BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TĂNG MẠNH HÙNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH VIÊM
PHỔI TRÊN ĐÀN BÊ HF.F2 TẠI HUYỆN BA VÌ- HÀ NỘI
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS CHU ĐỨC THẮNG
HÀ NỘI – 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
Hà nội, tháng 01 năm 2015
Tác giả luận văn
Tăng Mạnh Hùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục các chữ viết tắt viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát cơ quan hô hấp 3
2.2 Một số đặc điểm giải phẫu và cấu trúc của phổi bê 4
2.3 Các nguyên nhân gây viêm phổi trên bê 7
2.4 Bệnh viêm phổi trên bê 12
2.4.1 Viêm phế quản phổi (Viêm phổi đốm - Broncho pneumonia catarrhalis) 12
2.4.2 Viêm phổi thùy (Pneumonia crouposa) 13
2.4.3 Viêm phổi hoại thư hóa mủ (Gangacna pulmorum et abscesus pulmorum) 16
3.4.4 Phương pháp kiểm tra các chỉ tiêu sinh hóa máu ở bê HF.F2 mắc bệnh
viêm phổi tại huyện Ba Vì – Hà Nội. 28
3.4.5 Điều trị thử nghiệm 29
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Tình hình mắc bệnh viêm phổi ở bê HF.F2 nuôi tại Ba Vì – Hà Nội 32
4.2 Đặc điểm bệnh lý bệnh viêm phổi ở bê HF.F2 nuôi tại huyện Ba Vì –
Hà Nội. 35
4.2.1 Biểu hiện lâm sàng ở bê HF.F2 mắc bệnh viêm phổi. 36
4.2.2 Thân nhiệt, tần số tim đập và tần số hô hấp ở bê HF.F2 bị viêm phổi
trên địa bàn huyện Ba Vì – Hà Nội. 37
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
4.2.3 Tổn thương đại thể bệnh viêm phổi ở bê HF.F2 40
4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của bê HF.F2 mắc bệnh viêm phổi tại
huyện Ba Vì – Hà Nội 40
4.3.1 Nghiên cứu sự biến đổi số lượng hồng cầu và một số chỉ tiêu của hệ
hồng cầu trên bê HF.F2 mắc bệnh viêm phổi 40
4.3.2 Nghiên cứu số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu trên bê HF.F2
mắc bệnh viêm phổi. 43
4.4 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh hóa máu của bê HF.F2 mắc
bệnh viêm phổi tại huyện Ba Vì – Hà Nội 46
4.4.1 Protein huyết thanh tổng số và các tiểu phần protein huyết thanh 46
4.4.2 Hàm lượng đường huyết và chức năng trao đổi protit của gan 49
4.5 Một số chỉ tiêu về sắc tố mật 52
4.6 Thử nghiệm các phác đồ điều trị bệnh viêm phổi ở bê HF.F2 nuôi tại
Ba Vì – Hà Nội. 55
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
5.1 KẾT LUẬN. 58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT TÊN BẢNG TRANG
4.1.a Tình hình mắc bệnh viêm phổi bê HF.F2 qua các tháng trong năm
(2011 – 2014) 35
4.1.b Tình hình mắc bệnh viêm phổi bò qua các tháng trong năm (2011 – 2014) 35
4.2.1a Bê chảy nước mũi đặc 37
4.2.1.b Bê khó thở 37
4.2.3 Viêm hoại tử và viêm màng phổi 40
4.3.2a Tỷ lệ các loại bạch cầu trong công thức bạch cầu máu bê HF.F2 khỏe 45
4.3.2b Tỷ lệ các loại bạch cầu trong công thức bạch cầu máu bê HF.F2 mắc
bệnh viêm phổi 46
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BC Bạch cầu
CS Cộng sự
Hb Hemoglobin
HF Holstein Friesian
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định rõ biểu hiện lâm sàng của bê HF.F2 mắc bệnh.
- Xác định rõ đặc điểm bệnh lý, sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa
máu của bê HF.F2 bệnh.
- Xác định mức độ tổn thương ở phổi bê HF.F2 mắc bệnh.
