Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011
Chuyên Đề Dược Khoa
164
KHẢO SÁT SỰ ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA MỘT SỐ CHỦNG
STAPHYLOCOCCI PHÂN LẬP TỪ MÔI TRƯỜNG BỆNH VIỆN
Bùi Minh Giao Long*, Lý Trọng Minh**, Trần Cát Đông**
TÓM TẮT
Mở đầu: Hiện nay, nhiễm trùng bệnh viện làm gia tăng đáng kể chi phí điều trị và tỉ lệ tử vong ở bệnh nhân
nằm viện. Các chủng Staphyloccoci, đặc biệt là MRSA (Staphylococcus aureus kháng methicillin) là một trong
những chủng gây gây ra các nhiễm trùng khó điều trị ở bệnh viện bệnh phổ biến nhất. Việc khảo sát mức độ đề
kháng kháng sinh thường được tiến hành từ bệnh phẩm, tuy nhiên, chưa có nhi
ều nghiên cứu trên vi khuẩn phân
lập từ môi trường bệnh viện.
Mục tiêu: Khảo sát sự đề kháng với nhóm β-lactam và các kháng sinh khác đồng thời xác định kiểu gen đề
kháng của các chủng Staphylocci phân lập từ không khí bệnh viện.
Phương pháp: Lấy mẫu và phân lập bằng cách đặt các đĩa MSA (Mannitol Salt Agar) tại các khoa, phòng.
Thử nghiệm kháng sinh đồ và biện giải theo CLSI M100-S18. Chiết tách ADN và thực hiện PCR để xác định
kiểu gen đề kháng mecA.
Kết qu
ả: Phân lập được 130 chủng Staphylococci từ không khí một số khoa, phòng. Kết quả cho thấy tỉ lệ
kháng penicillin và ampicillin là cao nhất (lần lượt là 72,31%, 70%). Tỉ lệ chủng kháng ceftazidime và oxacillin
gần bằng nhau (26,15% và 24,62%). Các kháng sinh còn lại có tỉ lệ đề kháng dưới 20%. Imipenem và
amoxicillin/clavulanic acid không bị đề kháng. Kết quả PCR cho thấy có 28/32 chủng có có mang gen đề kháng
mecA. Thử nghiệm kháng sinh đồ trên 8 kháng sinh nhóm khác cho thấy tỉ lệ đề kháng azithromycin cao nhất
(83,33%), tiếp theo là clindamycin (67,67%) và kanamycin (40%). Tỉ lệ đề kháng với cloramphenicol, bactrim và
ciprofloxacin trong khoảng từ 20-30%. Không có ch
ủng nào đề kháng với tetracyclin và vancomycin.
Kết luận: Sự đề kháng kháng sinh ở các chủng Staphylococci trong không khí tại bệnh viện cho thấy môi
trường bệnh viện luôn cần phải được kiểm soát tốt hơn để hạn chế nhiễm trùng cho bệnh nhân.
penicillin and ampicillin ranked the first and second highest with 72,31% and 70% respectively. The rates of
ceftazidime and oxacillin resistance were followed at 26,15% and 24,62% respectively. For other β-lactam
antibiotics, resistant incidences were less than 20%. There was no resistance to imipenem and
amoxicillin/clavulanic acid found in all strains. The PCR-based genotyping indicated 28 out of 32 strains
carrying the mecA gene. The subsequent results on 8 other antibiotic groups demonstrated that azithromycin has
the highest resistant rate (88,33%) followed by clindamycin (67,67%) and kanamycin (40%). The resistance to
chloramphenicol, bactrim and ciprofloxacin were ranged in 20-30%.
Resistance to vancomycin and tetracycline
was
not observed.
Conclusion: The antibiotic resistance of Staphylococci strains isolated from hospital air indicated that it is
always necessary to control the hospital environment to reduce infections for patients.
Keywords: Staphylococci, MRS, MRSA, antibiotic resistance, mecA.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Môi trường bệnh viện đặc biệt ở các phòng
khám, phòng mổ, khoa hô hấp, khoa hồi sức cấp
cứu tồn tại các vi khuẩn gây bệnh hay cơ hội với
mật độ cao. Các vi khuẩn này có thể lây nhiễm
cho bệnh nhân và cả nhân viên y tế theo đường
không khí hoặc qua tiếp xúc với các dụng cụ y tế
dùng trong bệnh viện
(2,13)
. Đây chính là tình trạng
nhiễm trùng bệnh viện và hiện nay đang được
quan tâm rất nhiều vì các vi khuẩn gây nhiễm
trùng bệnh viện thường có mức độ đề kháng cao
hơn các vi khuẩn nhiễm trùng từ cộng đồng
(4,13)
.
