MỤC LỤC
PHẦN I. CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA BÀN THỰC ĐỊA 4
I. Thông tin chung 4
1. Thành phố Hà Nội 4
2. Khoa Sức khỏe cộng đồng – Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội 4
2. Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm 5
2.1. Phòng Hành chính-Tổng hợp 5
2.2. Phòng Công bố chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm 5
2.3. Phòng Thanh Tra 5
2.4. Phòng Thông tin truyền thông và quản lý ngộ độc thực phẩm 6
3. Xã Tứ Hiệp 6
4. Trạm y tế xã Tứ Hiệp 6
II. Các thông tin liên quan đến dinh dưỡng – ATVSTP đang triển khai 6
1. Tuyến tỉnh/thành phố 6
1.1. Các chương trình liên quan đến dinh dưỡng 6
1.2. Các chương trình liên quan đến ATVSTP 7
2. Tuyến xã 7
2.1. Các chương trình liên quan đến dinh dưỡng 7
2.2. Các chương trình liên quan đến ATVSTP 8
PHẦN 2. THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHUYÊN MÔN 9
A. Tuyến tỉnh/thành phố 9
I. Các hoạt động tại Khoa Sức khỏe cộng đồng – TTYTDP Hà Nội 9
1. Tìm hiểu hoạt động điều tra giám sát dinh dưỡng tại 60 cụm xã/phường trên địa
bàn Hà Nội 9
2. Sử dụng một bộ số liệu sẵn có để phân tích số liệu theo mục tiêu của chương
trình/dự án 9
2.1. Phương pháp thực hiện 9
II. Các hoạt động tại Chi cục ATVSTP 11
1. Tìm hiểu các văn bản pháp luật, thông tư nghị định liên quan tới ATTP 11
2.Tìm hiểu báo cáo tổng kết công tác chỉ đạo quản lý ATVSTP năm 2013; kế hoạch
về ATTP năm 2014 11
1.2. Kết quả quan sát VSATTP tại chợ Tứ Hiệp 18
2. Tìm hiểu quy trình của buổi kiểm tra ATTP của xã 19
3. Sử dụng test xét nghiệm nhanh kiểm tra 20
3.1. Phương pháp thực hiện 20
3.2. Kết quả 20
3.3. Khó khăn, thuận lợi, hướng khắc phục, bài học kinh nghiệm 20
4. Đánh giá điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn hộ gia đình và tư vấn
thực hành VSATTP tại bếp ăn hộ gia đình 21
4.1. Đánh giá điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn hộ gia đình 21
4.2. Tư vấn thực hành VSATTP tại bếp ăn hộ gia đình 21
4.3. Thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm 22
C. Tham gia các hoạt động khác tại địa phương 22
I. Tuyến tỉnh/thành phố 22
1. Kiểm tra vệ sinh học đường 22
2. Tập huấn tay chân miệng 23
3. Tập huấn làng văn hóa sức khỏe 23
4. Điều tra khảo sát rượu làng nghề 24
II. Tuyến xã 24
1. Chiến dịch uống vitamin A và uống thuốc tẩy giun 24
2. Tiêm chủng mở rộng 25
3. Chuẩn bị cho công tác thanh tra của Sở Y tế 25
4. Các hoạt động khác 25
Phụ lục. Hướng dẫn các thủ tục cấp phép đối với 3 loại giấy phép 28
Phụ lục: Kết quả điều tra khẩu phần ăn của 6 hộ gia đình. 32
Phụ lục: Nội dung tư vấn dinh dưỡng 32
A: HƯỚNG DẪN TƯ VẤN DINH DƯỠNG CHO BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP
32
C. HƯỚNG DẪN TƯ VẤN DINH DƯỠNG CHO THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở NGƯỜI
LỚN 36
PHẦN I. CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA BÀN THỰC ĐỊA
động về sức khoẻ cộng đồng; giám sát chất lượng vệ sinh và hướng dẫn sử dụng, bảo
quản các công trình vệ sinh; thực hiện kiểm tra, theo dõi và đôn đốc việc thực hiện các
biện pháp bảo vệ và xử lý các nguồn nước ăn uống và sinh hoạt; hướng dẫn, kiểm tra
công tác y tế học đường; triển khai thực hiện hoạt động phòng chống các bệnh, tật học
đường, các hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khoẻ đối với học sinh, sinh viên; phối
hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quy định hiện hành
về y tế đối với môi trường, chất thải, nước tại các khu vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt trên địa bàn tỉnh; làm đầu mối tổ chức triển khai các hoạt động xây dựng phong
trào làng văn hoá sức khoẻ; tổ chức triển khai thực hiện các chương trình dự án liên quan
đến sức khoẻ môi trường và sức khoẻ trường học.
2. Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) thành phố Hà Nội là tổ chức trực
thuộc Sở Y tế Hà Nội, giúp Giám đốc Sở Y tế tham mưu cho UBND cấp thành phố thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về VSATTP; thực hiện các hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ về VSATTP, thực hiện thanh tra chuyên ngành về VSATTP trên địa bàn thành
phố theo quy định của pháp luật. Chi cục chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và
hoạt động của Sở Y tế, đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Cục
An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Bộ Y tế. Chi cục có tư cách pháp nhân, có trụ sở,
con dấu và tài khoản riêng tại kho bạc nhà nước.
Trong thời gian ba tuần tại chi cục, nhóm sinh viên đã được thực tập tại 4 phòng
của Chi cục, bao gồm: phòng Hành chính – tổng hợp, phòng Đăng ký và chứng nhận sản
phẩm, phòng Thanh tra, phòng Thông tin – truyền thông và quản lý ngộ độc.
