Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 trường tiểu học hải vân - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÍ HỌC

KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường
của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hương Giang
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Bùi Văn Vân

MỞ ĐẦU 0
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 2
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
6. Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.2. Một số vấn đề về trẻ chậm phát triển trí tuệ 6
1.2.1. Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ 6
1.2.1.1. Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ 6
1.2.1.2. Khái niệm CPTTT dựa trên cơ sở khiếm khuyết về khả năng điều chỉnh xã hội 6
1.2.1.3. Khái niệm CPTTT dựa vào nguyên nhân gây CPTTT 7
1.2.1.4. Khái niệm chậm phát triển trí tuệ theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những
rối nhiễu tâm thần IV (DSM-IV) 7
1.2.1.5. Khái niệm CPTTT theo Hiệp hội Chậm phát triển trí tuệ Mỹ (AAMR) năm
1992 8
1.2.2. Phân loại trẻ chậm phát triển trí tuệ 8
1.2.2.1. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nhẹ 9
1.2.2.2. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức trung bình 9
1.2.2.3. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nặng 10
1.2.2.4. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức rất nặng 10
1.2.3. Nguyên nhân gây ra tật chậm phát triển trí tuệ 11
1.2.3.1. Trước khi sinh 11
1.2.3.2. Trong khi sinh 11
1.2.3.3. Sau khi sinh 12
1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ CPTTT 12

2.1.2. Khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải Vân 28
2.2. Khái quát quá trình khảo sát 29
2.3. Thực trạng giáo viên sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí
hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 - Trường Tiểu học Hải
Vân 29
2.3.1. Thực trạng hành vi bất thường của học sinh CPTTT khối lớp 3 29
2.3.2. Nhận thức của giáo viên về quản lí HVBT của học sinh CPTTT 32
2.3.3. Nhận thức của giáo viên về việc sử dụng các quy định của lớp học trong
việc quản lí HVBT của học sinh CPTTT trong lớp học hoà nhập 33
2.3.4. Việc các giáo viên sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất
thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3- Trường Tiểu học Hải Vân 37
2.3.5. Nguyên nhân của thực trạng trên 39
Tiểu kết chương 2: 40
CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LỚP HỌC ĐỂ QUẢN LÍ
HÀNH VI BẤT THƯỜNG CỦA HỌC SINH CPTTT Ở KHỐI LỚP 3 –
TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN 41
3.1. Mô tả một trường hợp trẻ CPTTT cụ thể 41
3.1.1. Một vài nét về bản thân trẻ 41
3.1.2. Kết quả quan sát 41
3.1.2.1. Quan sát chung 41
3.1.2.2. Bảng kiểm tra hành vi 42
3.1.3. Kết luận 44
3.2. Mô tả quy trình sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất
thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 44
3.2.1. Xác định hành vi 44
3.2.2. Quan sát và ghi chép để hiểu rõ hơn về biểu hiện hành vi của trẻ 45
3.2.3. Xây dựng kế hoạch 47
3.2.3.1. Lập kế hoạch sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của học sinh
CPTTT 47
3.2.3.2. Đưa ra bản cam kết thực hiện 49


