BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN - VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*** TRỊNH THỊ KIM MỸ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CÀNH HOM VÀ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIÂM CÀNH CHO 2 GIỐNG
CHÈ PH12, PH14 TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI – 2014
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN - VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
TRỊNH THỊ KIM MỸ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CÀNH HOM VÀ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIÂM CÀNH CHO 2 GIỐNG
CHÈ PH12, PH14 TẠI PHÚ HỘ - PHÚ THỌ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp rất nhiều khó khăn,
vướng mắc nhưng được sự động viên về tinh thần, sự giúp đỡ về kiến thức
của các Thầy cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đến nay tôi đã hoàn thành đề
tài. Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:
Thầy TS. Nguyễn Văn Tạo, TS. Nguyễn Hữu La. Người đã hướng dẫn
và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn tới các thầy cô giáo, Ban Đào tạo sau Đại học,
Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam – đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Xin bày tỏ lòng biết ơn Ban Lãnh đạo Viện Khoa học kỹ thuật nông
lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Ban giám đốc Trung tâm nghiên cứu và phát
triển chè, cùng tập thể cán bộ bộ môn Công nghệ sinh học & bảo vệ thực vật,
bộ môn Kỹ Thuật Canh Tác đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện
thành công các yêu cầu của luận văn.
Lòng biết ơn sâu sắc xin được dành cho những người thân trong gia
đình, bạn bè, các bạn cùng lớp Cao học K21 VAAS đã động viên, giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập, làm đề tài để hoàn thành luận văn này.
THIẾT
CỦA
ĐỀ
TÀI ……………………………….……1
2. MỤC
ĐÍCH
VÀ
YÊU
CẦU.…………………………………….…… 2
3. Ý
NGHĨA
KHOA
HỌC
VÀ
THỰC
TIỄN……………………… ……2
3.1. Ý nghĩa khoa học ………………………………………………………….2
HÌNH
NGHIÊN
CỨU
VỀ
GIÂM
CÀNH
CHÈ ………………10
1.2.1. Cơ sở khoa học của giâm cành 10
1.2.2. Nghiên cứu giâm cành chè của nước ngoài 11
1.2.3. Nghiên cứu về giâm cành chè của Việt nam 15
CHƯƠNG II. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PP NGHIÊN CỨU 23
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
2.1. VẬT
LIỆU
NGHIÊN
CỨU…………………………………… …….23
2.1.1. Địa điểm lưu giữ và tuổi cây mẹ.………………………………… 23
2.3.2. Các thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm 26
2.3.3. Các chỉ tiêu về giâm hom 28
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 28
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. KẾT
QUẢ
NGHIÊN
CỨU
ĐẶC
ĐIỂM
HOM
GIỐNG
CHÈ
SHAN
MỚÍ
CHỌN
LỌC………………………………………………………… 29
3.1.1. Hình thái lá của các giống………………………………………….29
GIÂM
CÀNH
CÁC
GIỐNG
CHÈ…………………………………
…
39
3.2.1. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến cây chè giâm hom 39
3.2.1.1. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến tỷ lệ ra mô sẹo của hom
giống… 40
3.2.1.2. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến tỷ lệ ra rễ của hom giống
…….…….……………………………………………………………………….42
3.2.1.3. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến tỷ lệ nảy mầm của hom
giâm…………………………………………………………………………… 45
3.2.1.4. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến tỷ lệ sống của hom giâm . 48
3.2.1.5. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến sinh trưởng của cây chè
giâm…………………………………………………………………………… 50
3.2.1.6. Ảnh hưởng của cắt bớt độ dài lá đến tỷ lệ cây xuất vườn của cây
chè giâm… 53
3.2.2. Ảnh hưởng độ già của hom đến cây chè giâm hom 55
3.2.2.1. Ảnh hưởng của diện tích lá đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 55
3.2.2.2. Ảnh hưởng độ già của hom đến tỷ lệ của hom giống 58
3.2.2.3. Ảnh hưởng độ già của hom đến tỷ lệ nảy mầm của hom giống . 60
3.2.2.4. Ảnh hưởng độ già của hom đến tỷ lệ sống hom giống 62
COOH) Chất kích thích sinh trưởng
- Đường TS Đường tổng số
- TS đường/đạm Tổng số đường/đạm
- C/N Tỷ lệ C/N
- A Hom chè giống loại A
- B Hom chè giống loại B
- TB Trung bình Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
TT Bảng Tên bảng Trang
3.1. Một số đặc trưng hình thái lá của giống
29
3.2. Một số đặc điểm hình thái lá của các giống chè nghiên cứu trong sản xuất
31
3.3. Một số đặc điểm cành hom của các giống chè
32
3.4. Đặc điểm chỉ số màu xanh diệp lục của các giống ở mẫu quan sát
33
3.5. Năng suất hom của các giống
35
Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ cây xuất vườn
54
3.15.