2.1. Phòng Hành chính-Tổng hợp
Tại phòng Hành chính – Tổng hợp hiện có hơn 10 nhân viên. Phòng có chức năng,
nhiệm vụ:
- Tham mưu, tổng hợp, giúp Chi cục Trưởng xây dựng kế hoạch hoạt động, xây
dựng lịch công tác tuần, chương trình công tác tháng, quý, năm; theo dõi đôn đốc các
Phòng chuyên môn trong việc thực hiện lịch công tác tuần và các chương trình công tác
của Chi cục. Tổng hợp các thông tin, lập báo cáo định kỳ và đột xuất theo chế độ thông
tin, báo cáo;
- Tổ chức chỉ đạo, thực hiện giám sát ngộ độc thực phẩm và báo cáo tình hình ngộ
đọc thự phẩm theo quy định.
3. Xã Tứ Hiệp
Xã Tứ Hiệp nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, trung tâm của huyện Thanh Trì
tiếp giáp với đê sông Hồng và đường quốc lộ 1A.
Xã có 5 thôn, 3 khu tập thể có 1 thôn đồng bào theo đạo thiên chúa, với tổng dân
số toàn xã 12.659 nhân khẩu, thu nhập bình quân theo đầu người 1.500.000đ đời sống
nhân dân chủ yếu là thương mại dịch vụ và nông nghiệp.
Về giáo dục, tại xã có 2 trường mầm non, 1 trường tiểu học và 1 trường trung học
cơ sở. Về y tế, trên địa bàn xã, các hoạt động khám chữa bệnh, triển khai các chương
trình mục tiêu quốc gia và các hoạt động y tế tốt được thực hiện đầy đủ. Theo báo cáo
tổng kết của trạm y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng năm 2012 là 9,2% trong
tổng số 1089 cháu trên toàn xã. Công tác ATVSTP được triển khai có hiệu quả, cụ thể là
trên địa bàn xã không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.
4. Trạm y tế xã Tứ Hiệp
Trạm y tế xã nằm tại thôn Cương Ngô với diện tích 1950 m
2
, gồm 14 phòng chức
năng. Trạm đạt chuẩn Quốc gia về y tế năm 2006. Cơ sở vật chất và trang thiết bị của
trạm đầy đủ và sạch đẹp. Nhân lực của trạm gồm có 08 đồng chí, trong đó có 01 cử nhân
y tế công cộng (trạm trưởng), 03 điều dưỡng, 01 y sỹ y học dân tộc, 01 nữ hộ sinh, 01 y
tra trung học, 01 y sỹ đa khoa.
Hoạt động chủ yếu của TYT bao gồm khám chữa bệnh thông thường (bao gồm cả
khám bảo hiểm và không bảo hiểm), sơ cấp cứu ban đầu, quản lý thai nghén, phòng
chống dịch bệnh và triển khai các chương trình y tế quốc gia.
II. Các thông tin liên quan đến dinh dưỡng – ATVSTP đang triển khai
1. Tuyến tỉnh/thành phố
1.1. Các chương trình liên quan đến dinh dưỡng
Khoa Sức khỏe cộng đồng thực hiện một số hoạt động liên quan đến dinh dưỡng,
bao gồm:
tượng trong diện ưu tiên gồm trẻ dưới 2 tuổi bị SDD, PNMT tăng cân thấp. Ngoài ra còn
triển khai chăm sóc trẻ sơ sinh tại cơ sở y tế và tại nhà sau sinh, xử lý những cấp cứu
thông thường, chẩn đoán và điều trị đúng phác đồ cho trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy, nhiễm
khuẩn hô hấp cấp, tránh lạm dụng thuốc cho trẻ.
Chương trình phòng chống SDD cho trẻ dưới 5 tuổi triển khai được các hoạt động
theo đúng kế hoạch và đạt hiệu quả tương đối cao. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi
tính đến 1/6/2013 ở mức thấp (thể nhẹ cân là 8,83%, thể thấp còi là 12,45%). Chương
trình phòng chống SDD đã được triển khai nhiều năm trên địa bàn xã và có nhiều thuận
lợi là nhận được sự quan tâm của các ban ngành trong xã và TTYT, sự ủng hộ nhiệt tình
của người dân. Tuy nhiên, chương trình còn một số hạn chế do kĩ năng thực hành tư vấn
của cộng tác viên (CTV) chưa tốt, chưa có thù lao hỗ trợ cho các CTV, còn một bộ phận
nhỏ người dân chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc chăm sóc trẻ đúng cách và
hợp lý.
Chương trình phòng chống thiếu vi chất:
- Chương trình phòng chống rối loạn do thiếu hụt i ốt: Năm 2013, TYT đã tổ chức
tuyên truyền giáo dục về phòng chống thiếu I ốt cho các hộ gia đình., kết hợp với giám
sát 8 cửa hàng bán muối và 32 hộ gia đình trong xã, tổ chức được 3 buổi tuyên truyền cho
học sinh trường học về phòng chống rối loạn do thiếu hụt i ốt. Kết quả đạt được là đảm
bảo độ bao phủ của I ốt đạt > 90%.
- Chương trình uống vitamin A và uống thuốc tẩy giun: Để đạt kết quả cao trong
công tác phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, TYT xã Tứ Hiệp đã tích cực phối hợp
với các ban ngành tổ chức truyền thông giáo dục cho mọi người về phòng chống thiếu vi
chất qua các phương tiêntruyền thông như loa đài, treo khẩu hiệu tại các điểm uống
vitamin A, tổ chứctâp huấn chuyên môn kỹ thuật cho CTV, y tế thôn bản, hội phụ nữ, hội
chữ thập đỏ. Tổ chức cho uống Vitamin A cho tất cả trẻ từ 6-36 tháng tuổi và một số đối
tượng có nguy cơ cao như trẻ từ 37-60 tháng tuổi SDD, trẻ bị tiêu chảy kéo dài, viêm
đường hô hấp kéo dài, sởi, trẻ < 6 tuổi thiếu sữa mẹ. Ngoài ra, TYT còn tổ chức chiến
dịch tẩy giun cho trẻ đủ 24 - 60 tháng tuổi tính đến thời điểm diễn ra chiến dịch (trẻ từ
11/12/2008 đến 11/12/2011). Kết quả của chương trình này đã đạt được: 100% trẻ từ 6 –
36 tháng tuổi được uống vitamin A và 100% trẻ từ 24 – 60 tháng tuổi được tẩy giun định
phẩm trong sản xuất Nông, Lâm, Thủy sản xã Tứ Hiệp năm 2013”.