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà còn
là nhiệm vụ của toàn xã hội. Do đó trẻ khuyết tật cần được quan tâm, chăm sóc,
được đối xử tế nhị và công bằng. Đặc biệt trẻ khuyết tật cần được phải được tạo mọi
cơ hội để học tập và phát triển bình thường như bao trẻ em khác. Xuất phát từ quan
điểm đó, việc chăm sóc giáo dục trẻ em khuyết tật đã được khẳng định là một bộ
phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Điều này thể hiện rõ trong mục
tiêu giáo dục của nước ta là phấn đấu đến năm 2015, huy động được 70% trẻ khuyết
tật đến trường. Với mục tiêu này thì môi trường giáo dục chuyên biệt cũng như môi
trường hội nhập không thể đáp ứng được. Giáo dục hoà nhập ra đời là một giải
pháp hữu hiệu, đảm bảo cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm phát triển trí tuệ (
CPTTT ) nói riêng quyền được giáo dục, được tham gia mọi hoạt động xã hội. Mục
tiêu của giáo dục hoà nhập hướng đến không chỉ là cung cấp kiến thức mà còn là
hình thành được kỹ năng, phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật nói chung và trẻ
CPTTT nói riêng, giảm thiểu đến mức thấp nhất những khó khăn do khuyết tật gây
ra, nâng cao mức độ thích ứng hành vi để trẻ có thể vươn tới cuộc sống bình thường
và hoà nhập được với cộng đồng.
1.2. Trong số các trẻ khuyết tật theo học hình thức giáo dục hoà nhập thì trẻ CPTTT
chiếm số lượng đông nhất và đây cũng là nhóm trẻ gặp nhiều khó khăn. Theo số
liệu của Viện chiến lược và chương trình giáo dục năm 2005 thì có đến 40% trong
tổng số trẻ CPTTT có những hành vi bất thường( HVBT). HVBT của trẻ CPTTT
không những ảnh hưởng tới bản thân trẻ CPTTT mà còn ảnh hưởng tới các học sinh
bình thường khác trong lớp và ảnh hưởng đến tiến trình lên lớp, hiệu quả giảng dạy
của giáo viên.
Vì vậy việc định hướng các biện pháp quản lí HVBT cho học sinh CPTTT
học hoà nhập và thực hiện triệt để các biện pháp quản lí HVBT của học sinh

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng quy định của lớp học để quản lí HVBT của
học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối
lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, học sinh còn có
nhiều hành vi không phù hợp, gây mất trật tự trong lớp học. Nếu xây dựng được các
quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT thì việc
giáo dục quản lí hành vi bất thường của học sinh CPTTT sẽ hiệu quả hơn, giúp các
em học tập tốt hơn.
5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về việc sử dụng quy định của lớp học để quản lí
HVBT của học sinh CPTTT.
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng các quy định của lớp học trong việc quản lí hành
vi bất thường của học sinh CPTTT ở khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.
- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh
CPTTT khối lớp 3 học hòa nhập tại Trường Tiểu học Hải Vân.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
- Sử dụng các quy định của lớp học để quản lí hành vi bất thường của học sinh
CPTTT khối lớp 3 – Trường Tiểu học Hải Vân.
3

6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
* Mục đích :
- Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
- Làm sáng tỏ khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài.
* Phương tiện :
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan.
- Thông tin và số liệu.

pháp quan sát và phương pháp điều tra bằng ankét.
6.2.4. Phương pháp thống kê toán học
- Xử lí số liệu thu thập được từ thực tế. 5

nhiễu hành vi của trẻ CPTTT mà chưa đưa ra biện pháp quản lí.
Khóa luận tốt nghiệp của Cao Thị Thúy Hằng – lớp 06SDB Trường ĐHSP –
ĐHSP với đề tài “ Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề để quản lí HVBT của trẻ
CPTTT ở khối lớp 5 - Trường Tiểu học Hải Vân” đã đề cập đến phương pháp giải
quyết vấn đề để quản lí HVBT của trẻ CPTTT. [4]
Nhìn chung ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề HVBT
của trẻ CPTTT và đưa ra một số biện pháp quản lí HVBT. Tuy nhiên chưa có nhiều
tài liệu đề cập đến phương pháp sử dụng các quy định của lớp học.

6

1.2. Một số vấn đề về trẻ chậm phát triển trí tuệ
1.2.1. Khái niệm trẻ chậm phát triển trí tuệ
1.2.1.1. Khái niệm CPTTT dựa trên trắc nghiệm trí tuệ
Hai tác giả người Pháp Alfred Binet và Theodore Simon là những người đầu
tiên phát minh ra trắc nghiệm trí tuệ vào đầu thế kỷ XX. Mục đích của trắc nghiệm
này là để phân biệt trẻ em bình thường học kém và các trẻ học kém do chậm phát
triển trí tuệ. Sau khi ra đời trắc nghiệm này đã được các nhà tâm lí học Mỹ chú ý và
nó được lấy làm cơ sở để phát triển nhiều trắc nghiệm trí tuệ khác.
Từ khi trắc nghiệm trí tuệ ra đời, qua nhiều năm nghiên cứu, đại đa số các
chuyên gia đã thống nhất sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ để xác định CPTTT. Theo
họ những người có chỉ số trí tuệ dưới 70 là chậm phát triển trí tuệ.
Sử dụng trắc nghiệm trí tuệ để chẩn đoán CPTTT có ưu điểm là khách quan,
đáng tin cậy và dễ thực hiện, đặc biệt là trong các trường hợp cần đánh giá phân loại
nhanh. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như:
- Chỉ số trí tuệ không phải là đơn vị đo lường duy nhất về tiềm năng trí tuệ của
con người.
- Không phải lúc nào kết quả chẩn đoán trên trắc nghiệm trí tuệ cũng tương
ứng với khả năng thích ứng của cá nhân đó trong cuộc sống thực tế. Có nhiều
trường hợp trẻ đạt chỉ số trí tuệ thấp nhưng lại thích ứng dễ dàng với môi trường.