Ảnh hưởng của độ già hom đến tỷ lệ ra mô sẹo của các giống
56
3.16.
Ảnh hưởng của độ già hom đến tỷ lệ ra rễ của các giống
59
3.17.
Ảnh hưởng của độ già hom đến tỷ lệ nảy mầm của các giống
62
3.18.
Ảnh hưởng của độ già hom đến tỷ lệ sống của các giống
63
3.19.
Ảnh hưởng của độ già hom đến một số chỉ tiêu sinh trưởng cây chè
giâm ( cây 8 tháng tuổi)
66
3.20.
Ảnh hưởng của độ già hom đến tỷ lệ cây xuất vườn
69
3.21.
35
41
3.5. Động thái ra rễ cắt bớt độ dài lá giống PH12, PH14 44
3.6. Động thái nảy mầm cắt bớt độ dài lá giống PH12, PH14 47
3.7. Động thái sinh trưởng cây chè giâm của các công thức giống PH12, PH14 52
3.8.
3.9.
3.10.
3.11.
3.12.
3.13.
3.14.
3.15.
Sinh trưởng cây chè 8 tháng của cắt bớt độ dài lá mẹ
Tỷ lệ cây xuất vườn của giống PH12, PH14
Động thái ra mô sẹo độ gìa của hom
Động thái ra rễ độ già của hom PH12, PH14
Động thái sinh trưởng thí nghiệm độ già của hom
Cây sinh trưởng 8 tháng độ già của hom
Tỷ lệ cây xuất vườn độ già của hom giống chè PH1, PH14
Một số chỉ tiêu sinh trưởng thí nghiệm phum chế phẩm sinh học
52
54
57
60
67
67
69
71
Shan chọn lọc dòng là PH12 và PH14, có năng suất búp cao và chất lượng tốt
có thể chế biến được chè xanh và chè đen chất lượng cao, đã được Bộ nông
nghiệp và PTNT công nhận giống tạm thời vào năm 2012 cho sản xuất thử
mở rộng diện tích chè vùng trung du miền núi cao. Tuy nhiên, do đặc điểm
hình thái giống PH12, PH14 vốn có lá và búp to nên tỷ lệ nhân giống và tỷ lệ
sống sau trồng còn thấp, do đó cần thiết nghiên cứu khắc phục nhược điểm
này để góp phần đưa 2 giống chè ra sản xuất đạt hiệu quả. Vì vậy chúng tôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cành hom và biện pháp kỹ thuật
giâm cành cho 2 giống chè PH12, PH14 tại Phú Hộ, tỉnh Phú Thọ” là rất
cần thiết nhằm mở rộng diện tích chè Shan vùng cao bằng các giống mới có
năng suất cao chất lượng tốt.
2. Mục đích và yêu cầu
Tìm ra các giải pháp kỹ thuật giâm cành phù hợp với đặc điểm hom chè
cho 2 giống PH12 và PH14.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1.
Ý nghĩa khoa học
Xác định được đặc điểm sinh vật học của hom chè các giống PH12,
PH14 làm cơ sở khoa học bổ sung hoàn thiện quy trình giâm hom cho các
giống chè mới.