- Điều trị thử nghiệm, từ đó lựa chọn phác đồ điều trị có hiệu quả.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu này đã chỉ ra tương đối đầy đủ về: Đặc điểm bệnh lý, các biến
đổi lâm sàng, một số biến đổi về sinh lý, sinh hóa máu, cũng như tổn thương bệnh
lý của phổi bê HF.F2 mắc bệnh và thử nghiệm phác đồ điều trị.
Đã đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả giúp thú y cơ sở và các hộ chăn
nuôi tham khảo trong việc điều trị bệnh viêm phổi trên bê.
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp
theo, đồng thời đóng góp tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu thú y và người
chăn nuôi. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái quát cơ quan hô hấp
Cơ quan hô hấp tiếp xúc trực tiếp với không khí cũng chính là tiếp xúc với
Page 4
với vách lipopolysacharid của vi khuẩn làm thủng màng của chúng và phong bế các
men vi khuẩn; protein C phản ứng (C - reactive proteine) nó liên kết với phosphoryl
cholin trong cacbonhydrat C của phế cầu và tăng nhiều trong viêm cấp. Những vật
thể lạ hoặc các vi khuẩn nếu qua được hàng rào bảo vệ niêm mạc sẽ bị tiêu diệt bởi
các đại thực bào. Đối với những hạt rất nhỏ dưới 3µm chúng có thể theo không khí
vào sâu tận phế nang, khi đó chúng sẽ bị các đại thực bào phổi ăn và tiêu (Vũ Triệu
An và CS, 2001; Kelley K. W., 1980).
Trong máu, chất bổ thể của huyết thanh cơ thể làm tăng cường chức năng
chống nhiễm trùng ở bộ máy hô hấp, tham gia vào quá trình miễn dịch thể đặc hiệu là
các kháng thể Ig A, Ig M, Ig G. Các tế bào vách phế quản tiết ra các kháng thể nói trên
phủ trên bề mặt đường hô hấp (Nielsen R. và CS, 1990).
Phổi không có cấu tạo cơ nên nó không thể tự co dãn, mà phổi co dãn một
cách thụ động nhờ các cơ hô hấp gồm cơ hoành và cơ gian sườn. Các cơ này đóng
vai trò động lực chính cho động tác hô hấp, làm cho lồng ngực mở rộng hay thu hẹp
dẫn đến làm biến đổi áp lực âm xoang màng ngực, kéo theo vận động của phổi. Khi
lồng ngực mở rộng phổi nở ra theo, áp lực trong phổi giảm do đó không khí đi vào
phổi gây động tác hít vào, khi lồng ngực thu hẹp phổi xẹp xuống đẩy không khí
thoát ra ngoài, gây động tác thở ra.
Chất khí khuyếch tán từ nơi có áp suất riêng phần (phân áp) cao đến nơi áp
suất riêng phần thấp. Do sự chênh lệch về phân áp nên O
2
trong phế bào sẽ khuyếch
tán qua màng phế bào và thành mao mạch vào máu, còn CO
2
thì ngược lại khuyếch
tán từ máu sang phế bào. Quá trình khuyếch tán này tiến hành tương đối chậm
nhưng nhờ bề mặt tiếp xúc rộng lớn của phổi nên vẫn đảm bảo được yêu cầu về trao
Hai lá phổi trái và phải ngăn cách nhau bởi màng trung thất. Lá phổi trái
phân thành 3 thùy: thùy đỉnh, thùy tim và thùy hoành; Lá phổi phải có 5 thùy: thùy
đỉnh, thùy tim trên, thùy tim dưới, thùy hoành và một thùy phụ ở mặt trong của lá
phổi (Phạm Thị Xuân Vân, 1982).
