nghiên cứu quản trị xuất nhập khẩu và thực trạng xuất khẩu nông sản ở việt nam 5 tháng đầu năm 2015 - Pdf 30

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG
SẢN Ở VIỆT NAM 5 THÁNG ĐẦU NĂM 2015
TP. HCM, ngày 10 tháng 06 năm 2015
GVHD : PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn
Lớp : HUI- BBA7A
Sinh viên : Bùi Huy Phương
MSSV : 11212931
BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG
SẢN Ở VIỆT NAM 5 THÁNG ĐẦU NĂM 2015
TP. HCM, ngày 10 tháng 06 năm 2015
GVHD : PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn
Lớp : HUI- BBA7A
Sinh viên : Bùi Huy Phương
MSSV : 11212931
LỜI CÁM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí
Minh, nơi đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được theo học trong suốt thời gian vừa qua. Qua quá
trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nghiên cứu Quản trị xuất nhập khẩu và thực trạng xuất
khẩu nông sản ở Việt Nam 5 tháng đầu năm 2015”, tôi nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ phía
nhà trường, đặc biệt là từ phía PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn - giảng viên trực tiếp hướng dẫn tôi
thực hiện chuyên đề này và Th.S Lê Thúy Kiều giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Quản Trị

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong điều kiện kinh tế thế giới đang vận hành theo xu hướng toàn cầu
hóa, thương mại quốc tế là hoạt động không thể thiếu của mỗi quốc gia. Vì vậy
mà hoạt động xuất nhập khẩu trở thành cầu nối kinh tế giữa các quốc gia với
nhau. Điều này giúp các quốc gia có thể phát huy được những thế mạnh của
mình cũng như điều tiết được nguồn ngoại tệ trong nước. Ở Việt Nam, xuất
khẩu nông sản vẫn duy trì được vị thế của mình trong những năm gần đây, là
một trong những lĩnh vực xuất khẩu quan trọng nhất của nền kinh tế. Để xuất
khẩu nông sản phát triển hơn nữa thì cần có những nhận định đúng đắn từ đó
đưa ra những giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng cũng như đạt
được những mục tiêu nhất định mà nhà nước đã đề ra. Đó cũng là lý do tôi
chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp cho ngành xuất khẩu nông sản của Việt
Nam” để nghiên cứu và làm chuyên đề môn học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Bổ sung thêm lượng kiến thức mới, cũng như đi sâu hơn về môn học.
Nghiên cứu tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong 5 tháng
đầu năm 2015.
Đề xuất một số giải pháp, định hướng nhằm đẩy mạnh và phát triển hoạt
động xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
Chuyên Đề Môn Học 6
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu.
Tìm hiểu về thực trạng xuất khẩu nông sản 5 tháng đầu năm 2015.
Nghiên cứu những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông
sản.
4. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: số liệu thu thập và nghiên cứu được thu thập trong 5 tháng
đầu năm 2015.
Về không gian: nghiên cứu những khái niệm liên quan và nghiên cứu

của pháp luật.
Ngoại thương (hay còn gọi là thương mại quốc tế) là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ
giữa các quốc gia chủ yếu thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu và các hoạt động gia công với
nước ngoài. Ngoại thương giữ vị trí trung tâm trong nền kinh tế đối ngoại.
Kim ngạch xuất khẩu là quy định của một nước về tổng số tiền cao nhất của một loại hàng
hóa được xuất khẩu ra nước ngoài.
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một loại hàng
hóa nhập khẩu vào nước đó.
Quản trị xuất nhập khẩu là chuỗi hoạt động phức tạp, trong đó các nhà quản trị tổ chức mọi
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nói một cách cụ thể hơn, quản trị xuất nhập khẩu là tổng
hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trong một
đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu nhằm đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Thực
Chuyên Đề Môn Học 9
chất của hoạt động quản trị xuất nhập khẩu là quản trị các hoạt động của con người và thông qua
đó quản trị mọi yếu tố khác liên quan đến toàn bộ quá trình kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu của
doanh nghiệp với mục tiêu là giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và hiệu quả trong điều kiện
môi trường kinh doanh thường xuyên biến động.
1.1.2 Vai trò
- Vai trò của Nhập khẩu:
Có vai trò quan trọng trong sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn tư liệu sản xuất,
và bổ sung quỹ hàng hoá tiêu dùng, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện
các mục tiêu cơ bản về kinh tế - xã hội của đất nước.
Kim ngạch nhập khẩu của một nước tăng lên, có thể mở rộng nhập khẩu, đáp ứng nhu cầu
xây dựng, sản xuất trong nước, nhưng kim ngạch nhập khẩu tăng lên quá nhiều, có thể làm giảm
thu nhập quốc dân, hạn chế nhu cầu tiêu dùng trong nước, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
Trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chính sách nhập khẩu của Việt Nam là ưu tiên
nhập khẩu thiết bị, công nghệ tiên tiến, vật tư để phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo hộ sản xuất trong nước có chọn lọc, đúng mức, có
hiệu quả.

