SKKN xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới cận đại, SGK lịch sử 11, ban cơ bản – THPT - Pdf 30

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử là một trong các môn học có vai trò rất quan trọng trong việc giáo
dục thế hệ trẻ ở trường phổ thông. Thực tế cho thấy, lịch sử không chỉ là môn học
truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn, nó còn góp phần xây dựng nhân cách và
phát triển tư duy toàn diện cho các thế hệ thanh, thiếu niên. Ngay từ thời cổ đại
người ta đã xem lịch sử “là cô giáo của cuộc sống”, “là bó đuốc soi đường đi đến
tương lai”[4,219], vai trò này đến ngày nay vẫn không hề thay đổi. Tuy nhiên, thực
tiễn dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn đang là vấn đề được xã hội
quan tâm. Trong vài năm gần đây, việc dạy - học lịch sử ở trường phổ thông tuy đã
có những bước tiến đáng kể về nhận thức, nội dung và phương pháp dạy học,
nhưng vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại, chất lượng của bộ môn so với nhiều môn
học khác như Vật Lí, Hóa học, Toán học, Văn học,… vẫn còn rất thấp.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng như trên? Có rất nhiều nguyên
nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó những nguyên nhân chủ yếu như: quan niệm
chưa đúng về bộ môn, từ cấp quản lí đến giáo viên, phụ huynh và các em học sinh
đều coi Lịch sử là môn phụ. Vì vậy, việc đầu tư về cơ sở vật chất, thời gian cho dạy
học của bộ môn chưa nhiều, học sinh thường học tập đối phó, làm cho giáo viên
mất hứng thú trong giảng dạy. Ngoài ra, do những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường, ngay từ khi học sinh bước vào cấp ba, cả phụ huynh và học sinh đã xác
định khối thi vào đại học cho học sinh chủ yếu là khối A,B, số lượng xác định và
thi vào khối C rất ít. Từ đó, học sinh tập trung các môn thi theo khối mình đã lựa
chọn, các môn còn lại như Lịch sử, Địa lí chỉ học để đối phó. Tuy nhiên, nguyên
nhân quan trọng được dư luận xã hội quan tâm hiện nay chính là phương pháp dạy
của thầy và việc học lịch sử của học sinh. Nói đến dạy - học là nói đến các công
việc của thầy - trò, vì vậy phương pháp dạy học của thầy và việc học của trò ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng bộ môn. Tình trạng dạy học theo kiểu thầy đọc, trò
chép đã khiến cho học sinh học lịch sử luôn cảm thấy nhàm chán, việc học của các
em trở nên thụ động, chỉ chép và học theo những gì giáo viên cho ghi,…
Để thay đổi chất lượng bộ môn lịch sử, chúng ta đã thực hiện những biện
pháp nhằm khắc phục những nguyên nhân trên. Chúng ta đã thực hiện đổi mới sách

mới mẻ, chưa có một tác giả, một công trình nào đi sâu tìm hiểu. Xuất phát từ
nguồn tư liệu hỗ trợ dạy học bộ môn, từ việc sử dụng những hình ảnh trong dạy học
lịch sử, chúng tôi xin liệt kê một số công trình, tài liệu và bài viết có liên quan đến
đề tài như sau:
2
Trước hết là giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (hai tập) xuất bản
năm 2002, các nhà giáo dục lịch sử như: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng,
Nguyễn Thị Côi đã đề cập đến sự cần thiết của việc sử dụng tài liệu tham khảo
ngoài sách giáo khoa “Do đặc trưng của việc học tập lịch sử, các tài liệu khác góp
phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ, các tài liệu này là
phương tiện có hiệu quả để hiểu rõ hơn sách giáo khoa” [5,92]. Đồng thời các tác
giả cũng đã khảng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong
dạy học lịch sử, trình bày cụ thể các loại đồ dùng trực quan, nguyên tắc và phương
pháp sử dụng chúng, nhấn mạnh “việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học
lịch sử hiện nay không chỉ giới hạn ở việc sử dụng bản đồ, tranh ảnh, mô hình mà
còn có các loại phương tiện kỹ thuật hiện đại”[5,61].
Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử”, tập thể tác
giả: Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Lại Đức Thụ, Trần Đức Minh đã trình bày
một cách tổng quan về kỹ năng xây dựng và sử dụng các loại hồ sơ tư liệu dạy học
lịch sử. Các tác giả đã nêu ra mục đích, ý nghĩa của hồ sơ tư liệu đối với việc dạy
học lịch sử, các loại hồ sơ, kỹ năng sưu tầm, tích luỹ và thiết lập hồ sơ tư liệu dạy
học lịch sử.
Cuốn: “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” của GS. Nguyễn Thị Côi tuy không đề cập trực tiếp nhưng sâu
xa trong đó là yêu cầu về vấn đề phải sử dụng tư liệu, tư liệu điện tử trong dạy học
lịch sử để có thể thực hiện được các biện pháp nâng cao hiệu quả bài học, kể cả
công việc chuẩn bị và giảng dạy trên lớp đối với giáo viên và việc học tập của học
sinh nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.
“Giáo án và tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử lớp 11” của tập thể các tác
giả: Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Côi, Lê Thị Thu (bao