Phổi được cấu tạo bởi cây phế quản, các mạch quản, các sợi thần kinh và các
tổ hức liên kết ở xung quanh các thành phần trên. Phổi bê có một hệ thống phân
nhánh liên tiếp bắt đầu từ mỗi phế quản gốc sau khi đi qua rốn phổi, hệ thống này
phân nhánh theo kiểu cành cây, các đơn vị phân chia cuối cùng là các phế quản trên
tiểu thùy, phế quản trong tiểu thùy, tiểu phế quản và phế quản tận, ở cuối mỗi phế
quản tận lại phình ra thành chùm phế nang, bề mặt của phế nang ở mỗi bê có thể tới
500 – 600 m
2
. Phế nang chỉ là lớp nội mạc xảy ra sự trao đổi giữa CO
2
của máu và
O
2
của không khí (Phạm Thị Xuân Vân, 1982; Nguyễn Xuân Hoạt và Phạm Đức
Lộ, 1971).
* Cấu trúc vi thể
Các tế bào biểu mô đường hô hấp trên: Ngay từ đầu phân khí của khí quản
đến các phế quản tận có lớp tế bào phủ ngoài (tế bào liên hợp) hình trụ cao, ở đầu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
có các lông rung. Một tế bào có 250 – 300 lông rung, các lông rung này luôn vận
động theo chiều ngược với chiều vào của không khí với tốc độ 20 – 24 lần/ giây.
Lông rung có tác dụng giữ và chuyển ra ngoài các dị vật đã hút vào theo
không khí, rung động của lông rung chuyển về hầu và miệng các dị vật đã thu được
Cơ trơn phế quản, nhánh phế quản nhỏ chịu sự điều hóa của hệ thần kinh
thực vật. Thần kinh phó giao cảm tiết acetylcholin làm co phế quản. Thần kinh giao
cảm tiết adrenalin và noradrenalin làm giãn phế quản. Vì vậy, lúc khó thở tiêm
adrenalin hoặc uống ephedrin sẽ có tác dụng tốt hoặc tiêm atropin để ức chế thần
kinh phó giao cảm cũng có hiệu quả (Cù Xuân Dần và cs, 1996).
2.3. Các nguyên nhân gây viêm phổi trên bê
Theo Leroy-G Bicht (1982), bệnh viêm phổi bê là bệnh phổ biến trên thế
giới, thường phát sinh khi thời tiết thay đổi từ ấm sang lạnh. Bê non dưới 1 năm tuổi
thường mắc bệnh với tỷ lệ cao và nặng hơn bê trưởng thành (Phạm Sỹ Lăng và
Phan Địch Lan, 1997).
Theo Manninge (1982), súc vật thường hay bị viêm phổi khi điều kiện ngoại
cảnh không thuận lợi, sức đề kháng của cơ thể giảm thấp. Bình thường người ta vẫn
phân lập được vi sinh vật gây bệnh trong đường hô hấp của bê như virus Adeno,
Mycoplasma, Pasteuralla, Streptococcus, Staphylococcus Nhưng chúng chỉ gây
bệnh khi thời tiết chuyển lạnh và chăm sóc nuôi dưỡng kém (Phạm Sỹ Lăng và
Phan Địch Lan, 1997).
Blowey R. W. (1999) cho rằng yếu tố stress như nhiệt độ tăng đột ngột hay
sự thay đổi của môi trường cùng với sự nhiễm trùng là nguyên nhân gây viêm phổi.
Bệnh sốt vận chuyển (Shipping fever) do Pasteurella haemolytica gây ra sau quá
trình vận chuyển thời gian dài. Bệnh do Pasteurella haemolytica týp A, T hay gặp
trong các trường hợp do bê bị stress như vận chuyển xa, nóng, gia súc làm việc quá
sức, nhốt đông gây nên bệnh ở bê từ 6 tháng đến 2 năm tuổi và phổ biến ở thể viêm
phổi (Archie Hunter, 2001).
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng môi trường không khí và khí hậu tác động rất lớn
tới hoạt động hô hấp của sinh vật như yếu tố nhiệt độ, ẩm độ, gió. Sự ô nhiễm môi
trường không khí đã ảnh hưởng không nhỏ tới tính chất và mức độ bệnh phổi trên đàn
gia súc (Khoo Teng Huat, 1995; Blowey R. W, 1999). Yếu tố stress, nhất là ở những
cơ sở chăn nuôi công nghiệp và ảnh hưởng của điều kiện đất đai, khí hậu của vùng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
cs, 1991).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân tiên phát của bệnh viêm phổi là do
vi rút, nguyên nhân thứ phát là do vi khuẩn; vi khuẩn làm cho bệnh phát triển mạnh
hơn (Blood D. C. và CS, 1985; Niconxki V. V., 1986; Russell A. Runnells và CS,
1991; Blowey R. W., 1999).