điều kiện thương mại quốc tế. Khi được chọn, tạo thành một điều khoản của hợp đồng mua bán
quy định vấn đề chuyên chở hàng hóa và thông quan xuất nhập khẩu.
Chuyên Đề Môn Học 11
Mục đích của Incoterms là cung cấp một bộ qui tắc quốc tế để giải thích những điều kiện
thương mại thông dụng nhất trong ngoại thương. Incoterms làm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi
phí và rủi ro trong quá trình chuyển hàng từ người bán đến người mua.
Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất của Incoterms, và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1
năm 2011. Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện, là kết quả của việc thay thế bốn điều kiện cũ
trong Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai điều kiện mới là DAT và DAP. 11 điều
kiện Incoterms 2010 được chia thành hai nhóm riêng biệt:
- Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
o EXW: Giao tại xưởng.
o FCA: Giao cho người chuyên chở.
o CPT: Cước phí trả tới.
o CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới.
o DAT: Giao tại bến.
o DAP: Giao tại nơi đến.
o DDP: Giao hàng đã nộp thuế.
- Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
o FAS: Giao dọc mạn tàu.
o FOB: Giao lên tàu.
o CFR: Tiền hàng và cước phí.
o CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí.
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức
vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương thức vận tải.
Nhóm này gồm các điều kiện EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP. Chúng có thể được dùng
khi hoàn toàn không có vận tải biển. Tuy vậy, các điều kiện này cũng có thể được sử dụng khi một
phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển.
Nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tới người mua đều là cảng
biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện “đường biển và đường thủy nội địa”. Nhóm

yêu cầu. Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân
hàng để nhận tiền thanh toán.
- Phương thức tín dụng chứng từ (Doccumentary Credits)
Là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng cam kết sẽ
trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát
trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.
- Thư tín dụng (Letter Of Credits)
Thư tín dụng thương mại là một văn bản do một ngân hàng phát hành theo yêu cầu của
người nhập khẩu cam kết trả tiền cho người xuất khẩu một số tiền nhất định, trong một thời gian
nhất định với điều kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong lá
thư đó.
1.4 Hợp đồng Ngoại Thương
1.4.1 Các bước thực hiện hợp xuất nhập khẩu
- Đối với hợp đồng xuất khẩu:
o Làm thủ tục xuất khẩu theo quy định của Nhà nước.
o Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán.
o Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu.
o Làm thủ tục hải quan.
o Thuê phương tiện vận tải.
o Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu.
o Lập bộ chứng từ thanh toán.
o Khiếu nại.
o Thanh lý hợp đồng.
- Đối với hợp đồng nhập khẩu:
o Làm thủ tục nhập khẩu theo quy định của Nhà nước.
o Thực hiện những công việc bước đầu của khâu thanh toán.
o Thuê phương tiện vận tải.
o Mua bảo hiểm.
Chuyên Đề Môn Học 14