3.2.
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài góp phần đẩy mạnh mở rộng diện tích các giống chè
Shan mới cho các tỉnh vùng cao.
- Tăng thêm giống chè mới thay đổi cơ cấu giống chè có năng suất chất
lượng tốt, cải thiện năng suất chất lượng chè hiện nay.
Châu Âu, Châu Phi, Mỹ và Úc, chè xanh được tiêu thụ mạnh nhất ở Châu Á.
Theo dự đoán của FAO, đến năm 2017 tổng lượng tiêu thụ chè đen của thế
giới đạt 2.819.900 tấn, Trung Quốc là nước tiêu thụ chè xanh lớn nhất thế giới
với 670.700 tấn/năm, dự báo nhu cầu tiêu thụ chè xanh trên thế giới trong thời
gian tới sẽ tăng cao do lo lắng về vấn đề phóng xạ gia tăng.
Kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới gồm: Nga (510,6 triệu
USD), Anh (364,0 triệu USD), Mỹ (318,5 triệu USD), Nhật Bản (182,1 triệu
USD) và Đức (181,4 triệu USD). Đây cũng là những nước có kim ngạch nhập
khẩu cao nhất trong các năm 2006, 2007. Tổng kim ngạch của 10 nước xuất
khẩu chè thế giới đạt gần 3,5 tỷ USD, trong đó 3 nước dẫn đầu là Srilanca
(1,2 tỷ USD), Trung Quốc (682,3 triệu USD) và Ấn Độ (501,3 triệu USD).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Xu hướng toàn cầu của ngành chè trong những năm gần đây cho thấy
sản lượng chè thế giới có sự tăng nhưng chưa thực sự ổn định, một số nước có
sản lượng giảm, nhất là Ấn Độ một cường quốc sản xuất chè đen giảm sản
lượng tới 3,7%. Điều này được tác động bởi nguyên nhân cạnh tranh gay gắt
giữa các nước xuất khẩu chè chủ yếu, cộng thêm sự bất ổn về chính trị tại thị
trường tiêu thụ của một số nước Trung Đông và Bắc Phi, sự cạnh tranh truyền
thống lâu đời giữa chè và cà phê cùng các đồ uống khác, vì vậy sản lượng chè
thế giới có nhiều biến động và xu thế sản phẩm chè chất lượng cao là yêu cầu
tất yếu hiện nay.
Để nâng cao chất lượng chè, nhiều nước trên thế giới đã và đang chú
trọng đến chọn tạo giống mới, xác định vùng trồng có điều kiện sinh thái
thích hợp cho từng giống chè, các biện pháp kỹ thuật canh tác, chế biến, v.v…
Chọn tạo giống mới ở nhiều nước đã đi theo hướng chọn lọc từ quần
thể giống địa phương, kết quả tạo ra nhiều giống chè tốt gắn với các địa danh
nổi tiếng thế giới, tiêu biểu: vùng chè Darjeeling (Ấn Độ), có độ cao 600 –
trưởng và phát triển bình thường, ít sâu bệnh và không phải đầu tư thâm canh
vẫn cho thu hoạch búp hàng năm. Tuy nhiên, năng suất chè trồng phân tán
của Vân Nam cũng rất thấp (2 – 3 tấn/năm), công việc thu hoạch và chế biến
chè cũng gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, ngay cuối thế kỷ XIX, ở Vân
Nam đã ra đời phương thức trồng chè tập trung theo quy mô công nghiệp, đầu
tiên là huyện Mãnh Hải thuộc châu Síp-Xong-Bản-Na, sau đó mở rộng ra các
châu Lan Thương, Đức Hùng, Hồng Hà, Văn Sơn, Đại Lý của tỉnh Vân Nam
với việc nghiên cứu tuyển chọn giống mới và kỹ thuật thuật trồng trọt thích
hợp đi kèm.
