào cuộc sống.
Kết hợp với đoàn thanh niên tổ chức các ngày hội ngày lễ cho các cháu.
Kết hợp với phụ huynh trong việc nuôi dạy con theo khoa học, phòng chống suy
dinh dưỡng, cách sử lý 1 số bệnh thường gặp ở trẻ, phòng chống sốt xuất huyết.
Nhà trường có góp thông tin tuyên truyền chung, chú ý đến trọng tâm của các
chuyên đề trong tháng như: Lễ giáo, giáo dục môi trường, giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh
an toàn thực phẩm, giáo dục ATGT, vệ sinh môi trường. Nâng cao chất lượng cho trẻ
làm quen với văn học – chữ viết bằng nhiểu tranh ảnh đẹp và phong phú.
Kết hợp với ngành giáo dục
Đối với ngành giáo dục là cơ quan chủ quản của ta cũng ví như “ Một nhà nhiều
con”. Vì thế để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác và cũng biết tạo thời cơ kết hợp
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Nhà trường phải làm tốt công tác
tham mưu và có kế hoạch đề xuất hợp lý để được phê duyệt. Để tiếp tục chuẩn bị
trường đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2 , nhà tường đã làm tờ trình lên
phòng giáo dục, Thành phố xin xây dựng thêm phòng chức năng vi tính.
1.7. Quan tâm chăm lo đời sống cho cán bộ giáo viên
Ban giám hiệu nhà trường đã kết hợp với các đoàn thể xây dựng kế hoạch, chỉ đạo
cán bộ giaó viên nhân viên chấp hành tốt mọi nội quy, quy chế của nhà trường. Nhà
trường thhực hiện chi trả đúng và kịp thời mọi chế độ chính sách cho cán bộ công nhân
viên. Vận động cán bộ giáo viên nhân viên đảm bảo ngày giờ công có hiệu quả.
Xây dựng các loại quỹ hoạt động như: Quỹ tình thương để thường xuyên thăm hỏi
chị em có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau, hoặc rủi ro. Xây dựng quỹ tài năng để hàng
năm mua phần thưởng cho con em cán bộ nhân viên trong nhà trường đạt học sinh giỏi
học sinh xuất sắc.
13
Hàng năm nhà trường tổ chức thăm hỏi động viên các gia đình chính sách, hỗ trợ
công cho các đồng nghiệp ốm đau Kết hợp với các đoàn thể tổ chức tốt các ngày hội
ngày lễ cho cô và trẻ.
Tổ chức khen thưởng kịp thời cho cán bộ giáo viên nhân viên có thành tích xuất
sắc trong năm.
2.Kết quả đạt được trong năm học 2009-2010
Đã thực hiện những công việc sau
- Tu sửa lại lớp học, mua sắm trang thiết bị dạy và học.Làm bảng biểu….
- Mua chiếu, bàn ghế, làm bảng biểu của toàn trường
- Sửa chữa công trình vệ sinh, hệ thống mái che, bệ để thực phẩm khu chế biến thực
phẩm, ốp tường khu chia ăn sửa nhà vệ sinh chống thấm 4 lớp…
14
- Sửa bếp ga phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dưỡng….
- Trả lương cho 18 giáo viên, nhân viên hợp đồng.
+ Tuyên truyền được 2 lần trên đài phát thanh phường về nội dung các hoạt động giáo
dục của nhà trường.
+Đảng uỷ, Chính quyền địa phương và các ban ngành ủng hộ nhà trường trong mọi
hoạt động
PHẦN C
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I.Kết luận
Qua nghiên cứu đề tài một số giải pháp về công tác huy động xã hội hoá giáo
dục ở trường MN Hoa Sen , TP Lào Cai , Tỉnh lào Cai tôi rút ra một số kết luận
sau:
Muốn giáo dục mầm non ngày càng phát triển trong các nhà trường thì
không thể tách rời công tác xã hội hoá giáo dục. Công tác xã hội hoá giáo dục là
điều kiện cần thiết để nâng cao nhận thức cho toàn thể quần chúng, nhân dân và
cộng đồng thấu hiểu được vai trò và tầm quan trọng của ngành học mầm non.
Công tác xã hội hoá giáo dục không chỉ thực tại mà còn là định hướng lâu dài
kiên trì, bền bỉ trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xã hội
hoá giáo dục là phải biết tranh thủ sự quan tâm của các cấp, các ngành trong cộng
đồng xã hội, các tổ chức kinh tế trong địa bàn.
Để có mối quan hệ tốt tạo nguồn lực về kinh tế vật chất, tinh thần trước hết
phải phát huy nội lực trong nhà trường bằng cách nâng cao chất lượng, nhiệt tình
trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ để tạo niềm tin vững chắc trong nhân dân
và hơn thế nữa người quả lý phải năng động sáng tạo, tự tin nhiệt tình. Bên cạnh
T/M nhà trường
( Ký tên đóng dấu)
16
PGD & ĐT THÀNH PHỐ LÀO CAI
TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA SEN
Họ và tên: Trần Thị Sáu
17
18