Dưới tác động của các yếu tố như vi sinh vật (virus cúm, mycoplasma) tác
động vào niêm mạc đường hô hấp; các loại khí NO
2
, H
2
S, CH
4
, NH
3
với nồng độ
cao tác động vào tế bào biểu mô phế quản, khí quản làm ảnh hưởng tới hoạt động
của lông rung trong việc đẩy các dị vật ra khỏi lòng đường hô hấp của gia súc. Mặt
khác, do tác động bất lợi của các yếu tố như nhiệt độ, ẩm độ không thích hợp. Khi
đó hoạt động của lông rung cũng như chức năng bảo vệ của biểu mô đường hô hấp
giảm đã dẫn đến sự xâm nhập của các vi khuẩn như Pasteurella, Staphyloccocus, ,
gây ra phản ứng viêm (Blowey R. W., 1999).
Trong các trường hợp khi thời tiết có sương mù, ẩm độ không khí cao cộng với
thời tiết lạnh hay nhiệt độ thấp, ẩm độ thấp chuyển sang nóng ấm, ẩm độ cao là những
yếu tố làm tăng sự nhiễm trùng vào phổi (Blowey R. W., 1999).
* Các vi khuẩn thường gặp ở đường hô hấp
Nhiều loại vi khuẩn có mặt trong đường hô hấp liên quan trực tiếp đến địa
trong một canh khuẩn nuôi cấy có thể thấy một số vi khuẩn hình que, một số hình
trứng hoặc hình cầu cùng tồn tại. Khi nuôi cấy trên môi trường nhân tạo chiều dài
của vi khuẩn tăng lên.
Tất cả các loại Pasteurella gây bệnh cho gia súc, gia cầm đều thuộc một
giống duy nhất, có đặc tính căn bản giống nhau về mặt hình thái nuôi cấy, nhưng
khác nhau ở tính thích nghi gây bệnh đối với các loài vật.
Dựa vào đó người ta chia P.multocida làm các loại sau:
- P. aviseptica gây bệnh tụ huyết trùng gà
- P. boviseptica gây bệnh tụ huyết trùng trâu bê
- P. suiseptica gây bệnh tụ huyết trùng lợn
- P. oviseptica gây bệnh cho cừu
P. multocida tồn tại trong thiên nhiên rất rộng rãi: trong đất, nước, cây cỏ,…
đặc biệt nó cư trú ở niêm mạc đường hô hấp trên của động vật, những động vật này
là nguồn mang trùng: Ở lợn có 40% mang vi khuẩn, ở bê có 80%, ở cừu có 50%. ở
ngựa có 60%, ở chó có 30%. Những vi khuẩn này kí sinh không gây bệnh nhưng nó
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
có thể trở thành bệnh khi sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút do gia súc mắc một số
bệnh khác, hoặc do dinh dưỡng kém, điều kiện thời tiết khắc nghiệt,… Theo
Nguyễn Vĩnh Phước (1978), mùa nóng, mưa rào đột ngột là điều kiện thuận lợi cho
vi khuẩn tồn tại trong thiên nhiên để sinh sản và xâm nhập vào cơ thể động vật qua
đường tiêu hóa, vết sây sát. Vi khuẩn thường cư trú ở đường hô hấp và tiêu hóa
động vật khỏe hay trong cơ thể bệnh. Khi điều kiện thời tiết thay đổi làm cho con
vật mệt mỏi, sức đề kháng giảm do các nguyên nhân khác nhau tạo cơ hội cho vi
khuẩn sinh sôi phát triển.