Theo quan điểm dựa vào nguyên nhân gây CPTTT, Luria cho rằng: “Trẻ
CPTTT là những trẻ mắc phải bệnh về não rất nặng khi còn trong bào thai hoặc
trong những năm tháng đầu đời. Bệnh này cản trở sự phát triển của não, do vậy nó
gây ra sự phát triển không bình thường về tinh thần. Trẻ CPTTT dễ dàng được nhận
ra do khả năng lĩnh hội ý tưởng và khả năng tiếp nhận thực tế bị hạn chế”.
Việc xác định CPTTT dựa trên nguyên nhân của nó có giá trị thực tiễn đặc biệt
là đối với việc chăm sóc và giáo dục trẻ. Tuy nhiên khó khăn thường gặp trong việc
phân loại theo cách này là sự đa dạng của các nguyên nhân. Hơn nữa, có nhiều trẻ
em và người lớn bị CPTTT nhưng lại không phát hiện được những khiếm khuyết
trong hệ thần kinh của họ (Khoảng 1/3 số người CPTTT không phát hiện ra nguyên
nhân gây CPTTT).
1.2.1.4. Khái niệm chậm phát triển trí tuệ theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những
rối nhiễu tâm thần IV (DSM-IV)
Theo DSM-IV, tiêu chí chẩn đoán CPTTT bao gồm:
A. Chức năng trí tuệ dưới mức độ trung bình: Chỉ số trí tuệ đạt gần 70 trên một
lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân.
B. Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành vi thích
ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kĩ năng xã hội/ liên cá nhân, sử
dụng tiện ích công cộng, tự định hướng, kĩ năng học đường chức năng, lao động,
giải trí, sức khoẻ và an toàn.
C. Hiện tượng CPTTT xuất hiện trước 18 tuổi.
Như vậy, theo DSM-IV đặc điểm cơ bản của khuyết tật là hoạt động trí tuệ
dưới mức trung bình (Tiêu chí A), bị hạn chế đáng kể về hai trong số những lĩnh
vực hành vi thích ứng đã đề cập ở trên (Tiêu chí B), khuyết tật xuất hiện trước 18
tuổi.
Chức năng trí tuệ tổng quát là chỉ số trí tuệ (có thể gọi là IQ) đo được qua đánh
giá bằng một hoặc hơn một trắc nghiệm trên cá nhân về trí tuệ. Độ chênh lệch cao
8

nhất trong quá trình xác định chỉ số trí tuệ là 5 điểm, kể cả khi các công cụ đo có

Theo bảng phân loại DSM-IV có 4 mức độ CPTTT như sau:
1. CPTTT nhẹ: chỉ số IQ từ 50 – 55 tới xấp xỉ 70.
2. CPTTT trung bình: chỉ số IQ từ 35 – 40 tới 50 – 55.
3. CPTTT nặng: chỉ số IQ từ 20 – 25 tới 35 – 40.
4. CPTTT rất nặng: chỉ số IQ dưới 20 hoặc 25.

