B
Ộ GIÁO DỤC V
À ĐÀO T
ẠO
B
Ộ NÔNG NGHIỆP V
À PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ NHẬT LINH ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ TẠI MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Lê Nhật Linh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN!
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý đất đai với đề tài: “Đánh giá việc thực
hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại một số dự án trên địa
bàn thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS. TS.
Đỗ Nguyên Hải, là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian nghiên cứu đề tài và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến chân thành của các thầy
giáo, cô giáo khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí lãnh đạo
UBND thành phố Hà Tĩnh, phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý dự
án và các xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện
đề tài.
Trân trọng cảm ơn đối với tất cả tập thể, người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ng
ày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
1.3.2 Thời kỳ 1993 đến 2003 17
1.3.3 Từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay 19
1.4 Một số quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 21
1.4.1 Chính sách bồi thường 21
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
1.4.2 Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 25
1.4.3 Chính sách tái định cư 25
1.5 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại tỉnh Hà Tĩnh
và thành phố Hà Tĩnh 26
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Tĩnh 31
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn TP Hà Tĩnh 31
2.2.3 Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại 2 dự án
nghiên cứu 31
2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải
phóng mặt bằng đến đời sống của các hộ dân bị thu hồi đất 31
2.2.5 Đề xuất một số giải pháp cho việc thực hiện chính sách bồi thường
giải phóng mặt bằng 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 32
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 32
2.3.3 Phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu 32
2.3.4 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài
nghiên cứu 32
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Hà Tĩnh 34
2 Đề nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Mức lũ của sông Rào Cái 37
3.2 Hiện trạng phân bố dân cư thành phố Hà Tĩnh năm 2013 40
3.3 Cơ cấu lao động của thành phố Hà Tĩnh năm 2013 41
3.4 Đặc điểm chính hệ thống kênh tiêu thành phố Hà Tĩnh 42
3.5 Diện tích đất bị thu hồi đủ điều kiện được bồi thường tại dự án nâng
cấp, cải tạo Quốc lộ 15 A đoạn nối QL 1A đến đường Hồ Chí Minh 55
3.6 Kết quả bồi thường về đất tại dự án nâng cấp, cải tạo Quốc lộ 15 A
đoạn nối QL 1A đến đường Hồ Chí Minh 56
3.7 Diện tích đất bị thu hồi thực hiện dự án đường Nguyễn Du kéo dài đến
cầu Thạch Đồng đủ điều kiện được bồi thường 57
3.8 Kết quả bồi thường về đất tại dự án đường Nguyễn Du kéo dài đến
cầu Thạch Đồng 58
3.9 Dự án đường Quốc lộ 15 A đoạn nối QL 1A đến đường Hồ Chí Minh 61
3.10 Dự án đường Nguyễn Du kéo dài đến cầu Thạch Đồng 61
3.11 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ tại dự án Đường án Quốc lộ 15 A
– đoạn nối QL 1A đến 64
3.12 Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ tại dự án Đường Nguyễn Du kéo
dài đến cầu Thạch Đồng 65
3.13 Kết quả bồi thường bằng tiền cho người bị thu hồi đất tự lo chỗ ở mới 66
3.14 Kết quả giao đất tái định cư tại dự án đường Quốc lộ 15 A đoạn nối
QL 1A đến đường Hồ Chí Minh 67
Page 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập, vấn đề thu hồi
đất phục vụ cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng và phát triển kinh tế đang là vấn đề nhạy cảm, là mối quan tâm của
Nhà nước, chính quyền địa phương, chủ đầu tư và người sử dụng đất bị thu
hồi đất, nó không chỉ tác động về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến
yếu tố chính trị - xã hội.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 (khóa IX) đưa ra những chủ trương,
chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội toàn quốc
lần thứ IX của Đảng, trong đó có giải pháp thực hiện chính sách điều tiết hữu
hiệu nhất đối với đất đai nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước với tư cách là đại
diện chủ sở hữu về đất đai và là nhà đầu tư lớn nhất về phát triển hạ tầng, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nhiều năm qua Nhà nước đã đầu tư rất lớn nguồn ngân sách hàng năm cho
việc thu hồi đất phục vụ các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài xây dựng các
