BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ HẸN
TÌNH HÌNH NHIỄM SÁN LÁ GAN NHỎ (DICROCOELIUM Spp.)
SÁN LÁ TUYẾN TỤY (EURYTREMA Spp.) TRÊN ĐÀN BÒ THỊT
NUÔI TẠI HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH VÀ BIỆN
PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin được trích dẫn trong luận văn đều
đã được chỉ rõ nguồn gốc, mọi sự giúp đỡ đều đã được cám ơn.
Hà Nội , ngày 20 tháng 12 năm 2014
Tác giả Vũ Thị Hẹn
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Sán lá gan nhỏ Dicrocoelium dendriaticum (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2012) 3
2.1.1. Vị trí của Sán lá gan nhỏ Dicrocoelium dendriticum trong hệ thống
phân loại động vật 3
2.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo 3
2.1.3. Vòng đời 4
2.1.4. Bệnh lý, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 6
2.1.5. Đặc điểm dịch tễ học 6
2.1.6. Chẩn đoán bệnh 7
2.1.7. Phòng trị bệnh 7
2.2. Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ Dicrocoelium dendriaticum ở
trong nước và trên toàn thế giới. 8
3.5.2. Định loại Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema pancreaticum 25
3.5.3. Thu thập trứng sán Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema pancreaticum . 25
3.5.4. Kiểm tra phân tìm trứng sán Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema
pancreaticum 26
3.5.5. Kích thước của Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema pancreaticum
gây bệnh cho bò ở Việt Nam 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.5.6. Sức sống của trứng Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema
pancreaticum trong các môi trường 28
3.7. Phương pháp tính toán số liệu 32
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1. Thành phần loài sán lá gan nhỏ 34
4.2. Thành phần loài sán lá tuyến tụy 34
4.3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema
pancreaticum ở bò qua xét nghiệm phân 36
4.4. Tình hình nhiễm Dicrocoelium dendriaticum và Eurytrema pancreaticum
qua mổ khám 38
4.5. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của sán Dicrocoelium
dendriaticum và Eurytrema pancreaticum 40
4.5.1. Kích thước của trứng Dicrocoelium dendriaticum 40
4.5.2. Kích thước của trứng Eurytrema pancreaticum 41
4.5.3. Sự phát triển của trứng 43
4.6. Sự phát triển của trứng D. dendriaticum và Eurytrema pancreaticum
trong bể Biogas 46
4.7. Hiệu lực của thuốc tẩy 51
4.8. Biện pháp phòng trừ 53
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
2.1. Hình ảnh sán và trứng sán Dicrocoelium dendriaticum 3
2.2. Hình ảnh vòng đời D. dendriticum 4
2.3. Hình ảnh về sán và trứng Eurytrema pancreaticum 11
2.4. Hình ảnh vòng đời sán lá tuyến tụy 12
2.5. Hình ảnh vật chủ trung gian của Eurytrema pancreaticum. 13
3.1. Bản đồ hành chính Ninh Bình 22
3.2. Cấu trúc bể Biogas xây cố định 31
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cs : Cộng sự
GDP : Tổng sán phẩm quốc nội
Spp : Species plural
WHO : Tổ chức y tế thế giới
cho năng suất thấp, chất lượng kém và tạo điều kiện cho bệnh truyền nhiễm
phát sinh “Bệnh ký sinh trùng mở cửa cho bệnh truyền nhiễm”
Do nước ta là nước nhiệt đới gió mùa nên bệnh xảy ra quanh năm, thời
tiết nóng ẩm mưa nhiều tạo điều kiện cho ký chủ trung gian phát triển. Mầm
bệnh phát tán ra môi trường là nguy cơ lớn lây nhiễm cho người. Người mắc
bệnh sán lá gan, cơ thể suy nhược, sút cân, viêm gan, viêm túi mật…
Gần đây, bệnh sán lá gan trên người đã được phát hiện ở một số tỉnh thành
trong cả nước. Hiện nay ở nước ta đã phát hiện thấy có 45 tỉnh thành có người
nhiễm sán lá gan. Từ tháng 1 đến đầu tháng 6 năm 2009, số bệnh nhân được
phát hiện và điều trị sán lá gan là 2.085 ca, tăng 70% so với các năm trước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Trong đó số người nhiễm sán lá gan tập trung nhiều ở các tỉnh miền Trung và
Tây Nguyên như Quy Nhơn 1.258 ca, Bình Định 390 ca, Quảng Ngãi 200 ca,
Gia Lai 82 ca…
Đối với bệnh sán lá tuyến tụy mặc dù hiện nay ở nước ta chưa phát hiện
được ca nào trên người nhưng trên thế giới đã có người mắc.