9

1.2.2.1. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức nhẹ
Trẻ CPTTT nhẹ có thể đạt tuổi trí tuệ từ 7 đến 12 tuổi (IQ từ 50-55 đến khoảng
70). Theo Piaget, đây là giai đoạn thao tác cụ thể. Trẻ giải quyết bằng vấn đề tư duy
logic nhưng vẫn chưa thể suy nghĩ theo cách trừu tượng. Trong giai đoạn trước khi
đến trường (0-5 tuổi), chúng phát triển những kỹ năng giao tiếp và xã hội. Trẻ có
những khuyết tật nhỏ trong các lĩnh vực vận động cảm giác và thường không phân
biệt được với những trẻ không bị CPTTT. Đến cuối thời kỳ thanh thiếu niên, chúng
có thể đạt được những kỹ năng học tập ở mực độ xấp xỉ với lớp 6. Chúng cần được
dạy những môn học cơ bản tại trường ở mực độ tối đa mà khả năng của trẻ cho
phép. Trẻ CPTTT nhẹ có khả năng thể hiện mình trong việc chọn bạn, trong các
hoạt động giải trí, cách ăn mặc Khi đã thành người lớn, chúng thường đạt được
những kỹ năng xã hội và nghề phù hợp cho việc tự hỗ trợ bản thân ở mức tối thiểu
nhưng vẫn cần có người giám sát, hướng dẫn và giúp đỡ, đặc biệt khi chúng chịu
những sức ép kinh tế hoặc tình cảm bất thường (trẻ thường dễ bị tổn thương bởi
những vấn đề tình cảm). Khi được trợ giúp thích hợp, người lớn CPTTT nhẹ có thể
sống khá thành công trong cộng đồng, một cách độc lập hoặc tại những môi trường
có giám sát.
1.2.2.2. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức trung bình
Trẻ chậm phát triển trí tuệ trung bình có thể đạt đến tuổi trí tuệ từ 4 đến 7 tuổi
(IQ từ 35-40 đến 50-55). Theo Piaget, trẻ CPTTT trung bình ở vào giai đoạn tiền tư
duy logic. Chúng có thể xây dựng những khái niệm hữu ích dựa trên kinh nghiệm,
nhưng chủ yếu chúng vẫn quan tâm đến những trải nghiệm trực tiếp thông qua tiếp

phán đoán xem điều gì sẽ xảy ra trong những tình huống mới. Những kỹ năng của
chúng không dựa nhiều trên sự hiểu biết về bản chất sự vật mà chủ yếu dựa trên
những trình tự về hành động mà chúng đã được dạy kỹ lưỡng. Chúng quen với
những chuỗi hành động (ví dụ đầu tiên ra khỏi giường, sau đó tắm, sau đó mặc quần
áo và ăn sáng) nên chúng sẽ rất lúng túng khi một mắc xích trong chuỗi bị đứt đoạn
vì một lý do không biết trước (ví dụ không có hoạt động tắm). Trẻ thậm chí có thể
hoảng sợ vì chúng khống biết cách đối phó với tình huống mới. Trẻ CPTTT nặng có
thể phát triển tốt trong một chương trình hàng ngày có tổ chức, trong các quy tắc ổn
định và trong những tình huống dễ nhận ra. Sự lặp lại và tính quen thuộc có thể dần
đưa đến sự hiểu biết về bản chất sự vật. Mặt khác, chúng ta phải cẩn thận để không
gây ra cho trẻ sự buồn tẻ, chán nản. Tình trạng đồng bộ quá mức có thể đưa đến sự
cứng nhắc. Bằng cách mang lại cho trẻ một sự đa dạng nhất định, trẻ sẽ có thể mở
rộng kinh nghiệm. Mặc dù trẻ CPTTT nặng vẫn có khả năng phân biệt giữa bản
thân và những người khác, nhưng chúng không thể đặt mình vào vị trí người khác,
thực tế trẻ vẫn có thái độ coi bản thân là trung tâm. Trẻ CPTTT nặng có thể được
huấn luyện về những kỹ năng tự chăm sóc cơ bản. Chúng chỉ thu nhận được ở một
mức độ hạn chế từ những chỉ dẫn trong các môn học tiền học đường, ví dụ như
nhận mặt chữ cái hoặc đếm đơn giản. Khi lớn lên, chúng có thể thực hiện những kỹ
năng đơn giản tại những môi trường được giám sát chặt chẽ. Hầu hết chúng có thể
thích nghi tốt với cuộc sống trong cộng đồng, trong nhà tập thể hoặc tại nhà mình,
trừ khi chúng có những khuyết tật đòi hỏi cần được chăm sóc đặc biệt.
1.2.2.4. Trẻ chậm phát triển trí tuệ mức rất nặng
Trẻ CPTTT rất nặng sẽ đạt đến tuổi trí tuệ là 0-2 tuổi (IQ<20 hoặc 25). Hầu
hết trẻ được chẩn đoán là CPTTT rất nặng có vấn đề về thần kinh, đây được coi là
nguyên nhân gây ra CPTTT. Trong những năm đầu của thời kỳ ấu thơ, trẻ có thể
hiện khuyết tật nặng về vận động, nghe và nhìn. Rất nhiều trong số các trẻ này bị
động kinh. Theo Piaget, trẻ CPTTT rất nặng có sự phát triển nhận thức ở giai đoạn
vận động-cảm giác, nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh chỉ hạn chế ở những
11


- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: Cúm, sởi Rubela,…
- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu iốt,…
- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/mẹ bị nhiễm phóng
xạ, các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy),…
- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ (stress).
1.2.3.2. Trong khi sinh
Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có can thiệp y
tế nhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ.
121.2.3.3. Sau khi sinh
- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại di chứng, chấn
thương sọ não do tai nạn,…
- Do biến chứng từ các bệnh: sởi, đậu mùa,…
- Dùng thuốc không theo chỉ định,…
- Suy dinh dưỡng, thiếu iốt.
- Tai nạn trong sinh hoạt, học tập,…
- Trẻ sống cách li cuộc sống xã hội trong thời gian dài,… [1]
1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ CPTTT
1.2.4.1. Đặc điểm nhận thức
- Đặc điểm cảm giác – tri giác:
+ Chậm chạp và hạn hẹp.
+ Thiếu tính tích cực trong quá trình tri giác: quan sát sự vật đại khái, qua loa,
khó quan sát kĩ các chi tiết , khó hiểu rõ nội dung.
+ Cảm giác, xúc giác kém, phối hợp các thao tác vụng về, phân biệt âm thanh
kém.
+ Phân biệt màu sắc, dấu hiệu, chi tiết sự vật kém, dễ nhầm lẫn và thiếu chính
xác.
Do đặc điểm trên, trẻ CPTTT gặp nhiều khó khăn trong học đọc, học nói, học

+ Điều chỉnh thời gian hợp lý giữa học tập, vui chơi và nghỉ ngơi thư giãn,
tránh gây căng thẳng thần kinh cho trẻ. [10]
1.2.4.2. Đặc điểm chú ý
- Khó có thể tập trung trong một thời gian dài, dễ phân tán.
- Khó tập trung cao vào các chi tiết.
- Kém bền vững, thường xuyên chuyển từ hoạt động chưa hoàn thành sang hoạt
động khác.
- Luôn bị phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó kiên nhẫn đợi đến lượt khó kiềm
chế phản ứng.
- Đỉnh cao chú ý và thời gian chú ý của trẻ CPTTT kém hơn nhiều so với trẻ bình
thường.
Nguyên nhân là do quá trình hưng phấn và ức chế của trẻ không cân bằng, lệch
pha. Nghĩa là có khi hứng phấn quá gia tăng, có khi bị ức chế kìm hãm kéo dài làm
cho trẻ quá mệt mỏi và giảm đáng kể khả năng chú ý.
Trẻ tiểu học: 5-7 phút
Người lớn: 12-15 phút.
Hằng ngày, trẻ CPTTT cũng như trẻ bình thường đều có những thời điểm, một
khoảnh khắc đạt tới đỉnh cao của sự chú ý. Lúc đó, trẻ có khả năng đạt hiệu quả cao
trong hoạt động và học tập. Vì vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải biết tận
dụng được những thời điểm mà trẻ có đỉnh cao của chú ý để tổ chức hướng dẫn kiến
thức mới cho trẻ để đạt hiệu quả mong muốn. [10]