khu đô thị mới, phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng… Luật Đất đai năm 2003 có
nhiều nội dung mới được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế nhằm điều chỉnh
các mối quan hệ pháp luật đối với các chủ thể quản lý, sử dụng đất, trong đó có
công tác bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Những năm gần đây, công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng gặp
nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả thấp, kể cả việc thu hồi đất để xây dựng
cơ sở hạ tầng phục vụ cho chính cộng đồng dân cư có đất bị thu hồi. Nhiều
địa phương phải điều chỉnh lại quy hoạch, sửa đổi thiết kế dự án, chờ đợi do
không giải phóng được mặt bằng hoặc do cơ sở hạ tầng không đảm bảo. Hậu
quả là làm ảnh hưởng tiến độ, gây thiệt hại lớn về kinh tế của các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư có nhu cầu sử dụng đất và Nhà nước, làm mất ổn định
- Nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn thành phố
Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh.
* Yêu cầu nghiên cứu
- Các nghiên cứu, số liệu đưa ra phải đảm bảo chính xác, tin cậy, có cơ
sở khoa học, phù hợp với thực tế.
- Nắm vững hiểu rõ các chính sách trong công tác bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Phản ánh được sự ảnh hưởng của việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và
TĐC, GPMB đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách, bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư phải phù hợp với thực tế địa phương. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
1.1.1.1 Bồi thường
1.1.1.3 Tái định cư
Tái định cư (TĐC) là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước
đây để sinh sống và làm ăn. TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường về
đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại
cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất tinh thần tại đó.
Như vậy, tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT
- XH đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay, ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở
thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức
sau: (1) bồi thường bằng nhà ở; (2) bồi thường bằng giao đất ở mới; (3) bồi
thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan
trọng trong chính sách GPMB.
1.1.2 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Để thực hiện được dự án theo đúng tiến độ, thì trước hết các chủ đầu tư
cần phải giải phóng mặt bằng (GPMB); đó là công việc trọng tâm, hết sức
quan trọng, nhưng phức tạp, tốn kém nhiều thời gian, công sức và tiền của.
Ngày nay, việc giải phóng mặt bằng ngày càng trở nên khó khăn hơn do đất
đai ngày càng có giá trị và khan hiếm. GPMB liên quan đến lợi ích của nhiều
cá nhân, tập thể và của cả cộng động dân cư trên một địa bàn nhất định với
những đặc điểm chủ yếu như sau:
- Tính đa dạng: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau
với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau.
- Khu vực trung tâm đô thị (mật độ dân cư rất cao, giá trị đất và tài sản
trên đất lớn, mức sống và trình độ dân cư cao). Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
1.1.3 Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải
tuân thủ pháp luật và thực hiện theo một quy trình chặt chẽ được tiến hành.
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải
đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên có liên quan.
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải gắn
với việc tái định cư, ổn định đời sống và việc làm cho người có đất bị thu hồi.
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất, phải
được thực hiện công khai, dân chủ với sự tham gia của cộng đồng.
- Việc bồi thường đất đai, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất phải kết
hợp nhiều biện pháp, trong đó biện pháp tuyên truyền, giáo dục, tư vấn thuyết
phục để người dân tự giác thực hiện là quan trọng.
1.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường
1.1.4.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng luôn được Chính phủ
không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong công
tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai.
Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng
nhu cầu về mặt bằng cho sự phát triển các dự án đầu tư. Thực tiễn triển khai
cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Hệ
thống văn bản pháp luật đất đai còn có những nhược điểm như là số lượng
nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, chưa đồng bộ, chặt
chẽ gây lúng túng trong xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật.