Từ phạm vi của đề tài nêu ở trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng hồ sơ
tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử nói chung và lịch sử lớp 11 THPT nói riêng.
- Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa lớp 11 (ban chuẩn và nâng cao) để
bám sát nội dung chương trình lịch sử ở trường phổ thông khi sưu tầm và xây dựng
hồ sơ tư liệu dạy học điện tử lớp 11.
- Sưu tầm các hình ảnh, tư liệu tham khảo, qua đó thiết kế và xây dựng hồ sơ tư liệu
điện tử phục vụ dạy học môn lịch sử lớp 11 ở trường THPT có sự hỗ trợ của CNTT.
4
- Đề xuất phương pháp và phương pháp luận khi sử dụng những tư liệu đã
xây dựng trong hồ sơ tư liệu dạy học điện tử đã nêu theo tinh thần phát huy tính
tích cực của học sinh.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên những lí luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước ta về
giáo dục, khoa học lịch sử và đào tạo thế hệ trẻ.
Ngoài ra, đề tài còn dựa trên lí luận của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử,
Tâm lí học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học lịch sử,
Bên cạnh việc bám sát những phương pháp nghiên cứu thuộc chuyên ngành
Lí luận và phương pháp dạy học môn lịch sử, do đặc trưng của đề tài, chúng tôi còn
áp dụng một số phương pháp khác như sưu tầm, chọn lọc, xác minh, đánh giá, xử lí
nguồn tư liệu. Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp lại nguồn tư liệu và xây dựng hồ
sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến cổ đại trên CD-
Rom, phục vụ dạy học phần lịch sử có liên quan.
5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài được thực hiện sẽ góp phần bổ sung, nâng cao trình độ lí luận dạy học nói chung,
dạy học lịch sử nói riêng cho bản thân, góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu điện tử,
nâng cao hiệu quả khi vận dụng CNTT vào trong dạy học lịch sử .
Từ việc nắm được các vấn đề lí luận, thực hiện bài tập này sẽ giúp bản thân
nắm vững hơn kiến thức của bộ môn, thực tế về hồ sơ tư liệu điện tử trong chương

nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành. Thực hiện một cách hoàn
chỉnh các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và phát triển, nâng cao sự hiểu biết của
học sinh. Cụ thể:
Về kiến thức: Bộ môn Lịch sử ở trường THPT có nhiệm vụ cung cấp cho
học sinh những kiến thức cơ bản, bao gồm sự kiện, hiện tượng, các khái niệm, thuật
ngữ, tên người, tên đất, niên đại,…của lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc;
những hiểu biết về quan điểm lý luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp
nghiên cứu và học tập phù hợp với yêu cầu và trình độ của học sinh.
Về tư tưởng, tình cảm: Vấn đề giáo dục cho học sinh những quan điểm tư
tưởng tình cảm, lập trường, phẩm chất, đạo đức, nhân cách… qua bộ môn Lịch sử
là một yêu cầu quan trọng. Bởi vì, tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giúp các
em phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, niềm tin, góp phần đào tạo con
6
người Việt Nam XHCN. Việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh qua môn
lịch sử được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
- Lòng yêu nước XHCN, yêu quê hương – một biểu hiện của lòng yêu nước
trong lao động sản xuất cũng như trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ
quốc.
- Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc
lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hoà bình dân chủ.
- Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân tộc, dù trong tiến
trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu, tạm thời thụt lùi hay dừng lại.
- Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
- Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng,…
Về mặt phát triển: Rèn luyện các năng lực tư duy và thực hành trên cơ sở
hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường THCS:
- Phát triển tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích,
đánh giá, so sánh, … các vấn đề lịch sử.
- Bồi dưỡng kỹ năng học tập và thực hành bộ môn khi sử dụng sách giáo
khoa, đọc các tài liệu tham khảo, khả năng diễn đạt ngôn ngữ lịch sử, làm và sử