Vì vậy, việc xác định tình hình bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò để có biện
pháp điều trị bệnh đạt kết quả cao là một yêu cầu cấp thiết.Xuất phát từ yêu cầu
thực tế của sản xuất chăn nuôi trâu, bò, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ (Dicrocoelium Spp.), sán lá tuyến tụy
(Eurytrema Spp.) trên đàn bò thịt nuôi tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình và
biện pháp phòng trị .”
1.2. Mục đích của đề tài
- Xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm trứng và sán trưởng thành trên bò.
- Định danh sán lá gan nhỏ và sán lá tuyến tụy tìm được trên bò.
- Xác định thành phần vật chủ trung gian của sán lá gan nhỏ và sán lá
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Bộ Plagiorchiida Skrjabin et Schulz, 1937
Họ Dicrocoeliidae Stiles et Hassall, 1898
Giống Dicrocoelium Linnaeus, 1758
Loài Dicrocoelium dendriaticum (Linnaeus, 1758)
2.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo
Hình 2.1. Hình ảnh sán và trứng sán Dicrocoelium dendriaticum
D. dendriaticum được Rudolphi phát hiện năm 1819 và D. hospes được
Loos phát hiện năm 1899. Hình dạng của D. dendriaticum giống như
Clonorchis sinensis, nhưng nhỏ hơn, kích thước của sán từ 1,0 - 2,5mm x 5 -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
15mm. Tinh hoàn phân thùy yếu, nằm ở phần trước cơ thể, ngược lại tinh
hoàn của C. Sinensis nằm ở phía sau cơ thể. Giác bụng lớn hơn giác miệng,
đường kính 0,40 - 0,45mm. Giác miệng có đường kính 0,30 - 0,40mm. Túi
sinh dục dài 0,50 - 0,60mm, thường nằm chéo cái nọ sau cái kia. Buồng trứng
hình tròn nằm giữa cơ thể, đường kính 0,25 - 0,35mm. Tuyến noãn hoàng
nằm hai bên, từ sau tinh hoàn đến giữa cơ thể.
Trứng hình bầu dục, vỏ dày, màu nâu sẫm, có kích thước 0,045 - 0,053
x 0,022 - 0,033mm, trong trứng chứa Miracidium.
2.1.3. Vòng đời
Sán thải trứng theo phân ra môi trường, một số loài ốc trên cạn ăn phải
qua đêm khác, kiến lên xuống ngọn cỏ cho đến khi có động vật đến và ăn
chúng, tùy thuộc từng loại vật chủ. Sán trưởng thành sống bên trong động vật,
sinh sản và tiếp tục chu kỳ.
5. Sau khi vào ruột của vật chủ ấu trùng ở trong ruột non.
6. Các Metacercarie di chuyển đến mật, nơi chúng phát triển thành sán
trưởng thành và đẻ trứng.
7. Con người chỉ có thể bị lây nhiễm khi tình cờ nuốt phải con kiến bị
nhiễm bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
2.1.4. Bệnh lý, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
Khi bệnh súc bị nhiễm nhẹ thì không gây hại cho thành ruột, nhu mô
gan. Khi bị nhiễm nặng, bệnh súc bị thiếu máu, vàng da, khi sán non cư trú
gây vết loét ở mắt, da, não và phổi.
D. dendriaticum ký sinh trong ống dẫn mật, gây kích thích, ống dẫn mật
viêm, tăng sinh, xơ hóa. Tổ chức gan tăng sinh, thoái hóa, xơ hóa, thoái hóa
mỡ, gan to có nhiều điểm trắng nhạt, có thể gây ung thư gan, gây rối loạn
chức năng gan và chức năng tiêu hóa. Ống tụy có thể bị dày, lách có khi sưng
và xơ hóa, bệnh súc già yếu và có thể mắc các bệnh kế phát khác.
2.1.5. Đặc điểm dịch tễ học
Động vật cảm nhiễm
Trong tự nhiên bò, dê, cừu, lợn và người đều mẫn cảm với
Dicrocoelium dendriaticum.
Vật chủ trung gian
Có 54 loài ốc trên cạn là vật chủ trung gian thứ nhất, Cochlicopa spp.