Nội dung của các hoạt động này được trình bày chi tiết trong phụ lục 2
PHẦN 2. THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU CHUYÊN MÔN
A. Tuyến tỉnh/thành phố
I. Các hoạt động tại Khoa Sức khỏe cộng đồng – TTYTDP Hà Nội
1. Tìm hiểu hoạt động điều tra giám sát dinh dưỡng tại 60 cụm xã/phường trên địa
bàn Hà Nội
Do thời điểm thực tập của nhóm không trùng với đợt điều tra giám sát dinh dưỡng
của Khoa Sức khỏe cộng đồng, nên nhóm đã chủ động tìm hiểu quy trình điều tra giám
sát dinh dưỡng tại 60 cụm xã/phường trên địa bàn Hà Nội. Các cán bộ của khoa đã trực
tiếp hướng dẫn nhóm về cách thức điều tra, những điểm cần lưu ý. Nhóm sử dụng tài liệu
hướng dẫn điều tra, giám sát dinh dưỡng tại 60 cụm xã/phường trên địa bàn Hà Nội để
hiểu được cách hỏi – ghi của bộ câu hỏi, sau đó tiến hành đóng vai là người điều tra –
người phỏng vấn và phỏng vấn thử bộ câu hỏi của cuộc điều tra. Các cán bộ của khoa đã
đưa ra những nhận xét về ưu, nhược điểm của từng người. Qua đó, nhóm đã rút ra được
những kinh nghiệm quý báu khi tiến hành hoạt động điều tra giám sát dinh dưỡng.
Ngoài việc tìm hiểu cách thức của hoạt động điều tra giám sát dinh dưỡng tại 60
cụm xã/phường trên địa bàn Hà Nội, nhóm còn xin Khoa bộ số liệu về cuộc điều tra này
để làm bài tập.
2. Sử dụng một bộ số liệu sẵn có để phân tích số liệu theo mục tiêu của chương
trình/dự án
2.1. Phương pháp thực hiện
Trong quá trình tham gia thực tập tại Khoa sức khỏe cộng đồng, nhóm đã sử dụng
bộ số liệu Điều tra giám sát dinh dưỡng tại 60 cụm xã/phường Hà Nội để thực hiện phân
tích số liệu. Kết quả, nhóm đã nhập và phân tích số liệu từ 629 phiếu điều tra của 12 cụm
xã/phường tại Hà Nội, với mục đích là đánh giá về tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ và
trẻ em dưới 5 tuổi tại 12 cụm, đánh giá thực hành dinh dưỡng và đánh giá về truyền
thông dinh dưỡng. Số liệu được nhập vào Epidata và sau đó được phân tích bằng SPSS
16.0.
2.2. Kết quả phân tích
lệ bà mẹ bị thiếu năng lượng trường diễn cao hơn so với phân tích tại 12 cụm, tương ứng
là 18% và 13,1%). Tuy nhiên, tỷ lệ béo phì trong phân tích 12 cụm lại cao hơn 0,3% so
với tổng điều tra, tương ứng là 8,5% và 8,2%.
c. Tỷ lệ bà mẹ được uống Vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh
Tỷ lệ bà mẹ được uống Vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh còn chưa cao
(50,6%), thấp hơn so với toàn quốc là 0,8%. Có tới 41,1% số bà mẹ được hỏi cho biết
không được uống Vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh, và có 8,3% số bà mẹ không
thống kê được.
d. Tỷ lệ trẻ từ 6 – 36 tháng tuổi được uống Vitamin A ngày Vi chất dinh dưỡng.
Tỷ lệ trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi được uống Vitamin A ngày Vi chất dinh dưỡng là
90.7%. Có 8.63% số trẻ không được uống Vitamin A trong ngày Vi chất dinh dưỡng và
0.67% số trẻ là không xác định được đã uống Vitamin A hay chưa.
e. Tỉ lệ trẻ 24 – 60 tháng tuổi được tẩy giun
Qua biểu đồ trên ta thấy, tỉ lệ trẻ từ 24 – 60 tháng tuổi được tẩy giun trong vòng 6
tháng qua chỉ có 36.62%. Có tới 62.53% số trẻ từ 24 – 60 tháng tuổi không được tẩy giun
và 0.85% số trẻ không xác định được đã tẩy giun hay chưa.
f.Đánh giá về truyền thông dinh dưỡng
Tỷ lệ đối tượng phỏng vấn biết đến ngày vi chất dinh dưỡng qua kênh thư mời là
cao nhất (66,1%), tiếp đó là qua các nhân viên y tế (56,8%) và TV/đài/báo (31,5%). Có
đến14,1% số người không biết/ không được báo về ngày uống vi chất dinh dưỡng. Vì
vậy, từ việc phân tích các số liệu trên, chúng ta có thể nâng cao tỷ lệ người biết về ngày
uống vi chất dinh dưỡng bằng cách tăng cường truyền thông qua các kênh hiệu quả và
chính thống như thư mời, nhân viên y tế và truyền thông đại chúng như TV, đài, báo.