khách quan một cách độc lập, phát hiện và chứng minh những cái mà loài người
chưa hề biết đến trong tự nhiên, xã hội và tư duy để tìm ra những chân lý mới, quy
luật mới, bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, thì nhận thức của học sinh qua
môn lịch sử không phải như vậy. Đó không phải là việc tìm ra cái mới, cái chưa
biết mà các em phải tái tạo lại những tri thức lịch sử đã được thừa nhận, những tri
thức tinh giản nhưng khoa học, tạo cơ sở cho các em khôi phục bức tranh quá khứ.
Nhận thức lịch sử của học sinh đi từ cơ sở ban đầu là nắm vững các sự kiện
lịch sử. Nhưng do đặc trưng của môn lịch sử là không lặp lại, không thí nghiệm
được, học sinh không thể trực tiếp quan sát sự kiện hiện tượng lịch sử được. Cho
nên, nhận thức lịch sử không thể bắt đầu từ cảm giác mà rất phức tạp. Quá trình
học tập lịch sử của học sinh bao giờ cũng đi từ quá khứ đến hiện tại, từ “xa đến
gần” nhưng nhận thức của các em lại đi từ “gần đến xa”, chính vì thế học sinh dễ
rơi vào tình trạng “hiện đại hoá” lịch sử. Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần
tạo cho học sinh một biểu tượng chân thực về quá khứ thông qua việc sử dụng
nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học và thao tác sư phạm. Quá trình hình thành
kiến thức lịch sử là quá trình học sinh đi từ không đến có, chưa biết đến biết, biết
không đầy đủ đến nắm bắt sâu sắc các sự kiện, hiện tượng. Trên cơ sở các sự kiện,
học sinh trải qua quá trình tạo biểu tượng và giai đoạn tiếp theo là hình thành khái
8
niệm. Muốn có khái niệm thật sâu sắc lâu dài, cần dựa trên cơ sở biểu tượng phong
phú, chính xác, sinh động. Bởi vì, không có biểu tượng sẽ không có khái niệm
hoặc khái niệm nếu được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn cũng là khái
niệm rỗng, không có nội dung phong phú, làm cơ sở cho nhận thức quá khứ thì
phương pháp trực quan là phương pháp khả thi và tối ưu nhất bên cạnh sử dụng
các phương pháp dạy học khác.
Cũng giống như với nhiều môn học khác như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa
lí,… Lịch sử có nhiều ưu thế và sở trường khi ứng dụng CNTT vào dạy học, giúp
học sinh dễ dàng nhận thức những cái quá khứ đã qua, qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả bài học. Đặc biệt, việc sử dụng hệ thống kênh hình khi có sự hỗ trợ của
CNTT thì CNTT giống như chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, có thể đưa học