Tóm lại, sản xuất chè trên thế giới tiếp tục phát triển, ổn định và đa
dạng về sản phẩm, tuy nhiên thị trường tiêu thụ chủ yếu chè đen, tiếp đến chè
xanh, chè phổ nhĩ, chè ôlong Sự đa dạng của sản phẩm chủ yếu phụ thuộc
vào giống, vùng trồng và chế độ canh tác. Trên thế giới, sản xuất và tiêu thụ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
chè đen vẫn chiếm tỷ lệ lớn (70%), còn chè xanh có xu hướng sử dụng loại
chè chất lượng cao vẫn giữ hương thơm tự nhiên, đặc trưng của giống.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè Việt Nam
Việt Nam là nước có ngành sản xuất chè lâu đời, với 35 tỉnh trồng chè
có tổng diện tích khoảng 130 nghìn ha và cung cấp cho 700 cơ sở sản xuất
chè khô. Cây chè Việt Nam có nhiều lợi thế như đa dạng phong phú về nguồn
giống, đất đai khí hậu phù hợp, nhiều mô hình năng suất cao (trên 30 tấn/ha);
nhiều vùng chè chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu
(Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng); các giống chè Shan bản địa năng suất cao,
chất lượng tốt có thể chế biến nhiều mặt hàng chè như chè xanh, chè đen, chè
vàng, chè Phổ nhĩ và có thể sản xuất chè hữu cơ giá trị cao.
Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Chè Việt Nam năm 2010, cả nước
có tổng diện tích 131.487 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh có 115.641
Một số giống chè mới được nghiên cứu và Bộ Nông nghiệp cho phép áp dụng
trong sản xuất như giống 1A, TH3, TRI777, LDP1, LDP2. Tuy nhiên diện
tích giống chè Trung Du trồng bằng hạt vẫn chè Shan chiếm đến 59%, diện
tích chè Shan chiếm 27,3%, diện tích các giống mới trồng bằng cành chỉ
chiếm khoảng 11,9%, diện tích các giống chè khác chiếm khoảng 1,8%. Năng
suất búp chè tươi chỉ đạt khoảng 3,68 tấn/ha. Nhưng hiện nay dần dần trồng
thay thế cho các giống chè cũ như Trung Du có năng suất thấp, bằng các
giống chè mới chọn lọc được khu vực hóa ở một số vùng sản xuất, đã đưa
năng suất chè lên 5,3 tấn/ha vào năm 2004. Đến nay vào năm 2013 năng suất
chè Việt Nam đạt 7,7 tấn búp chè tươi/ha, tương đương 1,5 tấn chè khô/ha.
Chính vì thế làm cho năng suất chè Việt Nam được nâng lên ngang tầm với
năng suất chè thế giới.
∗ Chất lượng sản phẩm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Ở Việt Nam sản xuất chè gồm 2 loại chính là chè xanh và chè đen. Tỷ
trọng chè xanh chiếm 30 – 35% để tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Còn chè đen
chủ yếu để xuất khẩu chiếm 65 – 70%.
Trong những năm qua chúng ta đã nghiên cứu chọn tạo, nhập nội nhiều
giống chè để chế biến chè xanh chất lượng cao như Kim Tuyên, Thúy Ngọc,
Phúc Vân Tiên, PT95, Bát Tiên, Keo Am Tích, v.v… đã góp phần nâng cao
chất lượng chè xanh Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, tiêu thụ chủ yếu
ở các nước Đông Nam Á.
Chúng ta sản xuất chè đen chủ yếu là để xuất khẩu vẫn từ giống Trung
Du là chính, ngoài ra còn có các giống PH1, LDP2, các giống chè Shan chọn
lọc đưa vào sản xuất thử, chất lượng chè đen thuộc loại trung bình hoặc khá.
Nhưng diện tích trồng những giống chè này còn rất hạn chế. Nên chất lượng
chè đen hiện nay chỉ đạt loại trung bình. Theo kết quả nghiên cứu của Trung
lượng tốt thì công tác chế biến còn hạn chế (như vùng chè Shan các tỉnh vùng
cao), vì thế chất lượng nguyên liệu không đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chất
lượng, khó có thị trường tiêu thụ đạt giá bán cao và ổn định.