hàng hóa đã được an toàn về mặt dịch bệnh, sâu hại…
- Phiếu đóng gói (Packing List)
Là chứng từ hàng hóa liệt kê tất cả những mặt hàng, loại hàng được đóng gói trong từng
kiện hàng và toàn bộ lô hàng được giao.
Chuyên Đề Môn Học 16
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU NÔNG SẢN TẠI VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu tổng quan về ngành nông sản Việt Nam
Từ ngàn xưa Nông nghiệp đã là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam.Từ sau năm 1975,
khi đất nước được giải phóng cho đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, tuy nhiên
không còn là nước nông nghiệp thuần túy nữa mà Việt Nam đã trở thành một ngước Nông - Công
nghiệp. Giờ đây các sản phẩm trong nông nghiệp đã ngày một đa dạng hơn, phong phú hơn cả về
chủng loại, mẫu mã và ngày một hoàn thiện hơn về chất lượng. Từ một nền Nông Nghiệp nghèo
nàn lạc hậu, không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân, thì giờ đây
Nông Nghiệp Việt Nam đã không những cung cấp đủ lương thực thực phẩm cho thị trường trong
nước mà còn vươn ra các thị trường nước ngoài. Nhà nước ta đã xác định nông sản là mặt hàng
xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước.
Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới, hàng nông sản của chúng ta đã có
mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có những thị trường lớn rất khó tính
như: EU, Mỹ và Nhật Bản. Thực tế đã chứng minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể
trong việc nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường trên thế
giới. Tuy nhiên, để hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên những thị trường này lại là một
vấn đề không đơn giản. Trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế, nông nghiệp luôn giữ vai trò
quan trọng và đã tạo thế ổn định cho cả nền kinh tế. Đặc biệt, vào những thời điểm cam go nhất
của nền kinh tế, nông nghiệp và xuất khẩu nông sản đã thể hiện rõ vai trò là nền tảng và tạo ra lợi
thế cạnh tranh cho Việt Nam trên trường quốc tế.
Chuyên Đề Môn Học 17
2.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu ngành nông sản tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm
2015
Nhóm hàng nông sản đạt 1.475,8 triệu USD, chiếm tỷ trọng 16,8%, giảm 15,2% so cùng

trọng điểm của Việt Nam. Ngược lại, châu Phi là nơi cung cấp nguyên liệu điều thô cho các doanh
nghiệp chế biến trong nước, bên cạnh đó, Ấn Độ và một số nước Nam Á cũng là nhà xuất khẩu
hạt điều lớn. Trong khu vực, chỉ có UAE, I-xra-en, Nam Phi là nước nhập khẩu hạt điều từ Việt
Nam để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Kim ngạch xuất khẩu hạt điều sang hai thị trường
nói trên trong 5 tháng đầu năm 2015 đạt lần lượt 2,8 và 1,5 triệu USD. Gạo: Là nông sản xuất
khẩu chủ lực nhất của Việt Nam sang châu Phi, Tây Á khi chiếm tới 27% tổng kim ngạch xuất
khẩu các loại nông lâm thủy sản sang khu vực này và chiếm tỉ trọng 26% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu gạo của cả nước. Năm tháng đầu năm, xuất khẩu gạo sang khu vực này tăng trưởng rất
cao, đặc biệt là một số thị trường nhập khẩu chính tại châu Phi đã quay lại nhập khẩu số lượng lớn
gạo của Việt Nam. Nếu công tác thị trường được quan tâm đúng mức, gạo Việt Nam bảo đảm
được chất lượng và giá cả cạnh tranh thì châu Phi và một số nước Tây Á sẽ là thị trường tiềm năng
đóng vai trò là nơi tiêu thụ gạo rất lớn cho Việt Nam do nhu cầu tiêu thụ của người dân ở khu vực
này còn rất lớn. Đáng chú ý là hai thị trường Ghana và Bờ Biển Ngà đang khôi phục việc nhập
khẩu gạo từ Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu gạo sang hai nước này đạt lần lượt là 30,1 và 22,3
triệu USD, đóng vai trò là những nước nhập khẩu gạo chủ chốt của Việt Nam trong khu vực.
Chuyên Đề Môn Học 19
Chè: Trong thời gian qua, chè của Việt Nam được chủ yếu xuất khẩu sang Pakistan, kim
ngạch đạt 10,1 triệu USD, chiếm hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu chè sang khu vực. Mặt khác,
tuy kim ngạch xuất khẩu mặt hàng chè sang cả khu vực này không cao nhưng cũng chiếm tới 46%
tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Trong năm 2015, công tác xúc tiến thị
trường cần đẩy mạnh ở một số nước Nam Á cũng như tìm kiếm khả năng mở rộng xuất khẩu chè
sang một số nước Trung Đông do đây cũng là khu vực có nhu cầu tiêu thụ chè rất lớn.
Rau quả: Kim ngạch xuất khẩu sang khu vực thị trường châu Phi, Tây Á Nam Á của các
loại rau quả còn rất khiêm tốn, một số ít chỉ mới được xuất khẩu sang các nước vùng Vịnh. Đặc
biệt, Tây Á có nhu cầu nhập khẩu rau quả rất lớn do dân số đông, điều kiện thời tiết không thuận
lợi cho sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, trước mắt, doanh nghiệp cần đẩy mạnh công tác xúc tiến thị
trường, giới thiệu sản phẩm một số loại hoa quả, hoặc nông sản đặc sản nói chung sang khu vực
này.
Cao su: Thời gian qua, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ tăng cường nhập khẩu cao su tự nhiên của Việt
Nam để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến. Nhìn chung, tiềm năng