chúng phải có sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật, điện tử.
1.1.3.2 Tầm quan trọng của việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học
điện tử môn lịch sử ở trường THPT.
Học tập lịch sử không chỉ để “biết” quá khứ, mà trên cơ sở “biết”, các em
còn phải “hiểu” sâu sắc, ngọn ngành. Chính vì vậy, mở đầu quyển “Lịch sử nước
ta” Hồ Chí Minh đã viết:
“ Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
“Biết” để “tường” tức là hiểu cặn kẽ, chính xác. Như vậy học lịch sử là để
hiểu chứ không chỉ để biết. Sự hiểu biết sâu sắc và biện chứng lịch sử như vậy góp
phần tích cực vào việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đã đề
ra. Sự hiểu biết này phải được xây dựng trên cơ sở trang bị cho các em khả năng
nắm vững kiến thức khoa học, năng lực độc lập tư duy, biết vận dụng kiến thức đã
học vào thực tiễn. Trong dạy học, lời nói có vai trò quan trọng để tạo biểu tượng và
hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh. Nhưng, dù lời nói có sinh động, có hình
ảnh đến đâu cũng không thể thay thế cho việc sử dụng đồ dùng trực quan. Cho nên,
phương châm chống “dạy chay” là hợp lý và đúng đắn. Khai thác và sử dụng tốt
các nguồn tư liệu trong hồ sơ tư liệu dạy học điện tử của giáo viên như tranh ảnh,
sơ đồ, lược đồ lịch sử, do giáo viên tự sưu tầm, xây dựng sẽ có vai trò, ý nghĩa
quan trọng trong việc bồi dưỡng nhận thức ở học sinh.
Về mặt kiến thức, sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử sẽ góp
phần quan trọng vào tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh. Thông qua hệ thống tín
10
hiệu thứ nhất, đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nói riêng sẽ tác động vào
giác quan, đem lại những biểu tượng lịch sử chính xác, trung thực cho học sinh.
Mặc dù vốn kiến thức lịch sử của học sinh cấp III đã khá phong phú, nhưng các em
vẫn có thể rơi vào “hiện đại hoá” lịch sử. Chính các nguồn tư liệu của giáo viên,
trong đó có tư liệu điện tử là hình ảnh - đồ dùng trực quan sẽ giúp các em khắc
phục khuynh hướng sai lầm này, giúp các em hình dung và tưởng tượng quá khứ
hiện thực. Nhìn một mảnh tước, một chiếc rìu đá, mảnh gốm, …học sinh dễ dàng

gắng thu thập, xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học từ sớm. Đối với những thế hệ giáo
viên trẻ thì vấn đề này được trú trọng ngay khi đang trong quá trình học tập, rèn
luyện của mỗi người ở các trường đại học. Môn Lịch sử là một môn học đã được
giảng dạy có thâm niên nhiều năm. Vì thế nên các vấn đề lịch sử nói chung đều có
rất nhiều tài liệu viết về chúng ở những khía cạnh khác nhau. Hồ sơ tư liệu dạy học
lịch sử qua thời gian, qua các thế hệ đã được nhiều giáo viên xây dựng thành những
bộ hồ sơ công phu và rất sẵn cho việc dạy học. Tuy nhiên, số lượng giáo viên và
những bộ hồ sơ tư liệu như vậy không phải là nhiều. Trong dạy học lịch sử còn
không biết bao nhiêu thầy cô không có được hồ sơ tư liệu đủ để phục vụ công tác
giảng dạy. Hầu hết chỉ khi nào cần đến tư liệu thì mới có sự tìm kiếm, còn hàng
ngày chỉ có những sách phục vụ cho việc giảng dạy trênn lớp một cách đơn thuần.
Thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn
lịch sử còn đáng buồn hơn. Chúng ta không phủ nhận một điều rằng một số giáo
viên hiểu biết nhiều về CNTT, thường sử dụng CNTT để phục vụ việc dạy học lịch
sử thì rất say sưa sưu tầm tư liệu điện tử, tập hợp được nhiều nguồn tài liệu quý giá,
phục vụ cho việc xây dựng bài giảng điện tử trên lớp. Song nhìn chung, đa phần
các giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận và biết sơ qua về CNTT nên ít ứng
dụng vào bài giảng, chưa có được hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử. Ngay
việc sử dụng đồ dùng trực quan vào kênh hình vào quá trình dạy học lịch sử cũng
chưa được coi trọng. Đa số các giáo viên đều “dạy chay” trong quá trình dạy học
lịch sử. Việc ứng dụng CNTT vào dạy học chưa đại trà mà chỉ dừng lại ở những
tiết dạy thật cần thiết, hay những tiết dạy dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh.
Nhiều giáo viên chưa thấy được sự cần thiết trong việc xây dựng và sử dụng hồ sơ
tư liệu dạy học điện tử.
Trước thời đại CNTT hiện nay, tại sao việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư
liệu dạy học điện tử lịch sử lại như vậy? Xét về nguyên nhân của thực trạng này
trước tiên chúng ta phải xét từ phía giáo viên. Nhiều giáo viên chưa tích cực tự cập
12
nhật các kỹ năng cũng như kiến thức cần thiết về CNTT để ứng dụng trong dạy học
lịch sử, có khi chỉ tham dự những lớp xoá mù về CNTT mà chưa đi sâu tìm hiểu

