Website:
http://www.docs.vn
Email :
[email protected]
Tel : 0918.775.368
đại học quốc gia Hà Nội
Trờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa Đông phơng học
------
báo cáo khoa học
Kinh kịch - nét văn hoá truyền thống
của dân tộc trung hoa
Lời nói đầu
Trung Quốc là nớc có nền văn minh cổ xa phơng Đông. Dân tộc
Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển
đã thu hút đợc muôn phơng mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên
nền văn hoá Trung Hoa rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu
lắng mà lại mộc mạc tơi đẹp. Nghiên cứu về văn hoá Trung Quốc mà không
lật lại tìm hiểu các loại hình hí khúc, đặc biệt là Kinh kịch thì quả là một thiếu
sót lớn. Bởi lẽ Kinh kịch là một loại hình đẹp trội, rất độc đáo của Trung
Hoa. Tuy có lịch sử ra đời và phát triển cha dài (khoảng 200 năm) nhng
Kinh kịch đã đi vào đời sống tâm hồn của ngời Trung Quốc nói chung, ngời
Bắc Kinh nói riêng nh một phần không thể thiếu. Kinh kịch là một loại hình
kịch chủng tiêu biểu nhất trong nghệ thuật hí khúc Trung Quốc nên thu hút
đợc rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Các học giả Trung
Quốc có tiếng nghiên cứu về Kinh kịch có thể kể đến nh: Lý Hiểu, Chơng Di
Hoà, Hồ Hồng Khánh ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Kinh kịch
không nhiều. Các nhà nghiên cứu Việt Nam hầu nh đặt Kinh kịch vào trong
hệ thống nghiên cứu về văn hoá Trung Hoa nên những dòng viết về Kinh
kịch chỉ là những nét phác thảo lớt qua, các thông tin đợc đa ra nhỏ lẻ và bị
mẽ. Côn khúc là thể loại nhã nghĩa là chính thống, còn hoa nghĩa là tạp,
gồm các điệu thông tục, dân dã, bị coi là phong trào phản nghịch chống lại
khuynh hớng nh hoáã của Côn khúc. Từ đó ngời ta mong chờ một loại hình
3
hí khúc có thể dung hoà đợc cả hai yếu tố hoa và nhã. Trên cơ sở đó,
Kinh kịch đã gạn lọc, kế thừa tất cả những nét tinh hoa của các loại hình hí
khúc khác, đã hoà trộn giữa phong tục tập quán dân gian và yếu tố cung
đình để bứt phá trở thành một loại hình riêng của hí khúc Trung Quốc.
2. Một loại hình hí khúc đợc mến mộ: Kinh kịch ra đời.
Từ trong cái nôi hí khúc đang nở rộ, Kinh kịch bớc ra một cách thuận
lợi nhng lại mang một dáng vẻ mới, đẹp trội hơn hẳn vì nó kế thừa một cách
tập trung truyền thống lịch sử lâu đời của hí khúc, tích luỹ đầy đặn các ngón
nghề cao siêu. Kinh kịch nổi tiếng trong làng nghệ thuật thế giới là ca kịch
của Bắc Kinh. Nh vậy, có thể thấy đợc cái nôi ra đời và phát triển của Kinh
kịch là thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc. Kinh kịch có tên gọi cũ là Bì hoàng
hí, đầu thế kỉ XX, ngời Thợng Hải gọi là Kinh hí, ngời Bắc Kinh gọi là Bình
kịch. Kinh kịch đợc hình thành qua diễn biến dần dần trực tiếp trên cơ sở
Huy ban tiến kinh. Năm Càn Long thứ 55 (1790), Huy ban - đoàn kịch An
Huy Tam Khánh của Dơng Châu đợc triệu vào kinh diễn xuất mừng lễ bát
tuần đại điển của Càn Long, đã nhanh chóng độc chiếm sân khấu kinh đô.
