Đề tài ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường rừng của người dân thành phố tuyên quang - Pdf 32

Ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi
trường rừng của người dân thành phố Tuyên
Quang

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với con người đặc biệt là duy trì
môi trường sống, đóng góp vào sự phát triển bền vững của mổi quốc gia và sự
tồn tại của Trái Đất. Việt Nam có 13.258.843 ha rừng, ngoài việc cung cấp
gỗ, củi, lâm sản, rừng có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ, duy trì môi
trường sống như: điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn,
rửa trôi, hạn chế bão lụt, hấp thụ các bon, duy trì và bảo tồn đa dạng sinh
học…Các chức năng này của rừng được hiểu là các “Giá trị môi trường và
dịch vụ môi trường rừng”
Trong nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong tổ
chức và hành động bảo vệ và phát triển rừng; ban hành hệ thống pháp luật,
nhiều chủ trương, chính sách và nguồn kinh phí lớn nhằm bảo vệ và phát triển
tài nguyên rừng. Trong đó, đã thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trường
từng theo Quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 của thủ
tướng chính phủ và mới đây Chính phủ đã có nghị định số 99/2010/NĐ-CP
ngày 24 tháng 09 năm 2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Đó là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ
môi trường rừng chi trả cho những người duy trì, bảo vệ và phát triển hệ sinh
thái đó.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, có 445.848ha đất lâm
nghiệp (chiếm 76% diện tích tự nhiên) và diện tích rừng hiện có của tỉnh là
1


386.102ha (rừng tự nhiên: 273.793ha; rừng trồng: 112.310ha), đạt độ che phủ
62,8% là một trong các tỉnh có độ che phủ cao nhất nước. Những năm qua

dân trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ
môi trường rừng của người dân trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
- Đề xuất biện pháp khuyến khích người dân tham gia chi trả dịch vụ
môi trường rừng.

3


1.3. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Tuyên Quang.
- Mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường rừng của người dân
thành phố Tuyên Quang.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả cho dịch vụ môi trường
rừng của người dân thành phố Tuyên Quang.
- Các biện pháp thu hút người dân tham gia chi trả cho dịch vụ môi
trường rừng trên địa bàn thành phố Tuyên Quang.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ môi trường.
rừng của người dân thành phố Tuyên Quang.
- Phạm vi nghiên cứu: 120 hộ / thành phố Tuyên Quang.
1.5. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Ủy Ban Nhân Dân thành phố Tuyên Quang.
- Thời gian thu thập số liệu thứ cấp: từ năm 2010 đến năm 2012.
- Thời gian thu thập số liệu sơ cấp: năm 2013.
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 25-3-2013 đến 31-5-2013.

4



Theo Vũ Tấn Phương (2006), giá trị môi trường và dịch vụ môi trường
được phân thành 5 loại bao gồm:
2.1.2.1 Giá trị phòng hộ đầu nguồn
- Thứ nhất rừng hạn chế xói mòn đất bồi lắng. Rừng bị tàn phá dẫn đến
bề mặt đất đai chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước mưa, dòng chảy bề mặt và
là nguyên nhân cơ bản làm xói mòn đất tăng nhanh.
- Thứ hai rừng điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nước.
Rừng và nguồn nước không thể tách rời nhau. Rừng và nước xuất hiện đồng
thời và thường xuyên có tác động qua lại.
2.1.2.2 Giá trị bảo tồn Đa dạng sinh học
Rừng được coi là sinh cảnh cực kỳ quan trọng xét về mặt đa dạng sinh
học mà chúng sở hữu. Mất rừng, đặc biệt là rừng nhiệt đới – môi trường sống
quan trọng của đa dạng sinh học, đồng nghĩa với việc mất đi tính đa dạng sinh
học của nhân loại.
2.1.2.3 Giá trị cố định, hấp thụ các bon và điều hòa khí hậu
Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng giữ lại và tích lũy,
hay hấp thụ các bon trong khí quyển. Vì thế sự tồn tại của thực vật có vai trò
đáng kể trong việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu.
2.1.2.4 Giá trị du lịch và giải trí/vẻ đẹp cảnh quan
Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và là biện pháp sử dụng
rừng nhiệt đới không cần khai thác nhưng đem lại giá trị kinh tế cao và đầy
tiềm năng.
Ví dụ: Cơ chế chi trả cho dịch vụ giải trí và du lịch ở Châu Âu và Bắc
Mỹ được xác định theo mức “Bằng lòng chi trả” – WTP (Willingness To Pay)
với mức giá từ 1 – 3 USD/người/lần.