Để khắc phục chất lượng sản phẩm chè thấp, trước hết cần có những
giống chè có chất lượng cao chế biến nhiều loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu
của thị trường, đồng thời xây dựng vùng nguyên liệu chè giống mới áp dụng
các kỹ thuật canh tác tiên tiến gắn liền với nhà máy chế biến phù hợp để tạo ra
sản phẩm mới thoả mãn yêu cầu người tiêu dùng, đặc biệt nghiên cứu khai
thác nguồn giống chè Shan, một loài chè bản địa có nhiều lợi thế về năng suất
cao và chất lượng tốt.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
1.2. Tình hình nghiên cứu về giâm cành chè
1.2.1. Cơ sở khoa học của giâm cành
Chè là cây công nghiệp dài ngày, trong điều kiện sản xuất kinh doanh
chu kỳ kinh tế có thể kéo dài 30 – 40 năm. Sinh trưởng cây chè phụ thuộc rất
nhiều vào các yếu tố như giống, điều kiện đất đai, khí hậu và các biện pháp kỹ
thuật canh tác.
Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống
bằng 2 phương pháp: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính. Mỗi phương
pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định. Nhân giống vô tính sẽ tạo ra
được sự đồng đều về hình thái, giữ được đặc trưng đặc tính của cây mẹ, tạo ra
nương chè đồng đều, năng suất chất lượng cao. Nhiều phương pháp nhân
giống vô tính như giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô đã được sử dụng,
nhưng hiện nay phương pháp giâm hom vẫn là phổ biến nhất. Hơn nữa, trồng
chè bằng cành giâm sẽ rút ngắn được thời kỳ kiến thiết cơ bản của nương chè,
cho thu hoạch sớm, hệ số nhân giống cao, cứ 1ha giống hom có thể trồng
được 75- 80 ha chè (2010) [34], (1980) [13]. Tuy nhiên ở phương pháp này
năm 1928, Nhật Bản năm 1936, Srilanca năm (1938) [4]. Ở Trạm thí nghiệm
cây trồng Xukhumi thuộc Grudia từ năm 1928-1930 đã nghiên cứu nhân
giống chè bằng cành giâm, cho rằng phương pháp này có ưu việt tốt nhất. Khi
tạo ra những giống mới như “Kônkhida” chỉ áp dụng nhân giống bằng giâm
cành cho nương chè kết quả tốt nhất, năng suất búp tăng 1,5 lần so với trồng
bằng hạt, tạo ra nương chè đồng đều có thể cơ giới hoá việc đốn, thu hái
nguyên liệu đồng đều, tạo điều kiện trong quá trình chế biến nâng cao chất
lượng sản phẩm (1989) [50], (1985) [48].
Hiện nay các nước trồng nhiều chè đều áp dụng nhân giống bằng cành
giâm (1980) [27]. Theo Bakhơtadze (1971) [46] ở Trung Quốc kỹ thuật giâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
cành chè đã được nghiên cứu từ lâu, dần được áp dụng sang các nước khác,
tuy nhiên mãi đến năm 1958 mới được áp dụng rộng rãi trong cả nước.
Nghiên cứu về hooc mon các chất sinh trưởng đối với sự ra rễ của cành giâm,
các nhà khoa học cho rằng, các hooc mon và kích thích sinh trưởng chỉ có
hiệu quả cao trong phạm vi hẹp đối với những giống chè quý hiếm và khó ra
rễ. Nghiên cứu kỹ thuật cắm hom khi giâm cành, các tác giả Liên Xô cũ, Ấn
Độ, Srilanca đều khẳng định khi giâm hom chè vào túi PE không những
không ảnh hưởng tới sự ra rễ của hom chè mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình vận chuyển ra nương, góp phần tăng tỷ lệ sống của cây khi trồng.