II. Các hoạt động tại Chi cục ATVSTP
Chi cục ATVSTP có 4 phòng, nhóm gồm 6 thành viên chia làm 2 nhóm nhỏ và
luân phiên thực tập tại các phòng. Việc lập kế hoạch và viết báo cáo sẽ được thực hiện
theo nhóm nhỏ. Trong một tuần, nhóm lớn sẽ họp 2 lần để chia sẻ, rút kinh nghiệm và đề
nghị sự hỗ trợ cần thiết từ phía giảng viên hướng dẫn. Trong 3 tuần, nhóm đã thực hiện
được các chỉ tiêu chuyên môn sau:
1. Tìm hiểu các văn bản pháp luật, thông tư nghị định liên quan tới ATTP
đích của việc kiểm tra các loại giấy tờ trên là gì;cách kiểm tra, đối chứng các loại sổ sách;
và như thế nào là vi phạm. Nhóm cũng đã cùng cán bộ kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết
bị dụng cụ ở bếp ăn tập thể và cùng cán bộ đánh giá kết quả test nhanh tinh bột. Sau khi
tiến hành kiểm tra, nhóm được cán bộ hướng dẫn và ghi biên bản kiểm tra.
Qua quá trình kiểm tra, nhóm nhận thấy các cơ sở và các nhà thầu bếp ăn tập thể
của công ty đều cung cấp đủ các loại giấy tờ cần kiểm tra theo quy định. Điều kiện vệ
sinh cơ sở, trang thiết bị dụng cụ, thực hành vệ sinh ATTP của nhân viên và chế độ lưu
mẫu, bảo quản thực phẩm được thực hiện tốt. Kết quả thực hiện các test thử nhanh tinh
bột cho thấy, đa số khay đều đảm bảo vệ sinh. Tuy nhiên, vẫn có trường hợp sổ sách
không khớp với mẫu theo quy định mới được ban hành (ví dụ như sổ kiểm thực 3 bước).
Một số cơ sở kết quả test nhanh tinh bột cho kết quả dương tính. Với những trường hợp
vi phạm, các cán bộ Thanh tra đã chỉ ra lỗi và quy định xử phạt, đồng thời nhắc nhở phía
nhà thầu và công ty rút kinh nghiệm và có biện pháp xử lý kịp thời.
3.2. Kiểm tra ATTP tại các bếp ăn tập thể ở khách sạn Grand Plaza
Ngày 01/11/2013, để chuẩn bị cho hội nghị Tây Đông – Bắc Phi diễn ra vào ngày
04-05/11/2013, Thanh tra Chi cục đã có buổi kiểm tra 5 bếp ăn tập thể tại khách sạn
Grand Plaza.
Trong quá trình tham gia kiểm tra, thành viên của đoàn được chia ra làm 2 nhóm:
một nhóm phụ trách kiểm tra các loại giấy tờ sổ sách liên quan tới vấn đề VSATTP và
một nhóm kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết bị và thực hiện lấy mẫu xét nghiệm sạch
tinh bột.
Qua quá trình kiểm tra, nhóm nhận thấy đã cung cấp gần như đầy đủ các loại giấy
tờ cần kiểm tra theo quy định. Điều kiện vệ sinh cơ sở, trang thiết bị dụng cụ, thực hành
vệ sinh ATTP của nhân viên và chế độ lưu mẫu, bảo quản thực phẩm được thực hiện
tương đối tốt. Kết quả thực hiện các test thử nhanh tinh bột cho thấy, đa số khay đều đảm
bảo vệ sinh (18/20 khay đạt). Tuy nhiên, giấy khám sức khỏe của nhân viên còn thiếu và
cách viết sổ kiểm thực 3 bước chưa đúng theo quy định. Hệ thống thoát nước chưa có nắp
đậy. Chế độ lưu mẫu thực phẩm chưa đúng quy định, chưa có tên thực phẩm bên ngoài
các hộp lưu mẫu.
3.3. Kết quả thu được và bài học kinh nghiệm
Tại mỗi phòng, nhóm đều tìm hiểu qui trình quản lý số liệu và trực tiếp tham gia
các hoạt động liên quan tới quản lý số liệu cùng với cán bộ phòng. Cụ thể: tại phòng hành
chính, nhóm hỗ trợ cán bộ nhập số liệu báo cáo về tình hình NĐTP từ các chi cục địa
phương; kết hợp tìm hiểu các dự án đang được triển khai tại Chi cục (4 dự án: Nâng cao
nâng lực quản lý chất lượng VSATTP. Thông tin giáo dục truyền thông đảm bảo chất
lượng VSATTP. Tăng cường năng lực hệ thống kiểm nghiệm chất lượng VSATTP.
Phòng chống NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm). Tại phòng TTTT-QLNĐ, nhóm
đã nhập kết quả 2 mẫu phiếu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành người tham gia chế
biến, kinh doanh dịch vụ ăn uống cho cán bộ phòng và nhập phiếu kết quả tập huấn
ATTP của nhân viên của 28 công ty. Tại phòng công bố tiêu chuẩn sản phẩm, nhóm nhập
bộ số liệu về các cơ sở được cấp phép liên quan tới 3 loại giấy phép. Tại phòng Thanh
tra, nhóm nhập số liệu liên quan tới kết quả thanh tra các cơ sở về điều kiện ATVSTP.