Các chủng Staphylocci, đặc biệt là MRSA
(Trypton Soy Agar), MHA (Mueller Hinton
Agar), MSA (Mannitol Salt Agar), agarose,
ethidium bromide (Merck), PCR buffer
(BioLabs), dNTP (BioLabs), Taq polymerase
(BioLabs).
Trang thiết bị: máy UV-vis Genequant 1300,
tủ ấm Shellab, máy li tâm Sigma 3 – 18, máy luân
nhiệt Techne TC-3000 G, bộ điện di ngang Bio-
rad Mini-sub cell GT.
Phân lập các chủng Staphylococci
Các chủng Staphylococcus aureus được phân
lập từ không khí ở một số khoa phòng (phòng
hồi sức cấp cứu, phòng khám, phòng mổ, khoa
hô hấp, khoa ngoại tổng hợp, kho nội tổng hợp)
trong thời gian từ tháng 04/2010 đến tháng
05/2010 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định và
Bệnh viện Thủ Đức. Sử dụng đĩa thạch MSA
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011
Chuyên Đề Dược Khoa
166
(Mannitol Salt Agar) là môi trường chọn lọc để
phân lập các chủng Staphylococci. Các đĩa MSA
được đặt ngẫu nhiên ở góc phòng ở các vị trí:
dưới sàn nhà, cách mặt đất 1-1,5 m và mở nắp
trong 1 giờ. Sau đó, ủ các đĩa này trong tủ ấm 37
o
C trong 24-36 giờ. Chọn các khóm màu vàng và
có vòng trong xung quanh khóm (do khả năng
n chương trình PCR gồm 95 °C
trong 1 phút, 45°C trong 45 giây, 72°C trong
2,5 phút, lập lại 35 chu kì.
Sản phẩm khuếch đại bằng PCR được chạy
điện di trên gel agarose 1% ở điện thế 100V trong
15 phút, đọc kết quả bằng phương pháp nhuộm
ethidium bromide và xem dưới ánh sáng tử
ngoại ở bước sóng 254 nm.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Kết quả phân lập và định danh
Staphylococci
Từ 264 đĩa MSA qua 4 đợt lấy mẫu ngẫu
nhiên ở các khoa phòng của hai bệnh viện, chúng
tôi đã thu được 130 chủng Staphylococci.
Kết quả đề kháng sinh nhóm β-lactam
130 chủng Staphylococci được thực hiện
kháng sinh đồ trên 13 loại kháng sinh thuộc
nhóm β-lactam. Kết quả được trình bày trong
Bảng 1.
Bảng 1. Kết quả đề kháng 13 kháng sinh nhóm β-
lactam của 130 chủng Staphylococci khảo sát
Tổng cộng Kháng sinh
Số chủng Tỉ lệ (%)
Penicillin 94 72,3
Ampicillin 91 70
Ceftazidim 34 26,2
Oxacilin 32 24,6
Ceftriaxon 25 19,2
Cefuroxim 19 14,6
Ticarcillin 15 11,5
(100
%
)
(11)
. Về ampicillin cũng tương tự, mức độ
đề kháng chỉ ở 70
%
, trong khi ở nghiên cứu
khác là 85,7
%
và 89,1
%
. Nghiên cứu về mức độ
đề kháng với các β-lactam khác, so với nghiên
cứu của Phạm Hùng Vân, mức độ đề kháng với
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011
Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Dược Khoa
167
ticarcillin, ampicillin/ acid clavulanic và
cefuroxim lần lượt là 28
%
, 30
%
và 38
%
trong
khi nghiên cứu của chúng tôi là 11,5
%
lượng mẫu nhiều hơn nữa để có thể có kết luận
chính xác hơn.
Kết quả PCR xác định chủng MRS mang
kiểu gen đề kháng mecA
Kết quả PCR trên 32 chủng có kiểu hình đề
kháng methicillin, có 28 chủng có mang kiểu gen
đề kháng mecA. 4 chủng còn lại không mang gen
mecA có thể thuộc loại BORSA (bordeline S.
aureus) tiết ra lượng lớn β –lactamase.