Khi nghiên cứu về giâm cành các nhà khoa học Ấn Độ cho biết, những hom
có nụ hoa, sự ra rễ không bị ảnh hưởng, nhưng nếu nụ hoa tiếp tục phát triển
thì sinh trưởng của hom giâm sẽ kém. Các nhà nghiên cứu ở Srilanca cho rằng
quá trình ra rễ của cành giâm không ảnh hưởng bởi tuổi của cây mẹ. Tuy
nhiên trong sản xuất, những cây chè vào tuổi 4 khi cây bắt đầu ổn định về
sinh trưởng và năng suất thì cho hom giâm tốt. Còn Trơkhaidze (1979) [52]
cho rằng, sự sinh trưởng phát triển của cành giâm phụ thuộc rất lớn vào đặc
vườn ươm tỷ lệ sống đạt 95% và tỷ lệ xuất vườn đạt 86%. Sau khi trồng một
năm cây đạt chiều cao 75cm và đường kính gốc đạt 0,6 cm (1989) [50] Nhiệt
độ cũng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cành giâm. Theo Patarava (1987)
[45] nhiệt độ dưới 5
0
C hoặc trên 45
0
C thì hom chè bị chết, nhiệt độ dưới 15
0
C
và trên 35
0
C thì hom chè sinh trưởng chậm. Nhiệt độ thích hợp cho hom chè
phát triển tốt từ 25-30
0
C.
Những nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ nhiệt đối với cành giâm theo
Hartmen và Kester (1988) [43] cho rằng nhiệt độ không khí ban ngày 21-
27
0
C và ban đêm là 15
0
C sẽ thích hợp cho sự hình thành rễ của nhiều loại cây
trồng khi giâm cành.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Về chế độ chiếu sáng không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cành
giâm, mà nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò của cường độ ánh
phụ thuộc vào rất nhiều nồng độ, loại cây trồng vì vậy tiến hành các thí
nghiệm cụ thể để xác định. Nhiều tác giả cho rằng, trong quá trình giâm
cành cần bổ sung một số chất dinh dưỡng, hoặc vi lượng để làm tăng thêm
sinh trưởng cây chè.
Để thúc đẩy sự phát triển của cành giâm người ta tiến hành bón bổ sung
phân đạm và thu được kết quả rất khả quan. Đối với một số loại cây trồng như
chè, đậu tương thì yếu tố bo có tác dụng kích thích phát triển của rễ tốt hơn.
Việc bón phân cho hom giâm ở vuờn ươm, theo nhiều tác giả nghiên cứu về
giâm cành chè ở Ấn Độ, Grudia, Srilanca cho rằng, việc bón phân cho hom
cành giâm, chỉ nên bắt đầu khi các hom giâm đã có rễ, và kết thúc khi giai
đoạn luyện cây con, một số tác giả cho rằng bón phân NPK theo tỷ lệ 15-10-
10 bón với lượng 1,5 g hỗn hợp này cho một bầu chè sẽ cho kết quả tốt hơn.
1.2.3. Nghiên cứu về giâm cành chè của Việt nam
Trong những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1955-1960)
Việt Nam phát triển trồng hàng vạn ha chè bằng hạt từ các giống của địa
phương, năng suất và chất lượng thấp, nhưng không đủ giống để trồng. Được
tiếp thu tiến bộ kỹ thuật của các nước trên thế giới như Trung Quốc đã ứng
dụng vào Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1959 Trại thí nghiệm Chè Phú Hộ đã
tiến hành nghiên cứu nhân giống chè bằng cành giâm (1979) [26]. Đây là
công việc nghiên cứu rất mới mẻ, phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau. Các
cán bộ của Trại đã tiến hành bố trí nhiều thí nghiệm khác nhau về giâm cành
chè như nghiên cứu về thời vụ giâm cành, phân bón, tưới, phòng trừ sâu bệnh,
loại đất thích hợp để đóng bầu, các loại tuổi hom để giâm cành trong bầu và
ngoài đất. Nghiên cứu các vật liệu làm bầu bằng ống tre nứa, lá bẹ chuối, lá