* Vi khuẩn Streptococcus
Giống Streptococcus có dạng hình cầu, đường kính có khi đến 1 µm được
xếp thành chuỗi như chuỗi hạt có độ dài ngắn không đều, có thể từ 2 vi khuẩn tạo
2.4. Bệnh viêm phổi trên bê
2.4.1. Viêm phế quản phổi (Viêm phổi đốm - Broncho pneumonia catarrhalis)
Là quá trình ở viêm niêm mạc và từng thùy phổi riêng biệt. Trong phế quản
và phế nang dịch viêm gồm huyết tương, các bạch cầu, một số ít hồng cầu và những
tế bào biều bì tróc ra. Viêm bắt đầu từ màng niêm mạc các phế quản sau đó lan sang
các tổ chức nhu mô của phổi. Quá trình viêm trong bệnh viêm phế quản phổi bao
giờ cũng có tính giới hạn (Pijoan, 1992).
Đặc trưng của bệnh viêm phế quản phổi ở gia súc là diễn biến chậm so với
viêm phổi thùy (Niconxki V.V 1986). Các triệu chứng viêm phế quản phổi rất đa
dạng và phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân (Russell A.Runnell.et.al, 1991).
Niconxki V.V (1986) khi phân biệt các loại bệnh viêm phổi đã đề nghị đến quá trình
diễn biến bệnh và mức độ nhiễm bệnh của mô phổi. Ông phân biệt viêm phế quản -
cấp với những tổn thương vùng phổi hẹp và viêm phế quản - phổi mãn tính với
những thương tổn lan tỏa của phổi.
Nhiều tư liệu cho rằng khi viêm phế quản - phổi cấp tính, nhiệt độ cơ thể
tăng, chảy nước mũi, ho, thoạt đầu ho khan, đau, về sau ho ướt. Khi nghe phổi có
tiếng ran, bệnh ở những ngày đầu thì có âm ran khô, những ngày sau có âm ran ướt.
Thể cấp tính, đa số các trường hợp sau 7-12 ngày thì gia súc khỏe hoặc truyền sang
thể mãn tính.
Ở thể mãn tính, triệu chứng viêm phế quản - phổi biểu hiện không rõ. Nhiệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
độ cơ thể phần lớn nằm trong giới hạn sinh lý, gia súc ăn uống bình thường hoặc ăn
giảm chút ít. Khi thời tiết thay đổi gia súc ho, nghe vùng ngực có tiếng ran hỗn hợp.
Ở thể mãn tính với những tổn thương rộng của phổi thì gia súc hầu như bỏ ăn, gầy
sút nhanh, xanh tím các niêm mạc mắt và gốc tai. Triệu chứng đặc trưng là ho, khó
thở, nghe vùng ngực có tiếng ran. Khi gõ vùng phổi gia súc có cảm giác đau và có
phản xạ ho; vùng âm đục của phổi phân tán, xung quanh vùng này có âm bùng hơi.
kháng của phổi bị suy giảm nặng hoặc do vi khuẩn vào phổi qua đường máu gây
nên (Russell A.Runnell.et.al, 1991). Bệnh xảy ra đột ngột, gia súc mệt mỏi, kém ăn,
run rẩy, con vật đứng mõm chũi xuống đất, niên mạc xung huyết, con vật ho ít, ho
ngắn, khi ho có cảm giác đau, nhiệt độ cơ thể cao từ 39,5
0
C đến 42
0
C trong vòng 5 -
7 ngày, tần số mạch đập từ 60 - 90 lần/phút và tần số hô hấp từ 40 - 80 lần/phút.
Dịch viêm chảy ra hai lỗ mũi lúc đầu trong sau đó xanh đặc hoặc màu đỏ, màu rỉ
sắt. Hiện tượng khó thở xuất hiện rõ rệt có những trường hợp thở kiểu “chó ngồi”
hoặc nằm dài cổ ra để thở, há miệng ra để thở, lưỡi thè ra khỏi miệng với nhiều bọt
khí. Các triệu chứng viêm phổi thùy rất đa dạng và phụ thuộc rất nhiều nguyên
nhân, giai đoạn phát triển của bệnh. Nghe phổi thời kỳ đầu thấy âm phế nang thô
mạnh, âm ran ướt lép bép, thời kỳ sau có âm vùng phế nang tăng có tiếng cọ của
màng phổi. Một số con có triệu chứng ỉa chảy và viêm tai có mủ (Walter
J.Gibbous.et.al, 1971; Blood, D.C.et.al, 1985).