13
những con người hoàn thiện trong cả một quá trình. Vì thế nó đòi hỏi người giáo
viên phải thực sự yêu nghề, say mê với công việc, có ý thức cải tiến, nâng cao chất
lượng dạy học bộ môm. Đối với giáo viên dạy môn lịch sử thì yêu cầu này càng cao
do dặc trưng của bộ môn mà chúng ta đã biết. Nếu như người giáo viên dạy sử
không làm được điều đó, thì sẽ không tạo ra được những bài giảng gây hứng thú
học tập cho học sinh, thu hút học sinh vào công việc học tập. Như thế thì các em
học sinh sẽ cảm thấy nặng nề khi đón nhận bài học của giáo viên và sẽ chán học
lịch sử.
Giáo viên cần nhận thức được kiến thức lịch sử được viết trong sách giáo
khoa là rất cơ bản, trọng tâm. Nhưng nếu giáo viên chỉ “đọc lại” những gì mà các
tác giả viết sách giáo khoa đã viết, rồi “nói lại” cho học sinh nghe, thì chẳng khác
gì là lối dạy truyền thụ một chiều “thầy đọc trò chép”. Vì vậy, để bài giảng thêm
sinh động, giáo viên phải tìm hiểu và đọc nhiều nguồn tư liệu tham khảo khác, phải
sưu tầm và khai thác các hình ảnh lịch sử, bản đồ lịch sử, giúp học sinh được “trực
quan sinh động” để “tư duy trừu tượng” dễ dàng khi học lịch sử. Xây dựng và sử
dụng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phục vụ dạy học bộ môn với sự hỗ trợ của
CNTT sẽ là biện pháp quan trọng giúp học sinh hứng thú hơn khi học lịch sử.
Tuy nhiên, không phải lúc nào người giáo viên cũng ý thức, tự giác, sẵn sàng làm những
công việc ấy; mà chỉ khi nào người giáo viên nhận thấy vai trò, trách nhiệm của mình cần phải
không ngừng nâng cao chuyên môn, phương pháp và nghiệp vụ, góp phần nâng cao chất lượng
bộ môn thì giáo viên mới bỏ công sức để đầu tư, cải tiến việc đổi mới phương pháp, trong đó có
xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học.
1.3.2 Có trình độ và hiểu biết nhất định về CNTT để xử lí, xây dựng hồ sơ
Để xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử môn lịch sử, ngoài ý tưởng, giáo
viên còn phải có kỹ năng và hiểu biết nhất định về CNTT để xây dựng và xử lịch lý
nguồn tư liệu. Ví như, xử lý hình ảnh lịch sử cho rõ, nét phải cần đến kĩ thuật
Photoshops, Paint; hoặc xây dựng bản đồ “động” trên phần mềm Microsoft
PowerPoint phải cần đến những hiểu biết về ứng dụng phần mềm này trong dạy
học. Hơn nữa, việc tạo ra các tệp hồ sơ tư liệu như “Khái niệm lịch sử”, “Tranh

liệu điện tử nên phần tranh ảnh, bản đồ, bản đồ động, lược đồ lịch sử được xử lí,
xây dựng trên máy vi tính và thể hiện trong đĩa CD-Rom, khi sử dụng cần có sự hỗ
trợ của CNTT. Chính vì thế độ chính xác của máy móc là rất cao.
15
CHƯƠNG 2 - XÂY DỰNG HỒ SƠ TƯ LIỆU DẠY HỌC
ĐIỆN TỬ PHẦN LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI, SGK LỊCH SỬ
LỚP 11, BAN CƠ BẢN - THPT
2.1 Vị trí, ý nghĩa của việc xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử
thế giới cận đại trong dạy học lịch sử lớp 11 THPT
Phần lịch sử thế giới cận đại là phần đầu tiên trong chương trình lịch sử thế
giới lớp 11 THPT, do đó nó có vị trí rất quan trọng, mang ý nghĩa mở đầu của
chương trình lịch sử thế giới. Phần này nói về lịch sử các nước châu Á, châu Phi và
Mĩ Latinh cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Là phần mở đầu của lịch sử thế giới lớp 11, cũng là phần tiếp nối của lịch sử
thế giới lớp 10 nên đây chính là những kiến thức quan trọng giúp các em nhận thức
rõ hơn về thời kì lịch sử thế giới cận đại. . Tuy phần này rất ngắn, chỉ trong năm bài
nhưng rất quan trọng cho sự nhận thức về lịch sử (kể cả lịch sử thế giới và lịch sử
dân tộc). Chính vì vậy, phần lịch sử thế giới cận đại này có vị trí không thể thay thế
trong chương trình lịch sử thế giới lớp 11 THPT.
Chúng ta đã khẳng định rằng, phần lịch sử thế giới cận đại của lớp 11 đóng
vai trò quan trọng cho sự hiểu biết lịch sử về sau, song về mặt thời gian nó cách
khá xa so với ngày nay, học sinh sẽ rất khó khăn khi học tập và tìm hiểu về những
dấu tích còn lại của quá khứ thông qua bài giảng của giáo viên. Chương trình dạy
học lịch sử của chúng ta lại đi theo tiến trình là đi từ xa đến gần, ngược lại quy luật
nhận thức của học sinh (đi từ gần đến xa). Chính vì thế, việc học tập của các em
học sinh gặp khó khăn rất nhiều trong tư duy, nó rất trừu tượng, khó hình dung và
tưởng tượng về quá khứ. Vì vậy, việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học
điện tử phần lịch sử thế giới từ nguyên thủy đến cổ đại sẽ tạo ra một tập hợp các tư
liệu điện tử giúp cho giáo viên có thể tìm hiểu, tham khảo, sử dụng chúng trong quá
trình giảng dạy. Kết hợp với sự hỗ trợ của CNTT, bài giảng của giáo viên sẽ giúp

