Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn hóa đọc của giới trẻ ở việt nam đầu thế kỷ XXI trên báo in (khảo sát trên báo tuổi trẻ TP HCM, thanh niên, tiền phong, từ năm 2010 2013) - Pdf 30



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…… PHẠM THỊ NGA NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ ĐỌC CỦA GIỚI TRẺ Ở
VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI TRÊN BÁO IN
(Khảo sát trên báo Tuổi Trẻ TP.HCM, Thanh Niên, Tiền Phong, từ
năm 2010 - 2013)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01.01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái

Hà Nội, 2015 LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái,
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban chủ nhiệm khoa Báo chí - Truyền thông, các giảng viên trong khoa,
phòng Quản lý khoa học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học
Quốc Gia Hà Nội
Và người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ
tôi trong quá trình nghiên cứu Luận văn. Hà Nội, tháng năm 2015


NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÁC PHẨM BÁO CHÍ VIẾT VỀ VĂN
HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN TRÊN BÁO TUỔI TRẺ, THANH NIÊN, TIỀN
PHONG
85
3.1. Bài học kinh nghiệm từ nhà báo viết về văn hóa đọc của sinh viên
85
3.2. Những hạn chế 89
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng tác phẩm báo chí viết về văn hoá đọc của sinh viên
trên báo in
93
3. 4. Phác thảo mô hình tác phẩm báo chí viết về văn hóa đọc của sinh viên trên báo in.

103

Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU - Bảng 2.1. Khảo sát báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2010-
2013
- Bảng 2.2. Khảo sát báo Tiền Phong từ năm 2010-2013

NXB: Nhà xuất bản
Bộ TT&TT: Bộ Thông tin và truyền thông
Bộ VH-TT&DL: Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch
TVQG: Thư viện Quốc Gia
SVVN: Sinh viên Việt Nam 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với sinh viên, việc học qua việc đọc sách là quan trọng nhất trong
suốt quá trình học tập tại trường đại học. Sách là nơi lưu trữ những tri thức của
nhân loại. Bởi thế, từ học sinh, sinh viên cho đến những nhà khoa học tài giỏi,
sách được coi như một công cụ để học tập, nghiên cứu. Và vấn đề nổi trội nhất
trong việc học Đại học ở Việt Nam, nhất là trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn là phải có văn hóa đọc.
Sinh viên hiện nay không có thói quen đọc tài liệu, ghi chép, không biết

giới trẻ không có một phương tiện nghe nhìn nào có thể thay thế việc đọc. Và
hầu như, việc đọc sách trong giới trẻ nói chung, và với sinh viên nói riêng chủ
yếu là theo phong trào.
Đánh giá cao tầm quan trọng của văn hoá đọc, trong kỳ họp lần thứ 28
của Đại hội đồng Liên hợp quốc tại Paris (ngày 25/10 – 16/11/1995), UNESCO
đã quyết định chọn ngày 23/4 hàng năm làm “Ngày sách và bản quyền thế
giới”, trong đó có nêu rất rõ mục tiêu và cá thành phần tham gia ngày tôn vinh
những giá trị của sách và sự đóng góp của các tác giả cho sự ra đời của các tác
phẩm bất hủ, đồng thời là dịp để khuyến khích tất cả mọi người, nhất là giới trẻ
khám phá niềm yêu thích đọc sách, tôn vinh văn hoá đọc.
Tại Việt Nam, quyết định 248/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ký ngày
24-2-2014 quy định ngày 21/4 hàng năm là “Ngày sách Việt Nam” để phát triển
văn hóa đọc. Đây là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của mọi quốc gia trong
việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực – nhân tố
quyết định mọi thành công. Phát triển văn hóa đọc trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần đem lại cho dân tộc Việt Nam sức mạnh
của trí tuệ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Khi Bộ TT&TT tổ chức lấy ý kiến về việc tổ chức “Ngày sách Việt Nam”
(21/4), nhiều nhà nghiên cứu đều đặt ra vấn đề văn hóa đọc trong giới trẻ đang ở
mức báo động, khi nhiều bạn trẻ thờ ơ với sách vở và đang bị văn hóa nghe –
nhìn cuốn theo, cần phải tổ chức Ngày sách Việt Nam để cứu văn hoá đọc.
Một số người cũng lo lắng và đổ lỗi rằng thời đại bây giờ có nhiều thứ hấp dẫn 3
giới trẻ như trò chơi điện tử, Internet, facebook… nên giới trẻ lười đọc sách,
truyện hơn các thế hệ trước. Và văn hoá đọc trong giới trẻ đang đứng trước nguy
cơ mai một, bị lấn át bởi văn hoá nghe nhìn.
Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã phát biểu trong buổi lễ công bố ngày sách
Việt Nam: “Cho dù xã hội ngày càng phát triển cao hơn, con người có thể tìm