Viêm phổi thùy là một bệnh viêm phổi cấp tính gây quá trình tổn thương
đồng đều, lan rộng rất nhanh một phần hay các thùy phổi, có khi cả hai bên phổi
hoặc cả 2 buồng phổi. Bệnh còn được gọi là phế viêm tơ huyết hay viêm màng giả.
Nhiều tác giả cho rằng: Ở gia súc không xảy ra viêm phổi thùy rõ như ở người, sự
biến đổi xen kẽ các giai đoạn không rõ ràng và thành phần dịch rỉ viêm trong các
phế nang thường là bạch cầu nhiều hơn là tơ huyết. Tổn thương viêm phổi thùy
thường thấy ở các phần trước của phổi hầu hết các thùy đỉnh, thùy tim, và một phần
thùy hoành. Vùng viêm phổi có màu đỏ, xám hoặc xanh phụ thuộc vào quá trình
phát triển của bệnh. Vùng viêm phổi chắc do trong phế quản, phế nang chứa đầy
fibrin, trên mặt phổi thường có một lớp mỏng fibrin (Russell A.Runnell.et.al, 1991).
Vùng viêm phổi thùy gia súc có thể đối xứng ở các thùy của phổi hoặc không đối
xứng ở các thùy của phổi (Nguyễn Vĩnh Phước,1970). Dựa vào đặc điểm của từng
giai đoạn của viêm phổi thùy ở người, nhiều tư liệu đã phân viêm phổi thùy ở gia
Các trường hợp nặng màng phổi dính vào xoang ngực, hệ thống hạch lâm ba hầu và
phổi sưng thũng và tụ huyết. Nếu súc vật có nhiễm trùng huyết thì máu đỏ sẫm và
chậm đông. Tim sưng, trong bao tim có dịch vàng. Chuỗi hạch ruột sưng to, tụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
huyết hoặc xuất huyết điểm. Gan, thận có hiện tượng phù thũng và xuất huyết
(Blood,D.C, 1985; Cao Xuân Ngọc, 1997).
2.4.3. Viêm phổi hoại thư hóa mủ (Gangacna pulmorum et abscesus pulmorum)
Bệnh thường phát triển dựa trên cơ sở của các loại viêm phổi khác nhau. Khi
vách phế quản, phế nang bị tổn thương, vi khuẩn hoại thư hoặc vi khuẩn sinh mủ
phát triển và hình thành các ổ hoại thư, ổ mủ làm cho tổ chức phổi bị phân hủy.
2.4.4. Các thể viêm phổi khác
Theo Cao Xuân Ngọc (1997), căn cứ vào thời gian tiến triển của viêm, sự tổn
thương của mô bào và thành phần tế bào trong phản ứng viêm, người ta chia viêm
thành các thể: mạn tính, cấp tính, quá cấp tính và á cấp tính.
* Viêm phổi cấp tính: bệnh xảy ra nhanh, kéo dài từ 24h – 3 tuần, có đủ các
triệu chứng điển hình của viêm, có hiện tượng xung huyết, dịch rỉ viêm và nhiều
bạch cầu đa nhân trung tính.
* Viêm phổi mạn tính: Bệnh xảy ra chậm, kéo dài hàng tháng, hàng năm.
Đặc điểm của loại viêm này là quá trình tăng sinh mô bào, chiếm ưu thế là các
lympho bào, tương bào và các đại thực bào.
2.4.5. Cơ chế sinh bệnh
Cơ thể luôn có những đáp ứng với tác nhân gây bệnh. Sự đáp ứng đó diễm ra
lúc mạnh mẽ, lúc thầm lặng. Tùy theo mỗi loại tác nhân gây bệnh, đường lấy
truyền, mà cơ chế gây bệnh có những đặc thù riêng. Phản ứng viêm thể hiện qua 3
hiện tượng cơ bản đồng thời liên quan chặt chẽ với nhau: rối loạn tuần hoàn, rối
loạn chuyển hóa – biến chất và tăng sinh mô bào.
Dưới tác động của các yếu tố như vi sinh vật (như: vi rút cúm),