Từ khi áp dụng chính sách mở cửa, lượng khách hàng tiềm năng không còn tập trung ở
những quốc gia lân cận nữa mà trải rộng ra thế giới. Tạo điền kiện thuận lợi giao thương với các
nước khác ngoài khu vực. Ví dụ như quốc gia láng giềng Trung Quốc hiện vẫn là thị trường xuất
khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu của nhóm hàng nông sản, thủy sản (bao
Chuyên Đề Môn Học 21
gồm cả gạo) chiếm tỷ trọng hơn 31% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
sang Trung Quốc và chiếm gần 21% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.
Giá trị xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc tăng từ 1,5 tỷ USD từ năm 2000 tăng lên 13,3
tỷ USD tính đến quý I năm 2015. Nhiều sản phẩm nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc với
tỷ trọng lớn như gạo, cao su, trái cây…; trong đó riêng lúa gạo và cao su, kim ngạch xuất khẩu
sang Trung Quốc chiếm khoảng 40%. Đối với các sản phẩm nông sản khác như thanh long, bột
sắn, dưa hấu, vải thiều thị trường Trung Quốc chiếm tới 80 – 90% tỷ trọng xuất khẩu của Việt
Nam.
2.3.2 Khó khăn
Thứ nhất, Trung Quốc vẫn là thị trường hấp dẫn đối với những doanh nghiệp tại Việt Nam,
những một thực tế chỉ ra rằng: Tuy việc buôn bán với thương lái Trung Quốc đang giúp một số
nông sản tiêu thụ tốt và người trồng có lãi. Nhưng nhìn chung việc buôn bán với thị trường này
luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro nhiều hơn là có lợi khi những thương lái Trung Quốc thường có cách
thức thu mua khá kỳ cục, rất dễ gây rối loạn thị trường, rớt giá hàng thậm chí là làm mất uy tín
thương hiệu sản phẩm. Ngoài ra, việc xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc đang chủ yếu theo
đường tiểu ngạch, không có hợp đồng hay ràng buộc cụ thể. Việc nhập hàng của thị trường này
cũng khá thất thường và hay bị dừng đột ngột, mỗi lần như vậy thì hàng hóa trong nước sẽ bị tồn
đọng, rớt giá thảm hại thậm chí phải đổ bỏ số lượng lớn ngay tại cửa khẩu. Theo số liệu của Việt
Nam, chúng ta nhập khẩu từ Trung Quốc khối lượng 37 tỷ USD. Nếu tính theo số liệu của Trung
Quốc thì con số này lên tới 42 tỷ USD Hiện cũng chưa có một chính sách cụ thể trong việc buôn
bán với các thương lái Trung Quốc, việc đặt hàng, trả tiền thường do thương lái nước này tự
quyết, nên người nông dân và thương lái Việt luôn ở thế bị động.
Thứ hai, sự cạnh tranh về giá luôn là vấn đề gây khó khăn đối với các doanh nghiệp xuất
khẩu. Đăc biệt với mặt hàng dầu thô, dầu thô đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt về giá của
Chuyên Đề Môn Học 22