Trước ý nghĩa sâu sắc của vấn đề này, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên
cứu văn hoá đọc của giới trẻ ở Việt Nam đầu thế kỷ XXI trên báo in (Khảo sát
trên báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên và Tiền Phong từ năm 2010-2013)” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hoá đọc đã trở thành vấn đề của cả cộng đồng nói chung và giới trẻ
nói riêng. Đã có nhiều nhà văn, các nhà nghiên cứu bàn về các vấn đề và các
giải pháp phát triển văn hoá đọc ở Việt Nam. Chúng tôi xin kể ra một số những
tài liệu mà Luận văn có sử dụng, trích dẫn tiêu biểu, như:
- “Suy nghĩ về sách, văn hóa đọc và thư viện”, Tiểu luận, Nguyễn Hữu
Giới, NXB Văn hóa Thông tin, 2013. Đây là cuốn sách bao gồm nhiều bài tiểu
luận về sách, nghề in và xuất bản ở nước ta. Đặc biệt là về vấn đề văn hóa đọc
trong bối cảnh bùng nổ truyền thông, ngày hội đọc sách ở Việt Nam, về thư viện
hôm nay và ngày mai, thư viện Việt Nam trước ngưỡng cửa nền kinh tế tri thức,
hội nhập và phát triển.
- “Người Việt Nam chưa có văn hoá đọc” của GS Chu Hảo (Số ra ngày
23/4/2012, Báo Tiền Phong).
Tác giả bàn về việc thế nào là văn hóa đọc, và văn hóa đọc có vai trò như
thề nào đối với xã hội. Trả lời thấu đáo vấn đề này là một công việc rất nặng nề,
không thể nói hết trong khuôn khổ một bài phỏng vấn.Vấn nạn lớn nhất của
nước ta hiện nay không phải là kinh tế; vấn đề mang tính lâu bền và gốc rễ hơn
nhiều là văn hóa. Văn hóa mới là cốt lõi của mọi vấn đề. Nền văn hóa của một
đất nước chắc chắn phải dựa trên nền tảng giáo dục. Cần phải nghĩ đến việc tập
cho học sinh có được một thói quen đọc sách, hướng dẫn cho các em lựa chọn
sách, cách đọc sách. Ba yếu tố đó - thói quen đọc, khả năng lựa chọn, và cách
đọc - hợp thành cốt lõi của cái mà chúng ta gọi là văn hóa đọc.
5