7. Tìm hiểu thủ tục cấp phép đối với 3 loại giấy phép
Hiện tại, phòng công bố chứng nhận sản phẩm đang thực hiện các hoạt động liên
quan tới cấp phép 3 loại giấy phép: Cấp phép cho các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể
đủ điều kiện VSATTP. Công bố phù hợp và công bố hợp quy sản phẩm. Cấp phép cho
quảng cáo, hội thảo, hội nghị giới thiệu sản phẩm. Đối với mỗi loại giấy phép sẽ có một
bộ hồ sơ riêng và tất cả thủ tục sẽ được hướng dẫn cụ thể, chi tiết xem tại phụ lục
B. Tuyến xã
I. Dinh dưỡng
1. Cân đo và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
1.1. Quy trình thực hiện
Nhóm nhờ TYT đặt lịch hẹn với trường mầm non A Tứ Hiệp, nêu rõ mục đích
muốn cân đo tối thiểu 50 trẻ của trường, đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhằm
mục đích học tập cho đợt thực địa. Hoạt động cân đo trẻ được tiến hành vào ngày
14/11/2013. Nhóm sử dụng 2 cân loại 15kg và 1 thước đo chiều cao đứng của trạm y tế
và 1 thước đo chiều cao đứng của trường ĐHYTCC để thực hiện cân trẻ. Nhóm tiến hành
cân đo tại 2 lớp C1 (trẻ từ 2 đến dưới 3 tuổi), B1 (trẻ dưới 4 tuổi). Nhóm chia thành 2
nhóm, trong đó một nhóm phụ trách cân trẻ nam, một nhóm phụ trách cân trẻ nữ. Mỗi
nhóm 3 người, trong đó 1 thành viên thực hiện cân trẻ, 1 thành viên thực hiện đo trẻ và 1
3.3 6.7
Thừa cân – béo phì 3 3 3
4.8
a. Tình trạng SDD chung của 66 trẻ em dưới 5 tuổi tại trường mầm non A Tứ Hiệp
Biểu đồ: Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi và còm còi của 66 trẻ em dưới 5 tuổi tại
trường mầm non A Tứ Hiệp so sánh với số liệu Hà Nội và toàn quốc, năm 2012
[1]
Qua biểu đồ có thể thấy, tỉ lệ SDD của 66 trẻ em dưới 5 tuổi tại trường mầm non
A Tứ Hiệp ở cả 3 thể đều thấp hơn so với số liệu của Hà Nội và toàn quốc. Cụ thể là, tỉ lệ
suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân là 4.5%, SDD thể thấp còi là 9.1%, SDD thể còm còi
là 1.3%.
b. Tình trạng suy dinh dưỡng của 66 trẻ em dưới 5 tuổi tại trường mầm non A Tứ Hiệp
theo giới
Qua biểu đồ có thể thấy, tỉ lệ suy dinh dưỡng của nhóm nữ ở cả 3 thể đều cao hơn
hoặc bằng nhóm nam. Ở thể nhẹ cân, tỉ lệ trẻ nữ bị suy dinh dưỡng cao gấp đôi tỉ lệ trẻ
nam (3% và 6.1%). Ở thể thấp còi, hai tỉ lệ này bằng nhau (9.1%). Ở thể còm còi, không
có trẻ nam bị suy dinh dưỡng mà chỉ có trẻ nữ, tỉ lệ chiếm 3% .
c. Tình trạng thừa cân – béo phì chung của 66 trẻ dưới 5 tuổi tại trường mầm mon A Tứ
Hiệp
Qua biểu đồ có thể thấy, tỉ lệ thừa cân – béo phì của 66 trẻ trong điều tra là 3%,
thấp hơn số liệu của toàn quốc năm 2010 là 4.8%.
[2]
1.3. Thuận lợi, khó khăn, bài học kinh nghiệm.
Nhóm đã có sự trao đổi trước với cán bộ trạm y tế nhờ đặt lịch hẹn với trường nên
việc tiếp cận được thuận lợi. Ngoài ra, nhóm cũng trình bày cụ thể mục đích của việc cân
đo với các thầy cô tại trường và được sự giúp đỡ của các cô giáo trong các lớp nhóm thực
hiện cân đo, ổn định trật tự lớp giúp cho việc cân đo diễn ra nhanh và thuận lợi.
Khó khăn của nhóm là do thời điểm tiến hành cân đo vào mùa đông nên việc các
em mặc quần áo ấm và dày có thể gây ra sai số. Ngoài ra, do các em đang ở trong độ tuổi
nhỏ và thích đùa nghịch nên khi nhóm tiến hành cân đo đôi khi vẫn xảy ra tình trạng là
Dựa vào kết quả điều tra hỏi ghi 24h tại 6 hộ gia đình, mỗi thành viên trong nhóm
sẽ chọn một đối tượng trong một hộ gia đình để tiến hành xây dựng khẩu phần ăn cho đối
tượng trong khẩu phần
Ngoài các thông tin cần thu thập như tuổi, giới, nghề nghiệp, chiều cao, cân nặng,
tình trạng sinh lý, chế độ sinh hoạt, nhóm còn tìm hiểu nhu cầu của đối tượng như muốn
tăng cân, giảm cân, đang có kế hoạch sinh con trong thời gian tới, hoặc mắc một số bệnh
và muốn được được xây dựng một thực đơn phù hợp. Ngoài ra, nhóm cũng tìm hiểu cả sở
thích và thói quen ăn uống của đối tượng. Sau khi tìm hiểu được các thông tin trên, các
thành viên trong nhóm sẽ tiến hành xây dựng thực đơn 1 tuần cho đối tượng.
3.1.2. Kết quả
Nhóm đã tiến hành xây dựng thực đơn cho 6 đối tượng, trong đó có 2 đối tượng là
trẻ bị suy dinh dưỡng, 1 đối tượng người lớn bị thiếu năng lượng trường diễn, 2 đối tượng
đang có nhu cầu giảm cân và 1 đối tượng bị tăng huyết áp
3.2. Tư vấn dinh dưỡng
3.2.1. Phương pháp thực hiện
Trong quá trình thu thập thông tin để tiến hành xây dựng khẩu phần, nếu các đối
tượng có nhu cầu tư vấn dinh dưỡng, nhóm sẽ đáp ứng trong khả năng và kiến thức đã
học được. Trước buổi tiếp cận cộng đồng, nhóm xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn để thu
thập thông tin của các đối tượng cho phần tư vấn.
