TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ PHƢỢNG TƢỜNG
ƢỚC TÍNH MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CHO
VIỆC SỬ DỤNG NƢỚC SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Kinh Tế Tài Nguyên Thiên Nhiên
Mã số ngành: 52850102
Tháng 11 Năm 2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ PHƢỢNG TƢỜNG
MSSV: 4105720
ƢỚC TÍNH MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CHO
VIỆC SỬ DỤNG NƢỚC SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời thực hiện
ii
TRANG CAM KẾT
Nhằm thực hiện đúng theo qui định chung của Khoa Kinh tế - Quản trị kinh
doanh, trƣờng Đại học Cần Thơ về việc thực hiện luận văn tốt nghiệp. Tôi xin cam
kết đề tài “ƢỚC TÍNH MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CHO VIỆC SỬ DỤNG
NƢỚC SẠCH CỦA NGƢỜI DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG”
đƣợc hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu
này chƣa đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác.
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Ngƣời thực hiện
iii
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
-Tên đề tài: “Ƣớc tính mức sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng nƣớc sạch của
ngƣời dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng”
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1. Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
2. Về hình thức:
3. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài:
4. Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của luận văn:
v
5. Nội dung và các kết quả đạt đƣợc (theo mục tiêu nghiên cứu):
6. Các nhận xét khác:
7. Kết luận (cần ghi rõ mức độ đồng ý hay không đồng ý nội dung đề tài và các yêu
cầu chỉnh sửa, ):
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Ngƣời nhận xét
Huỳnh Thị Đan Xuân
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Không gian nghiên cứu 3
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 3
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu 3
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1.1 Nhu cầu và phân loại nhu cầu 4
2.1.2 Nhận thức và phân loại nhận thức 6
2.1.3 Khái niệm ƣớc lƣợng mức sẵn lòng chi trả (Willingness to pay; WTP) 7
2.1.4 Khái quát về nguồn nƣớc và vấn đề ô nhiễm nƣớc 8
2.1.5 Khái niệm về nƣớc sạch và các thông số đánh giá chất lƣợng
môi trƣờng nƣớc 8
2.1.6 Phƣơng pháp đánh giá ngẫu nhiên và các bƣớc thực hiện 12
2.1.7 Mô hình hồi qui logistics 15
2.1.8 Cơ sở đƣa ra mức giá 16
2.1.9 Lƣợc khảo tài liệu 17
2.2 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.2.1 Phƣơng pháp chọn vùng nghiên cứu 19
2.2.2 Phƣơng pháp thu thập số liệu 19
2.2.3 Phƣơng pháp phân tích số liệu 20
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ- XÃ HỘI HIỆN
TRẠNG CHẤT LƢỢNG NƢỚC SÔNG HUYỆN KẾ SÁCH
viii
3.1 TỔNG QUAN HUYỆN KẾ SÁCH 22
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 22
4.4.3 Ƣớc tính mức Giá sẵn lòng trả trung bình của đáp viên 53
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 KẾT LUẬN 54
5.2 KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
x
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các biến với dấu kì vọng của các biến độc lập đối với biến phụ
thuộc trong mô hình 25
Bảng 3.1 Các trạm và hệ thống cấp nƣớc trên địa bàn huyện Kế Sách năm 2012 27
Bảng 3.2 Độ mặn lớn nhất trong năm ở trạm Đại Ngãi (Kế Sách) từ 2002-2010 31
Bảng 3.3 Thành phần vi sinh nƣớc mặt tại một số điểm phân tích 30
Bảng 4.1 Sự phân bố các mẫu phỏng vấn trên địa bàn huyện Kế Sách năm 2013 34
Bảng 4.2 Giới tính của đáp viên tại huyện Kế Sách 2013 34
xii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
BTNMT : Bộ tài nguyên môi trƣờng
UNEP : United Nations Environment Programme
WTP : Willingness To Pay
CVM : Contigent Valuation Method
GTVT : Giao thông vận tải
BTC : Bộ Tài Chính
BCH : Bảng câu hỏi
MTQG : Môi trƣờng Quốc gia
GĐ : Gia đình
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