1.1.4.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
số địa phương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCNQSD đất.
1.1.4.5 Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng của hệ thống
quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất
động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, GCNQSDĐ là căn cứ
để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường.
Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn hạn chế, đặc biệt công
tác đăng ký biến động về sử dụng đất.
1.1.4.6 Yếu tố giá đất và định giá đất
Hiện nay, nước ta giá cả đất đai dựa trên chuyển nhượng quyền sử
dụng, là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm. Một trong những điểm
mới của Luật Đất đai 2003 là các quy định về giá đất. Nếu như trước đây Nhà
nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau
thì Luật Đất đai 2003 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ
đất đai khác nhau.
Trước khi có Luật đất đai năm 2003, việc xác định giá đất, bồi thường,
giải phóng mặt bằng, tái định cư được quy định tại các văn bản dưới luật như
Nghị định số 87/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định khung
giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ
quy định về việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị định số
22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy định về
đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, Khung giá đất để tính bồi thường
1.2.1 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di
dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với
tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố. Để giải quyết nhà ở
cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông
dân vùng phụ cận. Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính
sách như hỗ trợ tài chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và
chính sách tái định cư.
Hàn Quốc là một nước nhỏ hẹp với 70% diện tích là đất đồi, núi cho
nên đất công cộng được xem là một vấn đề hết sức quan trọng. Do đó để sử
dụng đất một cách hiệu quả hơn thì các quy hoạch và quy chế được coi như Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
một hình thức pháp luật.
Luật Đất đai của Hàn Quốc được xác lập trên cơ sở Luật quy hoạch đô
thị cho từng đô thị và Luật quản lý sử dụng quốc thổ bao gồm tất cả các đô thị,
Nhà nước chỉ định năm khu vực sử dụng để cân bằng sự phát triển đồng bộ.
Luật bồi thường GPMB của Hàn Quốc được chia ra thành hai thể chế.
Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường GPMB cho đất công cộng đã đạt
được theo thủ tục thương lượng của pháp luật. Hai là luật “sung công đất”
theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp.
Thực hiện bồi thường theo luật mới của Hàn Quốc thì sẽ thực hiện
theo ba giai đoạn:
- Tiền bồi thường đất đai được giám định viên công cộng đánh giá
trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng.
Giá quy định không dựa vào lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự
khách quan trong việc bồi thường.
hồi đất không tán thành với phương án bồi thường do nhà nước xác định, họ
có quyền thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi
phí thiệt hại. Nhà nước trả tiền thuê định giá lại.
Việc xác định mức bồi thường được xác định là giá trị bất động sản do
người bị thu hồi đất đầu tư, không phải là giá trị thực tế của bất động sản.
Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước được bóc tách
khỏi giá trị bồi thường. Điều này có nghĩa là nhà nước không bồi thường theo
giá bất động sản hiện tại mà bồi thường theo giá thấp hơn do trừ đi phần giá
trị bất động sản tăng thêm từ sự đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng xem xét bồi thường cho người bị thu hồi
đất các thiệt hại sau đây: Trường hợp công trình công cộng đi ngang qua bất
động sản gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích của người sử dụng đất như tiếng ồn,
khói bụi, người đi đường có thể nhìn vào nhà v.v; trường hợp công trình công
cộng gây chia cắt manh mún mảnh đất hiện hữu; chi phí để hoàn tất thủ tục
đứng tên chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng đối với phần diện tích đất còn lại.
Nhà nước chi trả 20% tổng giá trị bồi thường khi chủ nhà thực hiện
việc tháo dỡ nhà ở. Phần giá trị bồi thường còn lại được thanh toán khi người Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
bị thu hồi đất ở hoàn tất việc di chuyển chỗ ở. Trường hợp hộ gia đình, cá
nhân có nhu cầu cấp bách về chỗ ở sẽ được nhà nước cho thuê nhà ở với giá
thuê phù hợp.
Chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất của Singapore được tiến
hành thận trọng (đặc biệt đối với đất thuộc sở hữu tư nhân) trên cơ sở các quy
định chặt chẽ của pháp luật. Nguyên tắc công bằng, minh bạch được đề cao
trong quá trình thực hiện nên đã nhận được sự đồng thuận của người dân. Tỷ lệ
cưỡng chế khi thu hồi đất thấp (dưới 1% tổng số các trường hợp thu hồi đất).
giải quyết vấn đề nhà được thực hiện thông qua hình thức trả tiền bồi thường
về nhà ở. Số tiền này được xác định bao gồm: (i) Giá cả xây dựng lại nhà ở,
sự chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; (ii) Giá đất tiêu
chuẩn; (iii) Trợ cấp về giá cả. Giá xây lại nhà ở mới được xác định là khoản
chênh lệch giữa giá trị còn lại của nhà cũ và chi phí xây dựng lại nhà mới. Giá
đất tiêu chuẩn do nhà nước xác định căn cứ theo giá đất của những nhà
thương phẩm trong cùng một khu vực, rồi quyết định. Việc trợ cấp về giá cả
do chính quyền xác định.
1.2.4 Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Theo Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thì
bản chất của công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục
vụ cho mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đồng
thời phải đảm bảo lợi ích của những người bị ảnh hưởng để họ có một cuộc sống
tốt hơn trước về mọi mặt: giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu
hồi đất. Để thực hiện được phương châm đó thì trong công tác bồi thường, hỗ trợ
và TĐC phải lấy phát triển con người là trung tâm, không chỉ là các chính sách bồi
thường về vật chất. Từ quan điểm đó, chính sách bồi thường công bằng là bồi
thường ngang bằng với tình trạng như không có dự án được áp dụng, sao cho đời
sống của người dân bị ảnh hưởng sau khi được bồi thường phải đạt được ngang
với mức cũ của họ trước khi có dự án. Tuy vậy, các chính sách này cũng có những
khác biệt so với chính sách của Nhà nước Việt Nam như:
- Khái niệm hợp pháp hay không hợp pháp trong chính sách bồi
thường, hỗ trợ và TĐC là một trong những khác biệt có khả năng gây ra Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
những vấn đề xã hội lớn khi áp dụng chính sách TĐC của WB, ADB. Theo
các tổ chức này thì thiếu chứng thư hợp pháp về đất sẽ không ảnh hưởng tới
công tác khá mới mẻ ở Việt Nam nên cần có thời gian phù hợp để ban hành
quy định và làm quen với công việc này.
- Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng
còn theo chính sách hiện hành của Việt Nam thì phạm vi ảnh hưởng vẫn còn
hạn hẹp.
1.3 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt
Nam qua các thời kỳ
1.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1993
Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, nước ta tiến hành xóa bỏ chế
độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân
dân và ban hành Hiến pháp năm 1959. Nghị định số 151/TTg ngày 15/04/1959
của Hội đồng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất trong
đó có quy định về bồi thường về đất. Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số
151/TTg, ngày 06/07/1959 Liên bộ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Nội vụ đã
ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TT-LB quy định cụ thể về bồi thường khi
Nhà nước trưng dụng ruộng đất. Theo các văn bản này, nguyên tắc thu hồi và
trưng dụng ruộng đất được quy định cụ thể như sau:
+ Đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng
đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất.
+ Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng
dụng thừa, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt; tận dụng đất hoang
để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân.
+ Tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa.
- Nguyên tắc bồi thường:
+ Bồi thường bằng đất (là cách tốt nhất và là chủ yếu): vận động nông
dân điều chỉnh hoặc nhường ruộng đất cho người có đất bị thu hồi.
+ Bồi thường bằng tiền: căn cứ vào sản lượng đã dùng để tính thuế đất
nông nghiệp và tình hình thực tế tại địa phương (đời sống của nhân dân cao