Nội dung tư vấn dinh dưỡng cho một số đối tượng cụ thể, bao gồm đối tượng bệnh
nhân bị tăng huyết áp, bệnh nhân bị đái tháo đường, đối tượng phụ nữ mang thai, trẻ em
bị suy dinh dưỡng, người trưởng thành bị thừa cân – béo phì, người trưởng thành bị thiếu
năng lượng trường diễn được nhóm xây dựng dựa trên tài liệu truyền thông của Viện dinh
dưỡng. Nhóm chuẩn bị các nội dung tư vấn trước để có thể đưa ra lời khuyên hợp lý theo
tình trạng của đối tượng và nếu các đối tượng có nhu cầu muốn tìm hiểu rõ hơn chế độ
dinh dưỡng hợp lý với tình trạng của cơ thể, nhóm có thể cung cấp cho các đối tượng.
Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi và nội dung tư vấn, các thành viên trong nhóm tập thực
hành tư vấn cho nhau để rèn luyện kĩ năng cần thiết cũng như nắm vững hơn nội dung
chính cần tư vấn cho các đối tượng.
Hướng dẫn tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân THA [chi tiết xem phụ lục số 2
một số câu hỏi thuộc về lâm sàng, các loại thuốc, do không có chuyên môn về lĩnh vực
này nên nhóm không thể đưa ra lời tư vấn được. Tuy nhiên, nhóm đã cố gắng đưa ra lời
khuyên về chế độ ăn uống phù hợp cho từng đối tượng. Bên cạnh đó, để tránh các đối
tượng khó hình dung thực đơn mà nhóm sẽ xây dựng và để cho người dân tin tưởng,
nhóm đã chuẩn bi sẵn bộ tài liệu tư vấn, bao gồm các nội dung tư vấn dinh dưỡng cho
phụ nữ mang thai, trẻ bị SDD, thừa cân – béo phì, bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo
đường… tham khảo trên trang web của Viện dinh dưỡng để làm tăng tính thuyết phục
cho bài tư vấn của mình. Bài học kinh nghiệm mà nhóm rút ra đó là cần tạo không khí cởi
mở, tự nhiên để người dân dễ dàng chia sẻ thông tin và thoải mái tiếp thu những ý kiến tư
vấn của mình.
II. An toàn thực phẩm
1. Quan sát thực trạng ATTP của chợ Tứ Hiệp
1.1. Phương pháp thực hiện
Nhóm tiến hành xây dựng bảng kiểm đánh giá thực trạng ATTP của chợ Tứ Hiệp dựa
trên thông tư 15, thông tư 30 và tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9211:2012 về tiêu chuẩn thiết
kế chợ. Nội dung bảng kiểm quan sát chợ bao gồm: cách bố trí tổng thể chợ, khu vực vệ
sinh, nước sử dụng cho hoạt động kinh doanh, vệ sinh trong chợ, hệ thống cống rãnh.
Ngoài ra nhóm còn tiến hành xây dựng bảng kiểm đánh giá ATTP đối với các cơ sở kinh
doanh thực phẩm chín, thực phẩm tươi sống và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại chợ.
1.2. Kết quả quan sát VSATTP tại chợ Tứ Hiệp
- Đánh giá ATTP tại chợ: Theo quan sát của nhóm, chợ có phân khu riêng biệt giữa
khu giết mở, thực phẩm chín, thực phẩm tươi sống, thực phẩm khô và khu vực ăn uống.
Tại chợ có nhà vệ sinh ở gần cổng ra vào chợ. Tuy nhiên, nhà vệ sinh không đảm bảo vệ
sinh: rác thải bị vứt ra ngoài thùng rác, nhà vệ sinh bị ứ đọng nước. Trong nhà vệ sinh
không có bồn/vòi rửa tay và xà phòng diệt khuẩn. Tại chợ có một bể chứa nước giếng
khoan, cung cấp nước cho các hộ kinh doanh trong chợ. Tuy nhiên, các hộ muốn lấy
nước phải tự đi múc lấy nước về sử dụng. Nước được sử dụng là nước giếng khoan,
không có hệ thống lọc xử lý nên không đảm bảo vệ sinh. Khu thu gom rác thải ở ngoài
chợ, khoảng cách từ khu thu gom rác tới các khu vực kinh doanh trong chợ là khá xa, do
đó xảy ra tình trạng nền chợ có rác thải và nước thải ứ đọng. Rác thải được tập kết bên
- Kiểm tra một số tiêu chí và thực hiện các test xét nghiệm nhanh. Với các loại
hình kinh doanh khác nhau thì các tiêu chí kiểm tra và các test xét nghiệm nhanh có sự
khác nhau. Cụ thể:
+ Đối với các cửa hàng bán bánh (bánh bao, bánh mỳ, bánh ngọt…) đoàn sẽ kiểm
tra giấy chứng nhận tập huấn VSATTP, giấy khám sức khỏe, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh
cơ sở, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và thực hiện test xét nghiệm nhanh tinh bột
+ Đối với các bếp ăn tập thể, đoàn sẽ kiểm tra giấy chứng nhận tập huấn VSATTP,
giấy khám sức khỏe, vệ sinh cơ sở, bếp 1 chiều, vệ sinh dụng cụ, vệ sinh cá nhân, vệ sinh
thực phẩm, sổ kiểm thực 3 bước, có lưu mẫu thức ăn không. Thực hiện 2 test xét nghiệm
nhanh tinh bột và nước sôi.