3 kb
2kb
3 kb
2kb
Hình 1. Kết quả PCR khuếch đại gen mecA trên 28 chủng MRS
Kết quả kháng sinh đồ các chủng MRS trên
các kháng sinh nhóm khác
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ định
danh sơ bộ 28 chủng có mang gen mecA bằng
thử nghiệm tìm coagulase với huyết tương thỏ
và nhận thấy có 21 chủng cho coagulase dương
tính hay 75% là Staphylococcus aureus còn lại 7
chủng (25%) coagulase âm tính. Phản ứng
coagulase có thể xác định đến 99% các chủng S.
aureus, tuy nhiên một vài
chủng
S. aureus
không tiết coagulase do khiếm khuyết gen
quy định enzym
Qua kết quả trên cho thấy, tỉ lệ vi khuẩn đề
kháng azithromycin cao nhất với 83,33%, tiếp
theo là clindamycin (67,67%) và kanamycin
(40%). Các chủng đề kháng cloramphenicol,
bactrim và ciprofloxacin có mức độ đề kháng
trong khoảng từ 20-30%. Tất cả 28 chủng này
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011
Chuyên Đề Dược Khoa
168
đều nhạy với tetracyclin và vancomycin. Tuy
nhiên, số lượng chủng đề kháng trung gian với
tetracyclin là 3 trong khi không có chủng nào đề
kháng trung gian với vancomycin.
Khảo sát sự đề kháng chéo cho thấy các
chủng MRS cũng kháng đồng thời với nhiều
kháng sinh khác. Kết quả được trình bày trong
bảng 3.
Bảng 3. Số lượng và tỉ lệ chủng MRS đề kháng chéo
Số kháng sinh Số chủng kháng Tỉ lệ (%)
1 10 33,3
2 6 20
3 5 16,7
4 4 13,3
5 5 16,7
6 0 0
7 0 0
8 0 0
Qua kết trên cho thấy, có khoảng 33% chủng
Tài liệu
Macrolid
Cl
Bt
cL
Ci
Va
Lê Toàn Lợi
(8)
82,9 (Er)
37,1
31,4
- 57,10
Nguyễn P. M.
Châu
(10)
92,2 (Er)
45,3
31,3
Bộ Y tế 2006
(1)
61,2%
(Er)
-
27,4
47,8 32,9 1,2
Nghiên cứu này
83,3 (Az)
26,7
23,33
67,7 20 0
Điều đáng lưu ý là trong nghiên cứu này,
imipenem và vancomycin vẫn chưa bị đề
kháng
. Trên thực tế, 2 thuốc này vẫn là thuốc lựa
chọn
hàng đầu cho điều trị nhiễm trùng MRSA,
tuy nhiên giá thuốc cao sẽ tăng
chi phí điều trị
tạo gánh nặng kinh tế lớn cho bệnh nhân. Bên
cạnh đó, khả năng gia tăng đề kháng
vancomcycin trong tương lai sẽ có thể gây trở
ngại lớn trong điều trị nếu việc sử dụng kháng
sinh này không được kiểm soát tốt.
KẾT LUẬN
Ltd: 27-74
6. Domaracki E.B., Venezia A.R., Evans M.A., (2000),
Vancomycin and Oxacillin Synergy for Methicillin-Resistant
Staphylococci. Antimicrobial, Agents and Chemotherapy. 44
(5):1394-1396.
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 1 * 2011
Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Dược Khoa
169
7. Dominguez M.A., Linares J., Martin R. (1997). Molecular
mechanisms of methicillin resistance in Staphylococcus aureus.
Microbiologia; 13: 301-308.
8. Lê Toàn Lợi (2007), Tình hình mang mầm vi khuẩn
Staphylococcus aureus trên bệnh nhân chuẩn bị mổ xoang tại
bệnh viện Tai - Mũi - Họng TP.HCM, Khóa luận tốt nghiệp
đại học, Đại học Mở, TP.HCM.
9. Murakami K., Minadime W., Wanda K., Nakamura E.,
Teraoka H., and Watanabee S (1991). Identification of
methicillin-resistant strains of staphylococci by polymerase
chain reaction. J. Clin. Microbiol. 29:2240-2244.
10. Nguyễn Phúc Minh Châu, (2007), Nghiên cứu tình trạng
mang Staphylococcus aureus ở mũi trên bệnh nhân ngọai trú
tại bệnh viên Tai - Mũi Họng Tp.HCM, Khóa luận tốt nghiệp
Dược sĩ đại học,
Đại học Y Dược TP.HCM.
11. Phạm Hùng Vân, Phạm Thái Bình (2006), Tình hình đề kháng
kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus. Kết quả
nghiên cứu đa trung tâm thực hiện trên 235 chủng vi khuẩn.
12. Phạm Thị Khánh Chi, (2006), Nghiên cứu người mang mầm vi