6
sách truyền thống. Bản thân các phương tiện nghe nhìn hiện đại ấy không giành
cái việc đọc của con người, nhưng nó lại làm cho con người ta lười cái việc đọc.
Những nghiên cứu trên đây đã đề cập nhiều đến văn hóa đọc của thế hệ
thanh, thiếu niên với thực trạng "lười đọc", "đọc ít" và "đọc theo phong trào"
hiện nay.
Vấn đề văn hóa đọc của giới trẻ qua các tác phẩm báo in lần đầu tiên được
nghiên cứu trên các báo Tuổi Trẻ TP.HCM, Thanh Niên, Tiền Phong. Đây là
luận văn lần đầu khảo sát các tác phẩm báo in viết về văn hóa đọc của các bạn
trẻ. Việc nghiên cứu thực trạng với những ưu điểm, hạn chế và những vấn đề
đang đặt ra đối với các tác phẩm báo in trong việc xây dựng văn hóa đọc, xã hội
đọc, để qua đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp cần thiết nhằm đổi mới, nâng
cao hiệu quả của việc nâng cao văn hóa đọc của sinh viên.
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Phân tích các bài viết về văn hóa đọc của giới trẻ Việt Nam trên báo
Tuổi Trẻ TP.HCM, Thanh Niên, Tiền Phong để tìm ra những bài học kinh
nghiệm viết các tác phẩm báo chí về văn hóa đọc của các nhà báo.
- Đề xuất giải pháp phát triển văn hóa đọc của sinh viên trên báo in. Phác
thảo mô hình tác phẩm báo chí về văn hóa đọc của sinh viên trên báo in.
3.2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu tác động, vai trò của báo in với văn hoá đọc của sinh viên.
Nhất là vấn đề văn hoá đọc đang dần bị mờ nhạt và lấn át bởi văn hóa nghe nhìn.
- Thông qua việc nghiên cứu các bài báo viết về văn hoá đọc để giúp sinh
viên có thêm kinh nghiệm, có ý thức trong việc đọc sách dưới góc độ văn hoá
khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Khảo sát đối tượng sinh viên để đánh giá về nội dung cũng như hình
thức của các bài viết về văn hóa đọc trên báo in
- Khảo sát đánh giá các bài viết, các tin của báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên,

điều tra sơ bộ các đối tượng giới trẻ, sinh viên, các trường đại học. Đặc biệt là
sinh viên báo chí. 8
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh: thu thập, và
phân tích các nguồn tư liệu phục vụ đề tài, bao gồm tài liệu thống kê, các văn
bản, báo cáo liên quan đến vấn đề này.
- Nghiên cứu tài liệu: Tìm kiếm thông tin trên mạng Internet và sử dụng
những kết quả tổng kết có sẵn của Thư viện Quốc Gia, các báo Tuổi Trẻ TP
HCM, Thanh Niên, Tiền Phong.
- Phương pháp phân tích nội dung: phân tích nội dung dựa trên 386 bài
báo đăng tải trên ba tờ báo: Tuổi Trẻ TP HCM, Thanh Niên, Tiền Phong và một
số bài báo trên các báo khác viết về văn hóa đọc.
- Kết hợp với điều tra bằng bảng hỏi : sử dụng kết quả thu được từ 329
phiếu hỏi của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn.
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ ý nghĩa của việc áp dụng phương
pháp tuyên truyền, định hướng văn hoá đọc cho sinh viên thông qua các bài trên
báo in dưới góc nhìn văn hóa. Qua đó, giúp người đọc trẻ hiểu rõ hơn giá trị, vai
trò của việc đọc sách có văn hóa.
Từ đó đưa ra kinh nghiệm, giải pháp và xây dựng mô hình về văn hóa
đọc của sinh viên trên báo Tuổi Trẻ, Thanh niên, Tiền Phong nói riêng, và báo in
nói chung.
- Qua đó, đề tài nghiên cứu này cũng thể hiện rõ về vấn đề tồn tại của văn
hoá đọc của người Việt, đặc biệt là sinh viên.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài có ý nghĩa thực tiễn với những nhà báo phản ánh những vấn đề


10
NỘI DUNG
Chương 1
QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA VẤN ĐỀ VĂN HÓA ĐỌC
VÀ LOẠI HÌNH BÁO IN
1.1. Lý luận chung về loại hình báo in
1.1.1.Ngôn ngữ báo in
Cũng như mọi nền báo chí trên thế giới, báo in Việt Nam với tư cách
là một loại hình báo chí, đảm nhận đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của nền
báo chí Việt Nam.
Tất cả các loại hình báo chí đều sử dụng ngôn ngữ để thể hiện nội dung
thông tin để truyền tải đến công chúng. Nó phải đảm bảo những tính chất như
tính chính xác, đầy đủ, ngắn gọn, tính đại chúng
Nói đến báo in nghĩa là nói đến chữ viết và có kèm theo hình ảnh. Tính
đặc trưng cơ bản nhất là là sự thống nhất giữa văn bản và hình ảnh. Trong đó
chữ viết là yếu tố quan trọng nhất, khi hình ảnh bổ sung cho chữ viết được sử
dụng với mức độ vừa phải.
Mặc dù mỗi yếu tố là độc lập riêng, song không thể tách rời các yếu tố
này trong các bài viết. Hình ảnh giải quyết những vấn đề trực quan, chữ viết giải
quyết các vấn đề trừu tượng. Vì vậy nếu thiếu một trong hai đặc tính đó sẽ làm
cho báo in thiếu đi sự hấp dẫn.
Chữ viết mà công chúng nhìn thấy, đọc thấy là ngôn ngữ có tính khái quát
cao. Vì ngôn ngữ báo in phải đảm bảo tính chính xác. Đây là tính chất có ý