+ Đối với cửa hàng thức ăn chín, đoàn sẽ kiểm tra giấy chứng nhận tập huấn
VSATTP, giấy khám sức khỏe, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh cơ sở, vệ sinh cá nhân, vệ
sinh thực phẩm và thực hiện test xét nghiệm nhanh hàn the
+ Đối với các đại lý bán bánh kẹo, rượu, bia, nước giải khát, giấy chứng nhận tập
huấn VSATTP, giấy khám sức khỏe, vệ sinh ngoại cảnh, vệ sinh cơ sở, vệ sinh cá nhân,
vệ sinh thực phẩm.
+ Đối với cửa hàng ăn, đoàn sẽ kiểm tra nước/nước đá sạch, dụng cụ sống-chín
riêng, nơi chế biến đạt yêu cầu vệ sinh, số người khám sức khỏe, xét nghiệm đường ruột,
giấy chứng nhận tập huấn VSATTP, đảm bảo vệ sinh, nguồn gốc thực phẩm an toàn, bàn
cao trên 60cm, tủ kính, dụng cụ bảo quản, quản lý rác thải. Thực hiện 3 test xét nghiệm
nhanh: tinh bột, dấm, nước sôi.
- Sau khi tiến hành kiểm tra, đoàn sẽ ghi biên bản kiểm tra VSATTP cơ sở sản
xuất, đánh dấu những tiêu chí đạt và không đạt (ghi rõ lí do).
- Đọc biên bản cho chủ cơ sở và yêu cầu chủ cơ sở kí vào biên bản.
- Nhắc nhở cho chủ cơ sở về các tiêu chí chưa đạt, và yêu cầu khắc phục.
- Kết thúc kiểm tra
3. Sử dụng test xét nghiệm nhanh kiểm tra
3.1. Phương pháp thực hiện
Nhóm tiến hành lấy mẫu tại chợ và các cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm trên
địa bàn xã để thực hiện các test xét nghiệm nhanh kiểm tra ATTP. Các dụng cụ: găng tay,
Nhóm sinh viên đã lựa chọn ngẫu nhiên 6 hộ gia đình (HGĐ) thuộc thôn Cương
Ngô để quan sát điều kiện VSATTP bếp ăn tại hộ gia đình. Trước khi tiến hành đánh giá
bếp ăn tại HGĐ, nhóm tiến hành xây dựng bảng kiểm gồm 39 tiêu chí được xây dựng dựa
trên Thông tư 15/2012/TT-BYT [chi tiết bảng kiểm tại phụ lục ]. Ngoài quan sát trực
tiếp bếp ăn HGĐ, nhóm sinh viên đã kết hợp phỏng vấn sâu thành viên HGĐ để khai thác
những thông tin liên quan tới một số tiêu chí khó đánh giá nếu chỉ dựa vào quan sát.
Kết quả đánh giá cho thấy, một số tiêu chí về VSATTP bếp ăn mà các hộ gia đình
đã đạt tương đối tốt. 6 hộ gia đình đều có khu bếp riêng biệt, rộng rãi, cách xa nguồn ô
nhiễm; có dao, thớt dành riêng cho thực phẩm sống – chín; 5/6 gia đình có thùng đựng
rác thải.
Bên cạnh những tiêu chí đã thực hiện tốt thì vẫn còn những tiêu chí chưa được tốt:
có 3/6 gia đình có sàn bếp ẩm ướt và trần nhà còn ẩm mốc, bám bụi, mạng nhện. Trong 6
bếp ăn có 1 bếp không có thùng đựng rác và 5 hộ đã có thùng đựng rác tuy nhiên cả 5 bếp
có thùng đựng rác đều không có nắp đậy làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm thực phẩm. 6 hộ
gia đình đều có tủ lạnh để bảo quản thực phẩm nhưng chưa được chia thành các ngăn
riêng bảo quản rau củ quả tươi, thực phẩm chín, thực phẩm sống và không được vệ sinh
thường xuyên. Hơn nữa, trong cả 6 bếp ăn của hộ gia đình đều chưa đạt yêu cầu về vệ
sinh cá nhân: người trực tiếp tiếp xúc với thực phẩm không sử dụng tạp dề, găng tay 1
lần, không rửa tay bằng xà phòng trước khi tiếp xúc với thực phẩm. “Ôi trời, vẫn biết là
găng tay với tạp dề là cần thiết đấy nhưng mà như cô thì chẳng có thời gian mà đi đeo
mấy cái đó vào người” (Nữ, 43 tuổi). Tóm lại, các bếp ăn tại HGĐ được quan sát chưa
thực hiện tốt các nội dung, tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm mà nhóm đã đưa ra
trong bảng kiểm.
4.2. Tư vấn thực hành VSATTP tại bếp ăn hộ gia đình
4.2.1 Phương pháp thực hiện
Nội dung tư vấn thực hành VSATTP tại bếp ăn hộ gia đình được nhóm chuẩn bị
trước khi xuống cộng đồng [chi tiết tại phụ lục…]. Sau khi tiến hành quan sát và phỏng
vấn người nội trợ chính trong gia đình, nhóm đưa ra những nhận xét về VSATTP tại bếp
ăn của các hộ gia đình, những điểm đạt và chưa đạt. Từ đó, nhóm sẽ đưa ra lời tư vấn
VSATTP hợp lý và phù hơp với từng hộ gia đình.
thoải mái, tự tin chia sẻ thông tin.Đồng thời, phản ứng linh hoạt trong các trường hợp
không nhận được sự hỗ trợ, hợp tác của các bên liên quan.