nghiêm trọng. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nƣớc mặt hiện đang có xu hƣớng
ngày càng bị ô nhiễm. Do các chỉ số chất lƣợng nƣớc mặt đều có giá trị không
nằm trong mức cho phép theo tiêu chuẩn của Việt Nam. Trong đó, Huyện Kế
Sách là một huyện của tỉnh Sóc Trăng, với may mắn đƣợc hƣởng nguồn nƣớc
ngọt chiếm diện tích lớn nhất tỉnh. Hàng năm là khu vực sản xuất lúa, cây ăn quả,
sản phẩm chăn nuôi với số lƣợng lớn. Đem về nguồn tài chính tốt cho ngƣời dân
cũng nhƣ góp phần tạo cuộc sống ổn định, góp phần phát triển kinh tế cho tỉnh
nhà. Tuy nhiên, cũng chính do các hoạt động sản xuất này đã làm ô nhiễm nguồn
nƣớc mặt, dẫn đến tình trạng thiếu nƣớc sạch sử dụng rất nhiều. Đại đa số hộ dân
nơi đây còn sử dụng nƣớc sông ngòi, nƣớc mƣa, nƣớc giếng khoan cho sinh hoạt,
ăn uống mặc dù biết chất lƣợng nƣớc không đƣợc đảm bảo. Do thói quen mà từ
trƣớc đến nay, để giải quyết vấn đề ăn uống và sinh hoạt ngƣời dân địa phƣơng
thƣờng áp dụng các biện pháp nhƣ lọc thô, đánh phèn nƣớc tự nhiên để làm sạch
nƣớc. Nhƣng trƣớc tình hình ô nhiễm ngày càng tăng của sông ngòi và môi
trƣờng sống thì những biện pháp làm sạch trên dần dần trở nên lạc hậu và kém
2
hiệu quả. Chất lƣợng nƣớc ở nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại. Việc sử
dụng nƣớc không đảm bảo an toàn và đảm bảo tiêu chuẩn nên số ngƣời mắc
những nhóm bệnh liên quan đến sử dụng nƣớc nông thôn khá cao. Điều này
không chỉ ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe, kinh tế gia đình mà còn ảnh hƣởng đến
phát triển kinh tế, xã hội địa phƣơng.
Trong những năm gần đây, tình trạng ngƣời dân mắc một số bệnh chính liên
quan đến nƣớc không những không giảm mà còn có xu hƣớng tăng lên. Tại buổi
lễ kỷ niệm Ngày nƣớc thế giới, Cục Quản lý tài nguyên nƣớc đã đƣa ra thông tin
có tới 80% trƣờng hợp bệnh tật ở Việt Nam là do nguồn nƣớc bị ô nhiễm gây ra.
Đặc biệt là các bệnh về đƣờng tiêu hóa, bệnh giun sán, bệnh do muỗi truyền ngày
càng bùng phát trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói chung và huyện Kế Sách nói riêng
dẫn đến những hậu quả đáng lo ngại. Xuất phát từ thực tế trên tôi quyết định chọn
- Số liệu sơ cấp đƣợc thu thập từ tháng 09 đến tháng 10 năm 2013
- Thời gian thực hiện nghiên cứu bắt đầu từ 08/2013 đến 11/2013
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nhu cầu và khả năng sẵn lòng chi trả cho việc sử
dụng nƣớc sạch của các hộ gia đình trên địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
khác nhau.
Tính đa dạng của đối tƣợng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred
Marshall viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ƣớc muốn”. Về vấn đề cơ bản
của khoa học kinh tế, vấn đề nhu cầu con ngƣời hầu hết các sách đều nhận định
rằng nhu cầu không có giới hạn.
2.1.1.2 Phân loại nhu cầu
- Theo Aristotle, nhu cầu của con ngƣời có hai loại chính: thể xác và linh hồn.
Sự phân loại này mang tính ƣớc lệ lớn nhƣng nó ảnh hƣởng đến tận thời nay và
ngƣời ta quen với việc phân nhu cầu thành "nhu cầu vật chất" và "nhu cầu tinh
5
thần". Ngoài ra còn tồn tại nhiều kiểu phân loại khác dựa trên những đặc điểm hay
tiêu chí nhất định.
- Theo Boris M. Genkin chia nhu cầu ra hai nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu
đạt mục đích sống. Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lí, nhu cầu an toàn và nhu cầu
tham dự. Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm: 1) giàu có về vật chất; 2)
quyền lực và danh vọng; 3) kiến thức và sáng tạo; 4) hoàn thiện tinh thần. Tùy vào
thiên hƣớng của từng cá nhân mà một trong số bốn nhu cầu trên thể hiện nổi trội.
Có thể trong một ngƣời hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhƣng ở các giai đoạn
khác nhau trong đời.
- Cách phân loại mới dựa vào phân tích bản chất của nhu cầu. Trên quan điểm
mỗi nhu cầu đƣợc hình thành từ hình thức biểu hiện và nhu yếu nên có thể thực
hiện phân loại theo hai thành phần đấy.