là các Á, Phi, Mĩ Latinh.
Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, trong khi các nước Âu - Mỹ đã
chuyển sang chủ nghĩa đế quốc có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, thì các
nước Á, Phi, Mĩ Latinh vẫn là các nước phong kiến lạc hậu, nhưng lại có điều
kiện đất đai rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân công lao động
đông. Chính vì vậy các nước Á, Phi, Mĩ Latinh đã trở thành con mồi trong
cuộc săn tìm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Đứng trước nguy cơ xâm lược
của chủ nghĩa đế quốc, mỗi nước có sự lựa chọn con đường khác nhau. Trong
17
đó có những nước đã chọn con đường cải cách kinh tế, chính trị, xã hội, đưa
đất nước tiến lên chủ nghĩa tư bản nhờ vậy thoát khỏi số phận nô lệ như Nhật
Bản, Thái Lan. Đa số các nước còn lại chậm cải cách nên chịu số phận nô lệ,
phụ thuộc.
Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước đi theo những
con đường và biện pháp khác nhau, nhưng đều cùng chung một mục đích
giành độc lập dân tộc. Đây là những bài học kinh nghiệm quý báu cho phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các giai đoạn sau.
2.3 Xây dựng hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới cận
đại trong DHLS lớp 11 THPT
2.3.1 Các bước xây dựng
+/ Nghiên cứu nội dung chương trình lịch sử thế giới trước khi xây dựng hồ
sơ tư liệu dạy học điện tử.
Để xây dựng được hồ sơ tư liệu dạy học điện tử phần lịch sử thế giới nguyên
thủy và cổ đại thì yêu cầu đầu tiên đối với người thực hiện phải làm là nghiên cứu
nội dung cơ bản của lịch sử thế giới nói chung và đặc biệt nghiên cứu kỹ phần lịch
sử thế giới cận đại nói riêng. Từ đó có thể định hướng, khoanh vùng được những tư
liệu điện tử cần thiết phục vụ cho bài tập.
+/ Sưu tầm và xử lý các hình ảnh, tư liệu dạy học điện tử.
Từ việc xác định, khoanh vùng được kiến thức cơ bản của bài làm và những
tư liệu điện tử, tiến hành sưu tầm tất cả các tư liệu (cả phần kênh chữ và kênh

- Hc thuyt Liờn minh dõn tc cỏc nc cng hũa chõu M
- Chớnh sỏch Ngoi giao bng ng ụ la
ghi chỳ: Ni dung chi tit ca cỏc khỏi nim lch s a vo a CD-Rom
* Phn tranh nh, s v bn lch s
19
Bi s
Khỏi nim LS
Tranh nh, s
v bn LS
Ti liu
tham kho
Hng dn s
dng h s
Ch Mc
Ph,
Chic bỏnh ngt
Trung Quc,
Ci cỏch,
bt hp tỏc ,

S dng tranh
nh, s dng
bn ,
+/ Bài 1: Nhật Bản
Hình: Minh Trị
Minh Trị Thiên hoàng (Meiji Tenno) tên thật là Mutsuhito, là vị hoàng đế
thứ 122 của Nhật Bản theo cách tính truyền thống, trong đó tính cả những vị hoàng
đế trong truyền thuyết. Ông trị vì từ năm 1867 đến năm 1912 và được gọi là Minh
Trị theo tên của thời đại này (1868-1912). Là con của Thiên hoàng Komei, ông trở
thành thái tử năm 1860 và lên ngôi năm 14 tuổi.