C. Tham gia các hoạt động khác tại địa phương
I. Tuyến tỉnh/thành phố
1. Kiểm tra vệ sinh học đường
Trong thời gian thực tập tại Khoa Sức khỏe cộng đồng – TTYTDP Hà Nội, nhóm
đã được tham gia cùng đoàn kiểm tra vệ sinh học đường tại các trường trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
Quy trình một buổi kiểm tra bao gồm:
- Gặp gỡ Ban giám hiệu nhà trường, thông báo quyết định kiểm tra
- Tìm hiểu tình hình chung của nhà trường
- Kiểm tra các tiêu chí: Kiểm tra điều kiện VSMT ngoại cảnh, công trình vệ sinh;
Kiểm tra điều kiện vệ sinh phòng học; Kiểm tra công tác quản lý, chăm sóc học sinh của
phòng y tế; Kiểm tra điều kiện VSATTP của bếp ăn tập thể (nếu có).
- Sau khi tiến hành kiểm tra xong, đoàn kiểm tra sẽ thông báo với nhà trường về
kết quả kiểm tra và đưa ra những góp ý cho nhà trường để cải thiện những điểm còn hạn
chế
- Đại diện nhà trường đóng góp ý kiến
- Chào tạm biệt và ra về.
Trong quá trình tham gia kiểm tra vệ sinh học đường, các thành viên trong nhóm
đã trực tiếp đo các tiêu chí để đánh giá vệ sinh phòng học, ghi chép số liệu, kiểm tra điều
kiện vệ sinh môi trường ngoại cảnh và công trình vệ sinh. Qua những số liệu thu được và
quan sát, thành viên sẽ tự ghi chép lại. Sau đó, ghi chép kết luận của đoàn kiểm tra, đối
chiếu với kết quả của mình để tự rút kinh nghiệm. Ngoài ra, nhóm đã nắm được một số
giải pháp nhằm khắc phục cho các tồn tại tại trường được tham gia kiểm tra.
Khó khăn mà các thành viên trong nhóm gặp phải là do chưa từng được tham gia
buổi kiểm tra vệ sinh học đường nên còn nhiều bỡ ngỡ. Ngoài ra, có nhiều tiêu chí và số
liệu trong quá trình kiểm tra vệ sinh lớp học nên trong quá trình ghi chép vẫn còn có một
số sai sót nhỏ. Tuy nhiên nhờ sự hướng dẫn tận tình của các cán bộ tại Khoa SKCĐ và
chia sẻ kinh nghiệm của các bạn đã tham gia các buổi kiểm tra trước nên những lần kiểm
phần nâng cao sức khỏe cộng đồng”. Sau đó, nhóm giúp các cán bộ tại Khoa phát kinh
phí, và thu dọn đồ đạc trước khi ra về.
4. Điều tra khảo sát rượu làng nghề
Trong ngày 26/10/2013, 1 thành viên trong nhóm được tham gia hỗ trợ nhóm điều
tra viên phỏng vấn chủ cơ sở nấu rượu trên địa bàn đội 10 thôn Siêu Quần, xã Tả Thanh
Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Các hoạt động mà sinh viên đã được tham gia, bao gồm:
- Chuẩn bị phiếu điều tra và các giấy tờ có liên quan
- Chia nhóm điều tra và địa bàn thu thập thông tin
- Tiến hành phỏng vấn chủ cơ sở nấu rượu
- Niêm phong mẫu xét nghiệm và phát kinh phí
Sau khi tham gia hoạt động trên, thành viên trên đã chia sẻ những kinh nghiệm, kỹ
năng mà bạn rút ra được. Bài học kinh nghiệm rút ra đó là chuẩn bị phương tiện và tìm
hiểu trước đường đi xuống địa bàn nghiên cứu, cần kết hợp quan sát kỹ điều kiện
VSATTP tại cơ sở để hoàn thành một số tiêu chí trong bộ câu hỏi phỏng vấn và chú ý
cách thức lấy mẫu và niêm phong mẫu xét nghiệm.
5. Tham gia nhập liệu và ghi chép sổ sách
Trong quá trình thực tập tại TTYTDP và Chi cục ATVSTP, nhóm đã tham gia
nhập số liệu dưới sự hướng dẫn của các bộ tại các Khoa/phòng. Bên cạnh đó, nhóm hỗ
trợ cán bộ ghi chép sổ sách, giấy mời, photo, vận chuyển tài liệu…
II. Tuyến xã
1. Chiến dịch uống vitamin A và uống thuốc tẩy giun
Trong 2 ngày 11 – 12/12/2013, TYT xã Tứ Hiệp đã tổ chức cho trẻ từ 6 – 36 tháng
tuổi uống vitamin A và kết hợp cho trẻ từ 24 – 60 tháng tuổi uống thuốc tẩy giun tại 4
điểm trong xã: TYT xã Tứ Hiệp, Nhà văn hóa thôn Văn Điển, Nhà mẫu giáo thôn Cổ
Điển A và Nhà văn hóa thôn Cổ Điển B. Trước khi chiến dịch uống Vitamin A diễn ra,
nhóm sinh viên đã hỗ trợ TYT ghi phiếu mời uống vitamin A cho toàn bộ trẻ trong độ
tuổi trên toàn xã.
Trong ngày 11/12/2013, dù đã qua thời gian thực tập, nhưng nhóm sinh viên đã
xin phép trạm cho xuống tham gia và chiến dịch uống vitamin A và uống thuốc tẩy giun.
Nhóm sinh viên đã hỗ trợ cán bộ TYT làm các công việc như tiếp đón nhân dân, ghi chép
trong các chương trình như chương trình tiêm chủng mở rộng, chiến dịch uống vitamin A
và uống thuốc tẩy giun, cấp phát thuốc cho bệnh nhân tâm thần. Ngoài ra nhóm còn hỗ
trợ đánh máy và gửi tài liệu cho trạm. Trong thời gian thực tập, nhóm thường xuyên giúp
trạm chăm sóc vườn thuốc nam, quét dọn vệ sinh, giữ gìn không gian sạch đẹp của trạm.