14

1.2.4.3. Đặc điểm ngôn ngữ
Phát triển chậm so với trẻ bình thường cùng độ tuổi như:
- Vốn từ: ít, nghèo nàn. Từ tích cực ít, từ thụ động nhiều.
- Phát âm: thường sai. Phân biệt âm kém.
- Ngữ pháp:
+ Nói sai ngữ pháp nhiều, ít sử dụng động từ, tính từ,…

học hòa nhập là việc giáo viên sử dụng các biện pháp nhằm khắc phục những hành
vi không mong muốn ở trẻ, hình thành ở trẻ những hành vi tích cực nhằm giúp trẻ
học tập tốt hơn.
1.3.2. Một số vấn đề về hành vi bất thường của trẻ CPTTT
1.3.2.1. Khái niệm hành vi bất thường của trẻ CPTTT
Thực tế, đã có rất nhiều thay đổi về định nghĩa “hành vi bất bình thường”. Tuy
nhiên các nhà tâm lý đã đưa ra một số giải thích về vấn đề này như sau:
1.3.2.1.1. Hành vi được xem là bất thường khi lệch khỏi mức trung bình
Đây là sự giải thích mang đậm màu sắc thống kê. Nhằm mục đích xác định
tính bất bình thường, người ta chỉ cần quan sát những hành vi nào hiếm khi xảy ra
trong một xã hội hay một nền văn hoá nhất định, rồi gán cho các trường hợp lệch
khỏi chuẩn mực là bất bình thường. Định nghĩa này có thể đúng trong một số
trường hợp nhưng nhìn chung nếu coi đó là một tiêu chí để xác định hành vi bất
thường thì chưa hợp lý. Ví dụ, nếu tất cả mọi trẻ đều uống nước cam sau bữa ăn và
có một trẻ nào đó lại thích uống chè thì không thể coi đó là bất thường được. Tương
tự, một khái niệm như vậy về tình trạng bất thường sẽ gán ghép bất hợp lý một
người có điểm số IQ cao lạ thường là người bất thường, đơn giản chỉ vì người này
hiếm thấy về mặt thống kê.
1.3.2.1.2. Hành vi được xem là bất thường khi lệch khỏi mức lý tưởng
Theo định nghĩa này, hành vi được xem là bất thường nếu như nó lệch khỏi
một mức lý tưởng hay tiêu chuẩn nào đó. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay có quá ít
tiêu chuẩn mà tất cả mọi người đều đồng lòng tán thành. Hơn nữa các tiêu chuẩn nổi
bật lại thường biến đổi theo thời gian, khiến cho việc xác định khi nào thì lệch khỏi
mức lý tưởng trở nên thiếu chính xác. Ngày nay con người thường đặt ra rất nhiều
tiêu chuẩn về mức độ lý tưởng, đặc biệt là các bậc cha mẹ, họ luôn đặt ra cho con
mình những mức độ cần đạt được và tất cả những hành vi của trẻ khác với tiêu
chuẩn mà họ đặt ra đều được coi là bất bình thường.
1.3.2.1.3. Bất thường là thiếu khả năng hành xử hữu hiệu.
Hầu hết con người được sinh ra và lớn lên đều trở thành những thành viên hữu
dụng trong xã hội, có đủ sức thích nghi với các nhu cầu của xã hội hoặc có khả năng

người xung quanh: trầm cảm, thu mình lại, lầm lì, rầu rĩ,…Trẻ ngồi học rất trật tự
song không hiểu gì.
Hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm 8 thang hội chứng:
1. Thu mình lại.
2. Phàn nàn về sức khỏe.
3. Lo lắng, âu sầu.
4. Các vấn đề xã hội.
5. Ý nghĩ.
6. Chú ý/ tập trung.
7. Hành vi sai trái.
8. Hành vi thái quá/ hung tính.
Các hành vi khác. [10]
17