6


2.1.2.5 Giá trị lựa chọn và tồn tại


được và không quy thành tiền được. Mục tiêu chính của định giá tài nguyên
môi trường là tìm ra mức tiền mà cá nhân hoặc xã hội bằng lòng chi trả
(Willingness To Pay) cho hàng hóa tài nguyên, môi trường. Để hiểu rõ hơn về
định giá tài nguyên môi trường, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những vấn đề sau
2.2.1. Tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
Theo lý thuyết kinh tế của Munasinghe,1992 (trích từ bài giảng Kinh tế
môi trường của Chu Thị Thu, 2012), tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi
trường là tổng giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng, cụ thể:
TEV = UV + NUV
Trong đó:
TEV: tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường
UV: giá trị sử dụng
NUV: giá trị không sử dụng
Giá trị sử dụng (UV) là giá trị có được từ hiệu quả sử dụng thực của tài
nguyên môi trường. Giá trị sử dụng bao gồm cả giá trị gắn liền với cơ hội sử
dụng hàng hóa dịch vụ môi trường trong tương lai. Ví dụ như: khai thác lâm
sản, sử dụng đất, nguồn nước…
Giá trị không sử dụng (NUV) là thành phần giá trị của một nguồn tài
nguyên thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián
tiếp các dịch vụ do tài nguyên cung cấp.
+ BV (Bequest Value): giá trị lưu truyền chính là phần giá trị có được
từ sự mong muốn bảo tồn tài các nguyên môi trường ( bao gồm cả các giá trị
sử dụng và không sử dụng) cho thế hệ tương lai.
+ EV (Existense Value): Giá trị tồn tại hay giá trị hiện hữu là giá trị của
bản thân sự tồn tại của nguồn tài nguyên môi trường được nhận biết bởi một
cá nhân.
+ OV (Option Value): Giá trị lựa chọn được hình thành khi một cá
nhân có thể tự đánh giá cách lựa chọn để giành các nguồn tài nguyên môi
trường trong tương lai.

Phương pháp chính được sử dụng để “Ước lượng mức sẵn lòng chi trả
cho dịch vụ môi trường rừng của người dân thành phố Tuyên Quang” là
phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM).
9


2.3. Cơ sở lý luận về mức sẵn lòng chi trả - WTP
Thông thường, một cá nhân thường thanh toán các hàng hóa, dịch vụ
mà họ tiêu dùng thông qua giá thị trường (MP). Nhưng cũng có trường hợp cá
nhân tự nguyện hay sẵn lòng trả giá hàng hóa/dịch vụ cao hơn giá thị trường
và mức giá họ tự nguyện hay sẵn lòng trả là khác nhau. Mức sẵn lòng chi trả
là thước đo sự thỏa mãn hay sự hài lòng khi tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ nào
đó. Vì vậy đường cầu được mô tả như đường “sẵn lòng chi trả”. Đường cầu
cũng tạo cơ sở cho việc xác định lợi ích của xã hội từ việc tiêu dùng hay mua
sắm một hàng hóa/dịch vụ nhất định. Phần diện tích nằm dưới đường cầu từ
giá trị 0 đến số lượng tiêu dùng Q* thể hiện tổng giá sẵn lòng chi trả (WTP) và
mối quan hệ đó được phản ánh qua biểu thức sau:
WTP = MP + CS
Trong đó: WTP: mức sẵn lòng chi trả
MP: giá thị trường
CS: thặng dư tiêu dùng
Hình 2.1 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư tiêu dùng
P
Pa

CS
(a)