Chẳng bao lâu, ba đoàn kịch An Huy khác là Tứ hỉ, Xuân đài và Hoà
xuân lần lợt vào kinh. Đó chính là sự kiện lừng danh trong lịch sử hí khúc
Trung Quốc cuối thế kỉ XVIII, gọi là Tứ đại Huy ban tiến kinh. Sau khi vào
kinh, Huy ban đã hấp thu hai làn kinh, tần, đặc biệt là điệu Tần xoang (điệu
hát theo nhịp mõ). Từ đó đa đến sự ra đời của Bì hoàng hí mà sau này ngời
Bắc Kinh gọi là Kinh kịch. Đến năm Quang Đạo thứ tám (1828), các nghệ sĩ
nổi danh ở Hồ Bắc nh Vơng Hồng Quý, D Tam Thắng vào kinh, mang
theo Hán điệu. Hán điệu vào kinh bắt vào diễn xuất của Huy ban, đa đến sự
kết hợp của hai làn điệu Huy Hán. Từ đó, Huy ban trở thành gánh hát
chuyên biểu diễn kịch Bì Hoàng, cắm rễ nơi kinh đô.
hỏi các hình thức biểu diễn nghệ thuật, đã dày công tìm kiếm cách phản
ánh gơng mặt thời đại và theo đuổi hiệu quả kinh tế thơng nghiệp.
Thợng Hải là nơi gặp gỡ văn hoá Đông Tây sớm nhất Trung Quốc và
là một thành phố buôn bán mới nổi lên, nhân tố t bản chủ nghĩa tơng đối
phát đạt, thị dân dễ tiếp thu ảnh hởng của văn hoá phơng Tây. Khán giả
không còn thoả mãn với kiểu nghe hát theo đúng qui củ mà mong đợc th-
ởng thức những trò rôm rả, tân kì thời thợng. Để thích ứng với dòng chảy
thời đại và tâm lý dân đô thị, Kinh kịch Hải phái đã phá vỡ khuôn mẫu cũ,
mạnh dạn cách tân, thu nạp cái mới, nhấn mạnh đến sự thẩm mĩ đô thị hoá.
Về đề tài, họ sáng tạo ra các vở thời trang hí (hí kịch hiện đại) phản ánh
cuộc sống hiện thực trong và ngoài nớc. Về hình thức thể hiện, Hải phái đã
học tập tham khảo nhiều thủ pháp tat thực chủ nghĩa của kịch nói và điện
ảnh, làm giàu thêm lối biểu diễn sinh hoạt hoá. Sự chung sống và phát triển
của hai phái Kinh Hải đã dẫn đến một thời kì phồn vinh của Kinh kịch.
Sự phồn vinh ấy còn thể hiện tập trung ở việc xuất hiện hàng loạt các
nghệ sĩ tên tuổi. Từ đầu thời kì Dân Quốc đến những năm 30, 40, trong Kinh
kịch đã xuất hiện hàng loạt nhân tài. Trong đó tiêu biểu là bốn diễn viên
Kinh kịch có bề dày kinh nghiệm, biết thể hiện phong cách trờng phái trong
nghệ thuật hát, gọi là bốn danh kép lớn, đó là: Mai Lan Phơng (1894 -
1961), Thợng Tiểu Vân (1900 - 1976), Trình Nghiên Thu, Tuần Huệ Sinh
(1900 - 1968). Mai, Thợng, Trình, Tuần, mỗi ngời hùng cứ một sân khấu,
giọng hát đạt trình độ điêu luyện với phong cách biểu diễn độc đáo, hình
thành các trờng phái khác nhau.
6
Với Kinh kịch trờng phái Thợng Hải, nhân vật tiêu biểu lên sân khấu
biểu diễn hát kịch từ lúc mới bảy tuổi, với nghệ danh thất linh đồng nổi
tiếng khắp vùng nam bắc Trờng Giang, đó là Chu Tín Phơng (1895 - 1975).