giá cả, bao bì, chất lượng, vận chuyển với các nguồn cung cho Nga. Thêm vào đó những rào cản
kỹ thuật về thuế quan, vệ sinh an toàn thực phẩm…phía Nga đang áp dụng cho nông sản Việt luôn
chặt chẽ. Về vấn đề thanh toán điện tử vẫn gặp nhiều khó khăn do việc chuyển đổi từ đồng Rup
sang tiền đồng chưa thuận tiện. Phía bên Nga chọn chế độ thanh toán chậm tức là chỉ đặt cọc 20%
khi nhận hàng thì trả 80% còn lại. Trong khi các ngân hàng ở Việt Nam chưa có chính sách hỗ trợ
phương thức thanh toán trả chậm khiến các doanh nghiệp xuất khẩu chìm trong các khoản nợ khó
đòi từ đối tác Nga. Thêm nữa, việc vận chuyển hàng hóa sang Nga phải quá cảnh tại các cảng
Châu Âu hoặc nếu tiếp cận từ các cảng phía Đông Nga thì phải di chuyển một cung dường dài từ
Đông sang Tây khiến chi phí phát sinh rất lớn. Đặc biệt, thuế phí quá cao nhiều doanh nghiệp phải
“bó tay” lắc đầu với giấc mơ Nga. Trước đó, thời điểm Nga chưa tham gia WTO thuế các mặt
hàng này được đẩy lên 40% -60%. Theo cam kết từ phía Nga khi vào WTO mức thuế trung bình
vào thị trường Nga là 7,8-9,5%. Thuế trung bình nhóm hàng nông sản là 10,8%-13,2%. Tuy được
hỗ trợ song các nông sản muốn sang Nga vẫn khó khăn. Chẳng hạn, để xuất được một túi chè 3kg
sang Nga bị áp thuế tới 40%, thủy sản 6-15%, rau củ 11,7-15%, trái cây, nấm 15%, cao su 5% ở
trường hợp đặc biệt thuế xuất có thể cao hơn nữa.
2.4 Giải pháp cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam
Mặc dù, Trung Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của nước ta, nhưng
không nên vì thế mà ồ ạt tấn công vào thị trường này. Dù là nước láng giềng, nhưng chúng ta luôn
bị Trung Quốc “làm khó” với những hoạt động như thu mua lượng lớn với giá cao để nông dân
Chuyên Đề Môn Học 24
tập trung sản xuất, gây ra tình trạng ứ đọng, sau đó ép giá, mua rẻ…gây khó khăn cho doanh
nghiệp trong nước và chính bản thân người nông dân. Vì vậy, Nhà nước cần có những tuyên
truyền cho nông dân để không mắc phải những sai lầm như những năm vừa rồi.
Nhà nước nên áp dụng chính sách hỗ trợ giá đối với những doanh nghiệp xuất khẩu. Rà
soát lại những doanh nghiệp thành lập nhằm mục đích phá giá trên thị trường. Ngoài ra, tăng
cường những chính sách hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản.
Những khoản đầu tư bằng tiền và công nghệ cần được quan tâm. Tín dụng cho nông
nghiệp, nông thôn và nông dân cần được triển khai với các hình thức thiết thực và hiệu quả hơn.
Ðặc biệt, các bộ, ngành chức năng cần rà soát lại các chính sách đầu tư cho nông nghiệp, tháo gỡ
vướng mắc để cả doanh nghiệp và nông dân đều được hưởng lợi trong quá trình sản xuất, chế biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status