P*
MP

nhất là Quyết định 380/TTg ngày 10/04/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí
điểm PFES ở hai tỉnh Sơn La – nơi đầu nguồn của hệ thống sông Đà và Lâm
Đồng – nơi đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai; và Nghị định số 99 ngày
24/09/2010 của Chính phủ về thực hiện PFES trên phạm vi cả nước.
Dự án thí điểm về chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai
tại tỉnh Sơn La với sự hỗ trợ của cơ quan Hợp tác kỹ thuật CHLB Đức (GTZ),
tại tỉnh Lâm Đồng với sự hỗ trợ của tổ chức Winrock International. Vì thế
Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới thực
hiện PFES, sau Mexico và Costa Rica.
Kết quả tính đến cuối năm 2010, ở Sơn La đã nhận được hơn 60 tỷ
đồng nhưng lại chưa tiến hành chi trả cho chủ rừng do chưa xác định được
diện tích của chủ rừng. Đây là một sai lầm đáng tiếc trong quá trình thực hiện.
Song tại Lâm Đồng, với sự đồng thuận cao của các bên liên quan, với 55 tỷ
đồng thu được, hơn 8.000 hộ dân bảo vệ rừng được chi trả bình quân 8,1 đến
8,7 triệu đồng/năm, số tiền người dân nhận được tùy thuộc vào khu vực, diện
11


tích từng hộ, bình quân cao gấp ba lần so với thu nhập khoán 203 nghìn
đồng/ha rừng trước đây.
Dựa trên những kết quả khả quan từ thí điểm, hiện nay đã có 60% các
tỉnh thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân. Chủ trương thu
phí dịch vụ môi trường rừng đã được thực hiện trên toàn quốc từ năm 2012
trên cơ sở Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng của Chính phủ. Theo ông Hà Công Tuấn – Thứ trưởng Bộ
NNPTNT khẳng định qua một năm thực hiện đây là một chính sách đúng đắn,
tạo nguồn tài chính bền vững cho bảo vệ và phát triển rừng. Kết quả năm
2012 nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng xấp xỉ 1.200 tỷ đồng, và người
cung ứng dịch vụ là chủ rừng và người nhận khoán được hưởng toàn bộ kinh
phí này. Tuy nhiên, năm 2012, phí dịch vụ môi trường rừng mới chỉ thu từ các

tế họ phải bỏ ra (trích từ nghiên cứu của Lê Thanh An, 2006).
2.5.2. Tại Việt Nam
Tình trạng tài nguyên môi trường bị suy thoái đang là vấn đề nóng
trong những năm gần đây được các nhà nhiên cứu quan tâm. Việc áp dụng
phương pháp CVM ở Việt Nam chưa phổ biến. Phương pháp này giúp các
nhà phân tích ước lượng WTP, từ đó có những chính sách biện pháp để bảo
tồn các tài nguyên môi trường đó. Một số nghiên cứu điển hình:
Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thành (1999) đã tìm hiểu WTP của
khách du lịch cho những cải thiện các con đường và bảo vệ dành cho động vật
hoang dã của vườn quốc gia Cúc Phương. Kết quả cho thấy, mức WTP của
một khách nội địa là 13.270 đồng, của một khách quốc tế là 119.167 đồng.
Phạm Khánh Nam và Trần Võ Hùng Sơn (2001) đã tìm hiểu mức WTP
cho việc thành lập một vùng biển được bảo vệ ở vịnh Nha Trang quanh đảo
Hòn Mun. Thu được kết quả mức WTP của mỗi khách Việt Nam là 17.956
đồng, của khách nước ngoài là 26.786 đồng, tổng mức WTP của cả vùng biển
được bảo vệ ở Hòn Mun là 6.041.571.008 đồng (trích từ nghiên cứu của Lê
Thanh An, 2006)
Một số nghiên cứu gần đây của sinh viên Đại học Lâm nghiệp như:

13


Trương Thị Thu Trang (2012) đã tìm hiểu WTP của người dân xã Vụ
Cầu, Hạ Hòa, Phú Thọ cho việc thu gom và xử lý rác thải. Kết quả cho thấy,
mức WTP trung bình của người dân địa phương cho việc thu gom và xử lý
rác thải là 18.600 đồng/người/năm và các yếu tố ảnh hưởng tới WTP ở đây là:
tổng thu nhập, học vấn, tuổi, giới tính, lượng rác thải bình quân, nhân khẩu,
nghề nghiệp.
Nguyễn Thị Trang Thơ (2012) đã tìm hiểu WTP cho sử dụng nước sạch
của người dân xã trí Quả, Thuận Thành, Bắc Ninh. Kết quả thu được, mức