Hành vi của trẻ CPTTT mang đầy đủ những đặc điểm hành vi của trẻ bình
thường song lại có những nét đặc thù riêng. Trong giới hạn khoá luận, chúng tôi đề
cập đến 2 kiểu hành vi của trẻ CPTTT được biểu hiện trong lớp học: Hành vi hướng
nội và hành vi hướng ngoại. Hiểu được đặc điểm của 2 kiểu hành vi này của trẻ
trong lớp học sẽ giúp cho người giáo viên đáp ứng phù hợp những yêu cầu giáo dục
của trẻ.
1.3.2.3. Nguyên nhân gây hành vi bất thường
Các nguyên nhân dẫn đến hành vi bất thường của trẻ CPTTT gồm:
- Tổn thương thần kinh: Do thần kinh trẻ bị tổn thương nên chính điều đó gây
nên cho trẻ những HVBT mà trẻ không thể kiểm soát được, HVBT đó do trung
ương thần kinh của các em điều khiển.
- Không hiểu đúng, sai: Trẻ bình thường có thể hiểu những nội dung mà mọi
người nói hay giải thích nhưng với trẻ CPTTT các em khó hiểu được những điều
đó. Vì vậy các em sẽ làm những gì mà mình hiểu, dù đó là điều không đúng vì trẻ
không hiểu đúng, sai.
- Trẻ có ít bạn chơi, cô đơn: Điều này cũng gây nên những HVBT cho trẻ

có những trường hợp giáo viên giao nhiệm vụ học tập không phù hợp với trình độ
của trẻ. Và đặc biệt hơn nữa, trẻ CPTTT trình độ lên xuống thất thường, hôm nay có
thể các em nắm vững nhưng hôm sau lại chẳng nhớ gì. Chính những nhiệm vụ
không phù hợp đó sẽ dẫn đến những HVBT.
- Trẻ ham chơi: Vì trẻ đang ham chơi nên không để ý những gì xung quanh,
những gì xẩy ra bên mình.
- Bắt chước hành vi xấu: Do trẻ không hiểu được đâu là hành vi xấu, đâu là
hành vi tốt, những hành vi xấu trẻ có thể làm được và khi những hành vi xấu này đã
hình thành thì rất khó có thể xóa bỏ được. Những hành vi đó có thể dẫn đến những
HVBT.
- Không biết cách giải quyết vấn đề: Khi gặp vấn đề khó khăn không biết cách
giải quyết trẻ có thể hành động một cách bất thường để tạm thời không nghĩ đến vấn
đề đó. [1]
1.3.2.4. Đặc điểm hành vi của trẻ CPTTT
Đặc điểm hành vi của trẻ CPTTT dựa trên cơ sở 3 cấp độ: Tự ý thức, tự nhận
thức và tự ý thức về mặt xã hội và các kĩ năng xã hội.
1.3.2.4.1. Tự ý thức
Sự phát triển tự ý thức theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Chỉ có thể cảm nhận được những gì của chính bản thân (không
có tính phản ánh).
Giai đoạn 2: Duy trì các biểu tượng về bản thân hơn trong quá trình tương tác
với người xung quanh và bắt đầu nảy sinh sự so sánh mang tính xã hội, tức là bắt
đầu chú ý đến phương diện của người khác hơn là chính bản thân mình.
Giai đoạn 3: Phân định thứ bậc, vai trò: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em.
Giai đoạn 4:Các biểu tượng về bản thân và về những người xung quanh trở
nên mang tính chủ thể hơn và dần được hoàn thiện.
Vì vậy, sự phát triển tự ý thức phụ thuộc vào sự hoàn thiện của quá trình nhận
thức. Một cách rõ ràng là có những trẻ sẽ bị trì hoãn sự phát triển nhận thức và có
thể sẽ không đạt được sự phát triển tự ý thức của giai đoạn tiếp theo. Đối với trẻ
19

không được tự tin trong các tình huống : có cảm giác vô dụng , không làm được gì,
lệ thuộc vào người khác và thấy mình không có ý nghĩa gì.
- Cảm giác vô dụng được đề cập đến như là việc một cá nhân luôn luôn gặp
thất bại trong các tình huống nhiều sức ép dẫn đến việc giảm nhiệt huyết để hoàn
thành môt công việc nào đó.
- Việc “ gắn mác gọi tên, coi thường và không tôn trọng “ của giáo viên và
những người xung quanh đối với trẻ CPTTT sẽ là những nguyên nhân làm cho trẻ
có cái nhìn tiêu cực về chính bản thân mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status