+ Hình thức biểu hiện đƣợc phân loại thông qua đối tƣợng của nhu cầu. Chúng
chính là tất cả những gì có ý nghĩa đối với đời sống con ngƣời. Đối tƣợng của nhu
cầu có thể là những sự vật cụ thể trong thế giới xung quanh, có thể là những yếu tố
của tƣ duy. Nhận thức của con ngƣời và xã hội càng cao thì phạm vi đối tƣợng có ý
nghĩa càng rộng. Nhƣ vậy đối tƣợng của nhu cầu đƣợc phân loại theo các lĩnh vực
hoạt động của con ngƣời: xã hội, kinh tế, chính trị, pháp luật, môi trƣờng, tôn
cả một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, năng động, sáng tạo, dựa
trên cơ sở thực tiễn.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, nhận thức là quá trình biện chứng của
sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con ngƣời, nhờ đó con ngƣời tƣ duy
và không ngừng tiến đến gần khách thể.
- Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận thức là
toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc đƣợc chuyển hoá, đƣợc
mã hoá, đƣợc lƣu giữ và sử dụng. Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy
trình đó mà cảm xúc của con ngƣời không mất đi, nó đƣợc chuyển hoá vào đầu óc
con ngƣời, đƣợc con ngƣời lƣu giữ và mã hoá,…”
- Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh
và tái tạo hiện thực vào trong tƣ duy của con ngƣời”. Nhƣ vậy, Nhận thức đƣợc
hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con ngƣời nhận
biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mức độ
thấp, hiểu biết là mức độ cao hơn, hiểu đƣợc các thuộc tính bản chất).
- Các quan niệm khác về nhận thức:
“Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu biết các sự vật hiện tƣợng”. Nhƣ
vậy, Nhận thức và trí tuệ đƣợc đồng nhất nhƣ nhau. Nhờ hoạt động trí tuệ này mà
con ngƣời mới hiểu biết đƣợc sự vật hiện tƣợng.
Nhà Tâm lý học ngƣời Đức cho rằng: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thực
khách quan trong ý thức của con ngƣời, nhận thức bao gồm; Nhận thức cảm tính và
Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau và cơ sở, mục đích
và tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội”
2.1.2.2 Phân loại nhận thức
Theo quan điểm Triết học Mác-Lênin thì:
+ Nhận thức gồm: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
7
Nhận thức cảm tính là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức, biểu hiện
đều cần nƣớc ngọt. 97% nƣớc trên Trái Đất là nƣớc muối, chỉ 3% còn lại là nƣớc
ngọt nhƣng gần hơn 2/3 lƣợng nƣớc này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở
các cực. Phần còn lại không đóng băng đƣợc tìm thấy chủ yếu ở dạng nƣớc ngầm,
và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và trong không khí .
8
2.1.4.2 Ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm nƣớc, theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), là sự giảm
tính phù hợp của nƣớc tự nhiên đối với mục đích sử dụng đã định.
Theo Luật Tài nguyên nƣớc năm 1998, ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi tính chất
vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nƣớc vi phạm tiêu chuẩn cho
phép.
Theo Hiến chƣơng châu Âu về nƣớc nguyên nhân ô nhiễm môi trƣờng nƣớc là
do hoạt động của con ngƣời làm nhiễm bẩn nƣớc, gây nguy hiểm cho con ngƣời,
cho công nghiệp, nông nghiệp, ngƣ nghiệp, cho nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật
nuôi và các loài hoang dã.
Nhƣ vậy, ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi chất lƣợng nƣớc nguồn theo chiều
hƣớng tiêu cực do các tác nhân khác nhau. Hiện nay, trong các hệ sinh thái nƣớc
ngƣời ta đã xác định đƣợc trên 1500 tác nhân ô nhiễm khác nhau nhƣ các chất hữu
cơ không bền vững, các chất hữu cơ bền vững, dầu mỡ, các kim loại nặng,… Khi
tác nhân ô nhiễm đƣa vào môi trƣờng, chúng biến đổi dƣới ảnh hƣởng của các yếu
tố môi trƣờng (ánh sáng, nhiệt độ, chế độ thủy văn, sinh vật,…) Sau đó tiếp xúc với
đối tƣợng nhận (con ngƣời, sinh vật, vật liệu…)
Sự ô nhiễm nƣớc về nhiều mặt sẽ dẫn đến tai họa khủng khiếp, nếu
từng ngƣời cho đến từng doanh nghiệp không có sự thay đổi nhận thức của mình
đối với nguồn nƣớc hiếm hoi này.
