Y häc thùc hµnh (902) - sè 1/2014
75
6. Nguyễn Mạnh Tề, Lê Diên Hồng, Võ Việt Hà và
cộng sự (2000), "Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi
của phạm nhân và việc quản lý, chăm sóc người nhiễm
HIV/AIDS trong một số trại giam do Bộ Công an quản
lý", Y học thực hành: Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa
học về HIV/AIDS 1997 - 1999, (382), tr. 190 - 195.
7. Nguyễn Chí Phi, Đỗ Ánh Nguyệt, Lê Ngọc Yến
và cộng sự (2000), "Khảo sát đặc điểm Y xã hội học và
Y sinh học trên các đối tượng NCMT nhiễm HIV ở các
tỉnh phía Bắc", Y học thực hành: Kỷ yếu công trình
nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS 1997 - 1999, (382), tr.
148 - 158. 28
8. UNAIDS (2008). Report on the global AIDS
epidemic. Geneva.
9. WHO, UNAIDS, UNICEF (2007). Towards
universal access: scaling up priority HIV/AIDS
interventions in the health sector: progress report. April.
Geneva. ISBN 978 92 4 159 NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN CHOLESTEATOMA TAI TIỀM ẨN QUA NỘI SOI,
CẮT LỚP VI TÍNH, ĐỐI CHIẾU VỚI KẾT QUẢ PHẪU THUẬT
Backgrounds: Cholesteatmas are classified as
congenital or acquired. Congenital cholesteatomas
are defined by Derlacki as an embryonic rest of
epithelial tissue in the ear without tympanic
membrane perforetion and without history of ear
infection. Congenital cholesteatomas may be found
in the middle ear or in the petrous apex .
Objectives: 34 patients with cholesteatomas
without tympanic membrance perforation frome 5 to
44 ages
Methods: Diagnosing cholesteatoma without
tympanic membrane perforation by endoscopy,
Audiometre comper with CT scane.
Results: There are 3 groups defferall symptoms
for 3 positions of the cholesteatomas.
Conclusion: Cholesteatomas located in the
tympanic cavity always has the conductive hearing
loss. Cholesteatomas presented in the ear canal
coming from congenital atresia
Keywords: cholesteatoma, CT scan.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù cholesteatom đã được phát hiện từ 1829
bởi nhà bệnh lý học người Pháp Cruveihier với tên
gọi là “U lóng lánh” [3] đến nay sinh bệnh học của
loại u này vẫn còn tồn tại dưới dạng các giả thuyết.
Các nhà bệnh học Tai hiện nay đều thừa nhận cách
phân ra hai loại cholesteatmas nguyên phát và
cholesteatom tích luỹ. Loại cholesteatoma nguyên
phát do Derlacki [4] phát hiện là loại được tạo thành
do sót một mảnh biểu bì trong tai giữa thời kỳ bào
76
nghiệm đoán và chỉ định đường vào phẫu thuật loại
cholesteatoma tai này.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
37 bệnh nhân cholesteatoma tai tiềm ẩn gặp tại
khoa TMH - Bệnh viện TMHTW và Việt Nam-Cuba đã
được phẫu thuật
2.Trình tự nghiên cứu
- 37 bệnh nhân nghe kém dẫn truyền hoặc tiếp
nhận một bên tai không rõ nguyên nhân, được khám
lâm sàng, nội soi tai, đo thính lực trước phẫu thuật.
Ảnh 1. Nội soi tai
Ảnh 2. Thính lực và nhĩ lượng
- Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương tư thế
Coronal và Axial có mở cửa sổ xương ( WW > 1700
H) với lát cắt 1mm để xác định vị trí khối choán chỗ
trong xương thái dương thuộc vị trí tai ngoài, tai
giữa hoặc tai trong. Kết hợp MRI trong chẩn đoán
phân biệt.
- Đối chiếu kết quả chẩn đoán hình ảnh với
thăm dò chức năng tai để xác định vị trí khối u và
Liệt mặt 3
Chóng mặt 3
Chít hẹp ống tai 4
N 37
Bảng 2. Nội soi tai
Màng nhĩ n
Bị che lấp 9
Đục trắng 16
Dày đục đỏ 8
Túi co lõm
4Bảng 3. Vị trí cholesteatoma trên CLVT
Vị trí n
Ống tai 7
Hòm tai 19
Xương chũm 11
N 37
Bảng 4. Vị trí cholesteatoma trong các ngăn hòm
tai
Vị trí n
Thượng nhĩ
Trong 3
xương đá cần chụp thêm MRI [6] nếu là
cholesteatom thì sẽ thấy ảnh rất rõ nét ở giai đoạn
T2 (95% trường hợp). Những trường hợp chóng mặt
hoặc điếc tai trong CLVT có thể giúp xác định
nguyên nhân và vị trí tổn thương thành ngoài mê đạo
từ khối cholesteatom hòm nhĩ hoặc thành trong mê
đạo từ khối cholesteatom đỉnh xương đá. CLVT
không những giúp xác định vị trí khối u mà còn giúp
lựa chọn đường phẫu thuật thích hợp.
3. Vai trò thính lực đồ rất có giá trị trong chẩn
đoán khu trú vị trí khối u đặc biệt là khối u hòm nhĩ .
Khối cholesteatoma hòm nhĩ thường gây tổn thương
chuỗi xương con nên thính lực đồ thường có điếc
dẫn truyền với khoảng cách giữa đường khí và
đường xương (ABG) trên 40dB [2].
4. Đối với khối cholesteatoma ống tai
ngoài,xương chũm hoặc xương đá chúng tôi sử dụng
đường rạch trước tai để vào xương chũm lấy u trái lại
loại u chỉ khu trú trong hòm nhĩ chúng tôi sử dụng kỹ
thuật nội soi xuyên ống tai mở màng nhĩ lấy u mà
không cần mở xương chũm.
KẾT LUẬN
1. Những trường hợp nghe kém tiếp nhận một tai
cần chụp CLVT xương thái dương ,nếu có hình ảnh
khối ở đỉnh xương đá thì MRI sẽ đóng vai trò quyết
định chẩn đoán hoặc loại trừ Cholesteatoma.
2. Triệu chứng chức năng như điếc dẫn truyền,
chóng mặt hoặc liệt mặt rất có giá trị chẩn đoán vị trí
cholesteatoma hòm nhĩ nhất là khi đối chiếu với
CLVT.