cảm và tâm huyết cho tác phẩm của mình.
Ngôn ngữ báo in cũng khác so với ngôn ngữ truyền hình. Ngôn ngữ
truyền hình có cả hình ảnh và âm thanh. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì
không còn là sản phẩm truyền hình nữa. Không giống như báo in có thể xem lại,
truyền hình chỉ nhìn thấy một lần, nghe thấy một lần rồi trôi qua. Vì thế nếu
không có ngôn ngữ dễ hiểu và rõ ràng thì khán giả khó có thể nắm bắt được
thông tin biên tập viên muốn truyền tải.

Ngôn ngữ báo in khác với ngôn ngữ báo phát thanh. Thuộc tính cơ bản
nhất của ngôn ngữ phát thanh là "tiếng", nghĩa là nó sinh ra là để "nghe". Hiệu
quả đích thực được thẩm định qua thính giác. Ngôn bản Phát thanh trước khi trở 12
thành "tiếng" để vào tai người nghe, bắt buộc nó phải có cấu trúc câu, trật tự từ
ngữ theo qui luật tiếp nhận của thính giác. Qui luật này không đơn giản, không
hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận như khi tiếp nhận bằng thị giác.
Người xem văn bản được hoàn toàn chủ động tiếp nhận nội dung theo năng lực
chủ quan. Nhưng khi "nghe" đọc văn bản tức là kênh tiếp nhận đã chuyển sang
vùng thính giác, sự chủ động ấy không còn nữa. Ngôn ngữ viết dành cho người
xem văn bản thế mạnh "độc quyền", họ có thể xem lại cho tới khi hiểu rõ nội
dung, tức là thời gian tiêu thụ sản phẩm ngôn ngữ viết tuỳ thuộc vào người xem.
Nhưng phát thanh với thế yếu "thoảng qua", thì việc đó là không thể vì người
"nghe" và người "đọc" cách biệt, không thể nghe lại theo ý muốn. Mặt khác,
ngôn ngữ phát thanh cũng không có hình ảnh minh hoạ kèm theo như ngôn ngữ
của báo in. Ngôn từ báo in tìm đến đích thể hiện là chất lượng chữ viết.
Trong báo in, độc giả không chỉ nhận được thông tin cốt lõi, mà còn được
nhà báo diễn tả lại sự kiện một cách tường tận, dễ hiểu. Vì vậy muốn sử dụng
ngôn ngữ một cách chính xác, nhà báo phải tuân thủ ít nhất 2 yêu cầu: thứ nhất
nhà báo phải giỏi tiếng mẹ đẻ, nắm vững ngữ pháp, có vốn từ vựng rộng, chắc,