Ở Mỹ và khoảng 14 - 17 loài kiến Formica spp là vật chủ trung gian thứ hai
- Albendazole liều 15mg / kg TT/ ngày cho trâu, bò (Roberson, 1988b).
- Triclabendazole liều 300mg/ ngày x 6 ngày có tác dụng tốt hơn cho dê, cừu.
+ Điều trị cho người
Có thể tẩy sán cho người bằng Albendazole, liều 600mg/kgTT x 3 lần/ngày x
3 ngày ( nguồn tài liệu của Đức).
- Triclabendazole, liều 300mg/kgTT/ngày x 6 ngày có tác dụng tốt cho người.
Phòng bệnh
- Vệ sinh đồng cỏ, bãi chăn thả, diệt ốc, kiến ký chủ trung gian của D.
dendriaticum
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Không để gia súc và người ăn phải kiến, đặc biệt là kiến chết rơi vào thức ăn
khó nhìn thấy.
- Kiểm tra định kỳ 6 tháng một lần phát hiện vật bệnh để điều trị.
- Truyền thông, giáo dục sức khỏe cho nhân dân để phòng chống bệnh.
2.2. Tình hình nghiên cứu sán lá gan nhỏ Dicrocoelium dendriaticum ở
trong nước và trên toàn thế giới.
2.2.1. Nghiên cứu trong nước
Hiện nay bệnh chưa được nghiên cứu tại Việt Nam.
2.2.2. Nghiên cứu ở nước ngoài
Dicrocoelium dendriticum là một loài sán lá tương đối hiếm gặp, sán
lá thuộc họ Dicrocoelidae, gây tổn thương hệ gan mật trên người, với thống
kê số ca chưa đầy đủ thì con số bệnh nhân bị tổn thương gan và hệ đường mật
trên toàn cầu chưa đến 1.000 (Jarisdh và cs., 2005); trái lại, trên gia súc như
cừu, bò thì loài sán lá này gây tổn thương cũng khá phổ biến như sán lá gan
lớn. Hậu quả cuối cùng của nhiễm sán lá Dicrocoelium dendriticum trên
người hiếm gặp xơ gan, nhưng động vật thì khá phổ biến.
Praziquantel là thuốc điều trị đầu tay của nhiễm loại sán này. Liều dùng
20mg/kg x 3 lần/ ngày trong 1 ngày duy nhất hoặc chia 2 ngày cho hiệu quả
khỏi cao đến 96% (Drabick và cs., 1988; Eberman và cs 2005)
Một số thuốc khác có hiệu lực điều trị trên gia súc, song trên người cho
kết quả chưa cao như Netobimin (liều 15mg/kg) hoặc Albendazole (liều dùng
400mg x 2 lần/ ngày) cũng chỉ cho hiệu quả khỏi chỉ 72-83%.
Nhiễm Dicrocoleium dendriticum gọi là bệnh Dicrocoeliiasis ở người
thường có triệu chứng mơ hồ hoặc không, nhiều trường hợp bệnh nghi ngờ là
khi hỏi là tiền sử có ăn gan của động vật bị nhiễm, trứng của sán ở trong gan
chu du khắp cơ thể đến ruột. Ca nhiễm thật sự ở người với loài sán này khi
con người tình cờ hoặc cố ý ăn các con kiến mà không biết chúng bị nhiễm.
Điều Trị
Praziquantel là thuốc điều trị đầu tay của nhiễm loại sán này. Liều dùng
20mg/kg x 3 lần/ ngày trong 1 ngày duy nhất hoặc chia 2 ngày cho hiệu quả
khỏi cao đến 96% (Drabick và cs., 1988; Eberman và cs 2005)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Một số thuốc khác có hiệu lực điều trị trên gia súc, song trên người cho
kết quả chưa cao như Netobimin (liều 15mg/kg) hoặc Albendazole (liều dùng
400mg x 2 lần/ ngày) cũng chỉ cho hiệu quả khỏi chỉ 72-83%.