2.1.5 Khái niệm về nƣớc sạch và các thông số đánh giá chất lƣợng môi
trƣờng nƣớc
2.1.5.1 Khái niệm về nước sạch
Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hàm lƣợng oxy hòa tan, vì oxy
không thể thiếu đƣợc đối với tất cả các cơ thể sống trên cạn cũng nhƣ dƣớc nƣớc.
Nó duy trì quá trình trao đổi chất, sinh ra năng lƣợng cho sự tăng trƣởng, sinh sản
và tái sản xuất. Hàm lƣợng oxy tối thiểu đối với các loại cá hoạt động mạnh nhƣ cá
hồi là 5÷8 mg/l, còn đối với các loại cá có nhu cầu oxy hóa thấp nhƣ cá chép là 3
mg/l.
Oxy là loại khí hòa tan trong nƣớc, không tác dụng với nƣớc về mặt hóa học.
Độ hòa tan của nó phụ thuộc vào các yếu tố nhƣ áp suất, nhiệt độ và các đặc tính
của nƣớc (các thành phần hóa học, vi sinh, thủy sinh sống trong nƣớc,…).
Nồng độ bão hòa của oxy trong nƣớc ở nhiệt độ cho trƣớc có thể tính theo định
luật Henr. Nồng độ này thƣờng có giá trị trong khoảng 5÷8 mg/l (ở nhiệt độ từ
C đến C)
10
Các nguồn nƣớc mặt do có bề mặt thoáng tiếp xúc trực tiếp với không khí
nên thƣờngcó hàm lƣợng oxy hòa tan cao. Sự quang hợp và hô hấp của thủy sinh
cũng làm thay đổi hàm lƣợng oxy hòa tan trong nƣớc mặt.
Các chất thải sử dụng oxy vào các nguồn nƣớc, quá trình oxy hóa sẽ làm
giảm nồng độ oxy hòa tan trong các nguồn nƣớc này, thậm chí có thể đe dọa sự
sống của các loài cá cũng nhƣ cuộc sốngdƣới nƣớc.
Việc xác định thông số về hàm lƣợng oxy hòa tan có ý nghĩa quan trọng
trong việc duy trì điều kiện hiếu khí trong quá trình xử lý nƣớc thải. Mặt khác, hàm
lƣợng oxy hòa tan còn là cơ sở của phép phân tích, xác định nhu cầu oxy sinh hóa.
Đó là thông số quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nƣớc thải đô thị. Ngoài
ra oxy còn là yếu tố quan trọng trong kiểm soát ăn mòn sắt thép, đặc biệt là hệ
thống đƣờng ống phân phối nƣớc.
- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD)
Nhu cầu oxy sinh hóa là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức độ ô
nhiễm của nƣớc thải đô thị và chất thải hữu cơ của công nghiệp và là thông số cơ
3
tự do là sản phẩm phân hủy các chất protein, nghĩa
là ở điều kiện hiếu khí xảy ra quá trình oxy hóa theo trình tự sau:
Protein=> NO
3
- => NO
2
- => NH
3
Nitơ không những chỉ có thể gây ra các vấn đề về eutrophication (phì hoặc
vƣợt quá 45mg NO
3
/l) cũng có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức
khỏe con ngƣời, loại vi khuẩn ở ruột có thể chuyển hóa nitrat thành nitrit. Nitrit có
áp lực với hồng cầu trong máu mạnh hợ oxy sẽ tạo thành methomoglobin. Hợp chất
này gây bệnh xanh xao, thiếu máu, thậm chí có thể gây tử vong.
- Chỉ tiêu vi sinh của nƣớc Coliform
Nƣớc là một phƣơng tiện lan truyền các nguồn bệnh và trong thực tế, các
bệnh lây lan bằng đƣờng nƣớc là một nguyên nhân chính gây ra ốm đau và tử vong.
Chất lƣợng về mặt vi sinh của nƣớc thƣờng đƣợc biểu thị bằng nồng độ của
vi khuẩn chỉ thị, đó là những vi khuẩn dạng trực khuẩn hay coliform.
Coliform đƣợc đặc trƣng bởi E.coli (Escherrichia coli) và Streptococci
(enterococco). Chúng sống trong đƣờng ruột của ngƣời và đƣợc thải ra với số lƣợng
lớn trong phân ngƣời và các động vật máu nóng khác (trung bình khoảng 50 triệu
coliform trong 100ml). Nƣớc thải sinh hoạt chƣa qua xử lý thƣờng chứa trên 3 triệu
coli/100ml. các tiêu chuẩn nƣớc uống thƣờng định rõ sự an toàn bằng một phƣơng
pháp xét nghiệm xác định phát hiện ra ở mức trung bình và không vƣợt quá
1coliform/100ml.