Hình: Lễ khánh thành đoàn tàu ở Nhật
Từ 30 năm cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, nền kinh tế Nhật Bản phát triển
nhanh chóng, vượt bậc, được Lịch sử Nhật Bản gọi là “Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ nhất”. Tốc độ phát triển nhanh chóng của kinh tế Nhật được Lênin
nhận xét: Sau 1874 Đức phát triển nhanh chóng hơn Anh ba, bốn lần; Nhật phát
triển hơn Nga chín, mười lần.
Do sớm phát triển giao thong vận tải và hệ thống thông tin liên lạc, đặc biệt
là do sản phẩm thủ công-nông nghiệp đều tăng, nên thương nghiệp khá phát đạt.
Nhật Bản đã xây dựng một đội tàu buôn hiện đại, có thể vượt biển khơi đi xa hàng
nghìn hải lí thay cho tàu buồm thời Tô-kư-ga-oa. Các tàu này do Nhật Bản tự chế
tạo hoạc mua từ nước ngoài.Năm 1896, tổng trọng tải thương thuyền của Nhật Bản
là 128000 tấn đến năm 1904 tăng lên 600 000 tấn, với đội buôn này Nhật Bản tự
đảm bảo công việc ngoại thương.
Bức hình ghi lại lễ khánh thành đoàn tàu tại nhà ga gần hải cảng nơi luôn có
sự buôn bán tấp nập. Sau khi khởi hành tàu đã mang cả hàng trăm khách và hàng
nghìn tấn hàng hóa đến một nhà ga mới. Hình ảnh này một mặt cho chúng ta biết
ngành đường sắt của Nhật Bản đã ra đời, mặt khác nó khẳng định ngành công
nghiệp đóng tàu của Nhật Bản đã trưởng thành và có đủ sức vươn ra thế giới cạnh
tranh vơi Anh, Pháp. Đức. Mặt khác sự khánh thành đoàn tàu còn có ý nghĩa chiếm
lược trong quân sự. Sự chuyên chở vũ khí đến nhưng nơi mà Nhật Bản chuẩn bị
xâm lược được thuận tiện hơn.
Hình: Lược đồ về sự bành trướng của đế quốc Nhật Bản
Đây là lược đồ thể hiện quá trình bành trướng lãnh thổ của đế quốc Nhật Bản
cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Quá trình xâm lược, bành trướng lãnh thổ của đế
quốc Nhật theo ba hướng nam – bắc – đông được thể hiện như sau:
- Từ năm 1872 đến năm 1879, Nhật Bản chiếm đóng đảo Lưu Cầu ở phía
Nam, biến quần đảo này thành bàn đạp để xâm lược Trung Quốc.
21
- Từ năm 1894 đến năm 1895, cuộc chiến tranh Trung – Nhật bùng nổ. Quân
Nhật đại thắng, lục quân của Nhật tràn sang Trung Quốc, uy hiếp Bắc Kinh, chiếm