2.3. Sán lá tuyến tụy Eurytrema pacreaticum
2.3.1. Vị trí của Sán lá tuyến tụy Eurytrema pacreaticum trong hệ thống
phân loại động vật
Theo Skrjabin và cs (1977), Nguyễn Thị Lê và cs (1996), sán lá gan ký
sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động
vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
được nhiệt độ từ -20°C đến 50°C trong vài giờ. Trong điều kiện khô
ráo, sau 5 ngày trứng bị chết. Miracidium thoát khỏi vỏ trứng
ở trong ống tiêu hóa của ký chủ trung gian và chui sâu vào gan, tụy của ký
chủ này. Sau bốn tuần (kể từ khi xâm nhập vào ký chủ trung gian),
Miracidium biến thành Sporocyst I. Sau 97 ngày cảm nhiễm, Sporocyst I biến
thành Sporocyst II. Sau 165 ngày, Sporocyst sinh ra 144 -218 Cercaria.
Cercaria ra khỏi ký chủ trung gian bằng đường phổi dưới dạng
những bọc có phủ chất nhầy. Những bọc này bám trên cây cỏ. Nếu ký
chủ cuối cùng nuốt phải, Cercaria vào ống tiêu hóa qua ống dẫn tụy xâm
nhập vào những ống của tuyến tụy và phát triển thành dạng trưởng thành. Sán
trưởng thành tiếp tục sống ở tuyến tụy và đẻ trứng. Thời gian sống của sán
trong ký chủ không quá 12 tháng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
ă
n Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12 Hình 2.4.Hình ảnh vòng đời sán lá tuyến tụy
2.3.4. Đặc điểm dịch tể học
Vật chủ cảm nhiễm
Sán ký sinh trong tuyến tụy, có khi ở gan, dạ múi khế của trâu, bò, dê,
cừu, những động vật nhai lại khác và cả ở người.
Trứng sán lá Eurytrema pancreaticum chịu được nhiệt độ từ - 20°C đến +
50°C trong vài giờ. Trong điều kiện khô ráo sau 5 ngày trứng bị chết. Trứng
không bị chết bởi muối vô cơ và một số chất hữu cơ như Aceton, Glycerin,
Phenol 5%. Tỷ lệ nhiễm của bê 75%, bò 50%, cừu 75%, trâu bị nhiễm với tỷ
lệ cao hơn. Tỷ lệ nhiễm bệnh gia súc tăng theo lứa tuổi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận v
Page 14
Bệnh tích
Khi nhiễm nhẹ, tuyến tụy hơi sưng, ống dẫn tụy có hiện tượng thẩm
xuất và dày lên.
Khi nhiễm nặng tổ chức tụy có màu đỏ sẫm, thoái hóa, hoại tử tuyến.
Đảo Langerhan thấm dịch và tăng sinh, viêm tắc hoặc vỡ ống dẫn tụy, ống
dẫn mật sưng to.
2.3.6. Chẩn đoán bệnh
Chẩn đoán lâm sàng
Có thể dựa vào một số triệu chứng điển hình để xác định bệnh và làm
cơ sở cho các xét nghiệm.
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Kiểm tra phân tìm trứng sán bằng phương pháp dội rủa nhiều lần
( Benedek), cần phân biệt với trứng sán lá D. Crocoelium, nên lấy phân 2 - 3
ngày liền để kiểm tra.
Chẩn đoán bằng mổ khám
Phương pháp mổ khám thu thập sán trong ống dẫn tụy là rất quan
trọng, nó xác định chính xác cường độ nhiễm và thành phần loài.
2.3.7. Phòng trị bệnh
Trị bệnh
Có thể tẩy sán lá tuyến tụy trâu, bò bằng một số loại thuốc sau:
- Antimoin potatrat (C
4
H
4
S
6
.1/2H
2
pancreaticum 29,40% .
J. Drozkz và Malcrewski (1971) đã tìm thấy Eurytrema pancreaticum ở
tất cả các vùng núi, trung du, đồng bằng của Bắc bộ và khu 4 cũ với tỷ lệ
nhiễm chung là 75,00% ở bê và 50,00% ở bò trưởng thành, còn trâu thì chỉ
gặp một trường hợp ở trâu trưởng thành .
Tác giả Trịnh Văn Thịnh tổng hợp các tài liệu trước năm 1978 cho biết:
tỷ lệ nhiễm sán lá tuyến tụy ở bò dao động từ 26,50-83,00% và mức độ nhiễm
phụ thuộc vào tuổi.
Ở Nam trung bộ bò nhiễm sán lá tuyến tụy từ 0,55-25,0% tùy theo lứa tuổi
và sinh thái từng vùng. Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi, thấp nhất là bê dưới 6
tháng tuổi (0,55%) và cao nhất là bò từ 25-60 tháng tuổi (Bùi Lập và cs, 1998) .