1.1.2. Mối quan hệ giữa loại hình báo in và vấn đề văn hóa đọc
Cũng như ở mọi nền báo chí trên thế giới, báo in Việt Nam với tư cách là
một loại hình báo chí, đảm nhận đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ của nền báo
chí Việt Nam. Mỗi loại báo chí có một đặc thù ngôn ngữ riêng của mình. Ngôn
ngữ của các tác phẩm báo chí phải mang được ý nghĩa của chúng tới cho công
chúng vô cùng đa dạng. Ranh giới của công chúng trải dài từ cái mà người ta gọi
là sự biết chữ sơ đẳng cho đến việc thông thạo hoàn toàn và có nhận thức tiếng
mẹ đẻ với tất cả sắc thái của nó.
Nhiệm vụ của người viết báo là phải làm cho ý nghĩa của các bài viết trở
nên dễ hiểu trên tất cả các cấp độ đó. Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản, có
vai trò quan trọng hàng đầu của báo chí là thông tin. Báo chí phản ánh hiện thực
thông qua việc đề cập các sự kiện. Không có sự kiện thì không thể có tin tức báo
chí.
Với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ như hiện nay, vai trò
của báo chí trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là rất quan
trọng. Công nghệ thông tin đã tạo ra sự giao lưu, hội nhập giữa các vùng, khu
vực dẫn đến toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Các phương tiện thông tin của hệ
thống thông tin vệ tinh phủ khắp mặt địa cầu và hệ thống cáp quang nối liền các 14
lục địa, các dịch vụ phát thanh truyền hình và đặc biệt là dịch vụ internet đã làm
cho thế giới dường như bị thu nhỏ lại.
Các phương tiện truyền thông hiện đại cho phép truyền đi mọi tin tức,
hình ảnh của các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao đến khắp mọi nơi,
mọi lục địa trên hành tinh. Công nghệ thông tin hiện đại cùng với việc đa dạng
hóa các bước của quá trình truyền thông đã nhanh chóng biến sự kiện địa
phương thành một vấn đề toàn cầu.
Chính do vậy, sức mạnh của báo chí trong quá trình định hướng dư luận là
rất lớn. Nhu cầu thông tin nảy sinh đồng thời với sự ra đời, phát triển của xã hội.

sống công nghệ luôn bận rộn khiến cho việc ngồi đọc, suy ngẫm một cuốn sách
trở có phần trở nên xa xỉ. Chính vì thế văn hóa đọc cũng bị ảnh hưởng bởi văn
hóa nghe, nhìn vậy nên cách thức đọc cũng cần phải thay đổi để bắt kịp cuộc
sống hiện đại.
Khoảng 5-7 năm trở lại đây, cụm từ “sách điện tử” trở thành một cụm từ
gần gũi với những người thường xuyên làm việc với công nghệ thông tin cũng
như giới trẻ Việt Nam. Còn trên thế giới thì 10 năm qua, cũng đánh dấu một
bước tiến quan trọng trong việc đọc sách thông qua sự phát triển của sách điện
tử. Với các thiết bị như iPad, Kindle, Galaxy Tab… người đọc được làm quen
với một kiểu đọc sách hoàn toàn mới, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận thông tin của
mọi người, kể cả những người bận rộn nhất.
Theo thống kê của hãng bán lẻ trực tuyến Amazon (“cha đẻ” của máy
đọc sách Kindle), vào tháng 7/2010, cứ 100 cuốn sách in bán ra thì có 143 cuốn
sách điện tử bán ra tương ứng. Cùng đó, lượng thiết bị đọc sách điện tử bán ra
trên phạm vi toàn cầu trong năm 2010 đã tăng 79,8% so với năm 2009, đánh dấu
một bước đột phá mới của sách điện tử so với sách giấy truyền thống. Tại Việt
Nam, theo số liệu thống kê mới của Thư viện Quốc gia thì cứ 6.500 lượt yêu cầu
của bạn đọc về sách điện tử, mới có 2.000 yêu cầu sách truyền thống. Vậy có thể
thấy sách điện tử đang là một xu thế tất yếu trên toàn thế giới.
Ở Mỹ lượng độc giả đọc báo điện tử cao gấp từ 1,5 đến 4 lần đọc báo in
trên giấy. Chẳng hạn, tờ NewYork time có 12,8 triệu người đọc trên mạng và có
5 triệu người đọc trên giấy. Tờ Washington Post có 7,8 triệu người đọc trên
mạng và 1,8 triệu người đọc trên giấy. Ngay cả bộ Từ điển Bách khoa toàn thư 16
của Anh cũng vậy, người ta có xu hướng mua đĩa CD nhiều hơn mua bản giấy vì
tính tiện dụng của nó.
Kể từ năm 2010 đến nay, Việt nam đã liên tục đứng trong top 20 quốc gia
có số lượng người dùng internet lớn nhất thế giới với tỷ lệ hơn 30% dân số.