22
theo đạo Hinđu thì kiêng thịt bò và đạo Hồi thì kiêng thịt lợn. Vì thế họ đã chống
lệnh của sĩ quan Anh và nổi dậy khởi nghĩa.
Rạng sáng ngày 10-5-1857, ở Mi-rút (gần Đê-li), khi thực dân Anh sắp áp
giải 85 binh lính Xipay trái lệnh thì 3 trung đoàn Xipay nổi dậy khởi nghĩa, vây bắt
bọn chỉ huy Anh. Nông dân các vùng phụ cận cũng gia nhập nghĩa quân. Thừa
thắng, nghĩa quân tiến về Đê-li. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan ra nhiều địa
phương thuộc miền Bắc và miền Trung Ấn Độ. Nghĩa quân đã lập được chính
quyền, giải phóng một số thành phố lớn. Cuộc khởi nghĩa duy trì được khoảng 2
năm thì bị thực dân Anh dốc toàn sức đàn áp rất dã man. Nhiều nghĩa quân bị trói
vào miệng nòng đại bác rồi bắn cho tan xác. Mặc dù thất bại, cuộc khởi nghĩa
Xipay có ý nghĩa lịch sử to lớn, tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh bất khuất của
nhân dân Ấn Độ chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc.
Bài 3: Trung Quốc
Hình: Các nước đế quốc xâu xé "cái bánh ngọt" Trung Quốc
Cuối thế kỷ XIX, các nước đế quốc phương Tây tăng cường xâm lược lãnh
thổ thuộc địa để thoả mãn nhu cầu thị trường, tài nguyên và nhân công phục vụ nền
kinh tế chính quốc. Tất cả các nước đế quốc đều hướng mắt thèm thuồng vào vùng
đất rộng lớn Trung Quốc.
Đất nước Trung Quốc với diện tích rộng lớn, đứng thứ ba trên thế giới và số
dân đông nhất thế giới. Với những điều kiện vo cùng thuận lợi về nhân công, tài
nguyên… để phát triển kinh tế, Trung Quốc đã trở thành “cái bánh ngọt ” mà tất cả
các nước để quốc đều thèm muốn. Vậy vì sao các nước để quốc không tìm cách
độc chiếm “cái bánh ngọt” này mà lại phải chia ra? Về vấn đề này, trong tác
phẩm Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mặc
dù Trung Quốc rất suy nhược, mặc du nội bộ Trung Quốc bị chia rẽ, nhưng dù sao,
con số 11139000km
2
của nó vẫn là một miếng mồi quá to mà cái mõm của chủ
nghĩa đế quốc thực dân không thể nuốt trôi ngay một lúc được. Và không thể trong

Ông là một nhà triết học, ông lấy triết học để chỉ đạo cách mạng. Sau khi từ
chức ông nghiên cứu triết học và có sáng tác tác phẩm Học thuyết Tôn Văn với
trọng tâm là "biết thì khó, làm thì dễ". Ông đã nêu ra chủ thuyết "Tam dân" (dân
tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Ông được dân chúng Trung
Quốc gọi là "Quốc phụ" (người cha của đất nước). Ông là một trong 3 vị "Tam
Thánh", tiêu biểu cho
Bài 4: C¸c níc §«ng Nam ¸ (cuèi thÕ kû XIX ®Çu thÕ kû XX)
24
Hình: Hô - xê Ri - dan (1861 - 1896)
Hô – xê Ri – dan là nhà thơ, nhà chính trị, bác học và thầy thuốc nổi tiếng.
Mẹ ông là một trí thức yêu nước, bà nhiều lần bị chính quyền thực dân giam giữ.
Điều đó đã sớm ảnh hưởng đến tư tưởng tình cảm của ông. Trong thời gian du học
ở Tây Ban Nha, ông đã viết hai tác phẩm nổi tiếng là: “Đừng động đến tôi” và “Kẻ
phản bội” lên án tội ác của thực dân Tây Ban Nha, khích lệ lòng yêu nước. Liên
minh Philippin do ông thành lập chủ trương đấu tranh ôn hòa, nhưng vì không có
chỗ dựa trong quần chúng nên đã sớm chấm dứt hoạt động sau 5 tháng ra đời. Tuy
nhiên những hoạt động của Liên minh đã thức tỉnh tinh thần dân tộc của người
Philippin. Năm 1896, bị xử tử, ông trở thành anh hùng dân tộc của Philippin.
Ghi chú: Các hình ảnh, phim tư liệu ở trong đĩa CD-Rom
Hình: Lược đồ đế quốc Rô ma thời cổ đại
* Phần hướng dẫn sử dụng hồ sơ
Việc xây dựng và sử dụng hồ sơ tư liệu dạy học diện tử môn lịch sử góp
phần quan trọng vào việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, giúp học sinh hiểu
sâu sắc bản chất của sự kiện, nắm vững các quy luật của sự phát triển. Ngoài ra còn
giúp học sinh hình thành và bồi dưỡng những quan điểm tư tưởng, tình cảm, giúp
học sinh phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ và rèn luyện kỹ
năng thực hành bộ môn, giúp học sinh phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng, tư
duy. Với ý nghĩa lớn lao như vậy. Tuy nhiên để có được những điều đó thì không
phải muốn sử dụng hồ sơ tư liệu thế nào thì sử dụng, mà với mỗi loại tư liệu điện tử
chúng ta cần có cách sử dụng phù hợp và cần đảm bảo một số nguyên tắc cần thiết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status