Ông có phong cách biểu diễn nghệ thuật tự nhiên, chân thực, tuỳ hứng ứng
tác. Hình tợng nghệ thuật mà ông tạo dựng có xơng, có thịt khiến ngời xem
khó quên.
Nhng từ tôn chỉ văn học đến hình thức tả thuật đã khác xa với cách nói xa
của tiền bối. Vở diễn không còn bó hẹp trong cách tờng thuật tẻ nhạt,
không nhằm mục đích thoả mãn quan điểm lịch sử đơn thuần đi tìm dấu
vết của một dân tộc, đi tìm sự hng vong của một vơng triền
2
mà đem sự
biến thiên của xã hội, cái bí mật của đời ngời hoà quyện cùng trời đất để rồi
xem xét giải thích cái đẹp của bản thân loài ngời bằng cái đầu triết lý và con
mắt nhà thơ.
Sau những năm 80, kết hợp tính triết lý trong lịch sử với sự rung động
mạnh mẽ trong chủ đề sáng tác, thuật lại sự kiện lịch sử mà mọi ngời đều
biết, xây dựng lại những nhân vật lịch sử mà mọi ngời quen thuộc là khuynh
hớng sáng tác mới của Kinh kịch thời kì này.
Ngày nay, xã hội Trung Quốc đang phát triển mạnh nh vũ bão, các
phơng tiện thông tin và hình thức giải trí bùng nổ, Kinh kịch cũng nh các loại
hình văn hóa truyền thống dờng nh bị lãng quên. Ngời Trung Quốc, đặc biệt
là giới trẻ không còn thú vui xem hát nh xa. Kinh kịch - một loại hình hí
khúc phát triển rực rỡ, ngời sáng một thời - lùi vào hàng ngũ nghệ thuật
truyền thống cần đợc bảo tồn của văn hoá dân tộc. Chính phủ Trung Quốc
có nhiều biện pháp để bảo lu loại hình nghệ thuật này, nh tổ chức các buổi
lu diễn Kinh kịch ở Trung Quốc đại lục, ở Đài Loan, ở Hồng Kông.Tuy
không thờng xuyên nhng cũng đủ để xác lập vị trí tồn tại của Kinh kịch trong
2
Nguyễn Huy Quý - Nớc CHND Trung Hoa (1949-1999)
8
xã hội hiện đại Trung Quốc và góp phần lay động tâm thức giới trẻ về nền
văn hoá truyền thống đa dạng, đặc sắc.
Chơng II
Vai diễn trong Kinh kịch.
1. Phân vai trên sân khấu Kinh kịch.
nai nịt gọn gàng, đầu đội mũ giáp, chân đi hia đế dày, sử dụng binh khí cán
dài, khi biểu diễn phải thể hiện đợc cái đẹp của ngón võ, thể hiện sự trầm
tĩnh, chắc chắn, phong độ của vị đại tớng và khí phách của ngời anh hùng.
Võ sinh sỹ tốt thờng sử dụng binh khí gọn nhẹ, khi biểu diễn thiên về động
tác nhào lộn nhanh nhẹn, dũng cảm.
Tựu chung lại, vai sinh là kép chính đóng các vai ông cụ già, các
chàng th sinh, quan văn, quan võ, chuyên thể hiện tính cách tốt, mạnh mẽ.
1.2. Vai đán
Vai đán là tên gọi chung cho các vai nữ. Các diễn viên thủ vai các quý
bà đáng kính hay những tố nữ yểu điệu dễ thơng. Vai đán cũng đợc dựa
trên tuổi tác, tính cách, nhân thân của nhân vật mà chia thành các vai:
thanh y, hoa đán, l o đán, đao m đán.ã ã
Thanh y là tên gọi chung cho các vai chính trong loại hình vai đán.
Thờng là các vai phụ nữ nhàn nhã, phụ nữ trung niên quý phái. Khi biểu
diễn thiên về kỹ thuật hát, thoại lời theo vần điệu. Vai này khi diễn thờng
khoác áo choàng xanh nên gọi là thanh y.
10