báo in. Tùy vào mục đích tuyên truyền và điều kiện cụ thể mà báo in có thể tiến
hành phản ánh các vấn đề liên quan đến văn hóa đọc của giới trẻ. Tuy nhiên, để
đạt được hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin, báo in cần phải kích thích
nhu cầu đọc của đối tượng là độc giả trẻ và hấp dẫn họ.
Từ khi Truyền hình ra đời, Internet ngày càng phát triển, khoa học kỹ
thuật hiện đại, người ta đã nghĩ rằng báo chí của chữ viết đang chết dần chết
mòn. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của
internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại,
nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu
dài như là trên trang sách, trang báo giấy.
Ngôn ngữ báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là
trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi thóang qua. Chúng xuất hiện và
chúng tan ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn
tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những
chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị. Và văn hóa đọc của giới trẻ cũng từ đó mà lụi
dần đi. Thậm chí mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì
đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng ít giá trị. Sách vở
bây giờ cũng chạy đua cho phù hợp với thị hiếu của người đọc, để có thể thu
được lợi nhuận cao nhất.
Báo chí và văn hóa đọc có mối quan hệ gắn bó. Ở các nước phương Tây,
do tính chất nghề nghiệp và sự phát triển cao của báo chí đã tác động trực tiếp
đến sự phát triển của văn hóa đọc. Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát
triển và tính cạnh tranh ngày càng cao, thì sách và việc đọc sách cũng có những
thay đổi, nhiều hình thức đọc sách mới được xuất hiện.
Khi văn hóa đọc và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng,
không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và
tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân
của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của
người viết, nhà văn hay nhà báo mà bởi ý thức và thị hiếu thẩm mỹ của người


vậy, khán giả của truyền hình được gọi là công chúng. 19

Sự ra đời của báo mạng đã làm thay đổi thói quen tiếp nhận thông tin
trước đây của một bộ phận công chúng đọc giả. Nếu như trước đây công chúng
phải chờ đến một thời điểm nhất định trong ngày, thường là buổi sáng để cầm
một tờ báo in trong tay và đọc nó, hoặc phải chờ đến một giờ nhất định để xem
một chương trình trên ti vi hay trên đài phát thanh.
Hiện nay, với sự ra đời và phát triển vượt bậc của công nghệ internet, báo
mạng có thể đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng vào bất cứ thời điểm nào
trong ngày chỉ qua một cái kích chuột. Bạn chỉ cần trỏ vào các siêu liên kết
(Hyperlink), hay chỉ càn gõ tên địa chỉ (URl) vào máy là nhận được ngay thông
tin yêu cầu. Bởi vậy, muốn đọc báo mạng, người đọc cần phải truy cập internet.
Báo Phát thanh có ngôn ngữ đặc trưng là âm thanh, là lời nói, được phát
thanh viên đọc, kể, thông báo

Công chúng tiếp nhận thông tin qua thính giác.
Do vậy công chúng phát thanh được gọi là thính giả. Đối với báo in, nhà báo
viết thành tác phẩm báo in, người đọc tiếp xúc bằng cách đọc, theo cách truyền
thống và đọc văn bản, đọc báo giấy. Người đọc báo in được gọi là độc giả.
“Văn hoá đọc” trong thời gian gần đây được báo in bàn luận khá nhiều.
Mỗi người có cách nhìn khác nhau, tầm nhìn không đồng nhất, góc nhìn không
giống nhau, điểm nhìn cách biệt nhau, thậm chí còn có ý kiến cho rằng khái
niệm văn hóa đọc chưa hình thành.
Người phương Đông có câu: “Thư trung hữu ngọc”, tức là “Trong sách
có ngọc”. Quả vậy, những bậc vĩ nhân hay những người thành đạt nhất đều nói
rằng một trong những yếu tố có vai trò quan trọng trong việc phát triển và định
hình tư duy của họ là việc đọc sách. Thông tin về văn hóa đọc để phản ánh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status