Phương pháp này được dùng để mô tả các chỉ tiêu trong nghiên cứu
như: các giá trị bình quân, đánh giá của người được phỏng vấn về vấn đề
nghiên cứu, mức sẵn lòng chi trả của người được phỏng vấn… qua đó thống
kê thành các bảng biểu để dễ phân tích.
3.2.2. Phương pháp thống kê so sánh
Từ số liệu thu thập được thông qua phương pháp này cho phép xác định
được tốc độ phát triển kinh tế xã hội giữa các năm, so sánh tốc độ phát triển
giữa năm này qua năm khác và từ đó đưa ra các dự báo.
3.2.3. Phương pháp định giá ngẫu nhiên
Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM – Contigent Valuation
Method) là phương pháp trực tiếp nhằm ước lượng mức sẵn lòng chi trả.
CVM dựa trên ý tưởng đơn giản là nếu bạn muốn biết mức bằng lòng chi trả
của một người cho tính chất nào đó của môi trường hãy “đơn giản” hỏi họ.
15


Khác với các phương pháp truyền thống, CVM không qua một thị
trường thực tế mà qua một thị trường giả định, trong đó các cá nhân trong
mẫu điều tra được coi như các tác nhân tham gia vào thị trường đó. Phương
pháp này áp dụng đối với hàng hóa công cộng cho cả giá trị sử dụng và giá trị
không sử dụng. Giá trị của WTP phụ thuộc nhiều vào sự miêu tả hàng hóa
chất lượng môi trường, thời điểm và cách trả tiền (thuộc về kỹ năng của người
phỏng vấn) và các yếu tố thuộc về phía người được phỏng vấn như thu nhập,
độ tuổi, trình độ…Tất cả các thông tin thu thập được đều mang tính ngẫu
nhiên.
Trong thị trường giả định người ta đặt ra các tình huống (kịch bản –
Scenario). Thông thường, có hai giả định về thay đổi hàng hóa chất lượng môi
trường. Nếu môi trường được cải thiện, các cá nhân sẽ được hỏi họ có sẵn
lòng chi trả để có được sự cải thiện đó không, và nếu có thì WTP đối với giả
định này là bao nhiêu. Và ngược lại, nếu môi trường bị thiệt hại, các cá nhân

dịch vụ môi trường, cần thực hiện các yêu cầu sau:
(1) Mô tả viễn cảnh và giải thích ảnh hưởng do những thay đổi trong
cung cấp hàng hóa dịch vụ môi trường.
(2) Người được hỏi sẽ yêu cầu xem xét những hoàn cảnh đưa ra, trong
đó có các lựa chọn liên quan đến hàng hóa dịch vụ môi trường.
(3) Dựa vào các thông tin cung cấp ở trên, người được hỏi cung cấp ý
kiến có liên quan đến WTP của họ, từ đó có thể suy ra phần giá trị gắn với sự
thay đổi cung cấp hàng hóa dịch vụ đã đưa ra trong câu hỏi.
Trình tự thực hiện của phương pháp CVM bao gồm 5 bước:
B1: Xác định mục tiêu cụ thể
+ Xác định đối tượng hàng hóa, dịch vụ môi trường cần định giá (cảnh
quan môi trường, nguồn nước, đất, không khí…)
+Thiết lập giá trị dung để ước lượng và đơn vị đo
+Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra
+Xác định đối tượng phỏng vấn
B2: Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn
+ Giới thiệu tên đề tài thông tin chung và địa điểm nghiên cứu
+ Thông tin kinh tế - xã hội của địa điểm nghiên cứu
+ Đưa ra viễn cảnh
17


+ Kỹ thuật để tìm hiểu WTP
+ Cơ chế chi trả
B3: Chọn mẫu, tiến hành khảo sát điều tra
+ Quyết định kích thước mẫu
+ Quyết định tiến hành điều tra như thế nào? Khi nào và ở đâu?
+ Điều tra thử
+ Tiến hành điều tra
B4: Xử lý và phân tích số liệu

nguyên môi trường. Từ đó đưa ra các giải pháp, chính sách phù hợp nhằm
quản lý, sử dụng tài nguyên môi trường một cách hợp lý, hiệu quả.
Hạn chế:
+ Thông thường, mức sẵn lòng chi trả của người được phỏng vấn
thường bị hạ thấp do họ cho rằng họ có quyền được hưởng lợi, sử dụng hàng
hóa môi trường một cách miễn phí mà không phải trả tiền hoặc họ cảm thấy
họ không được sử dụng tài nguyên đó. Do vậy họ không đưa ra hoặc đưa ra ở
mức thấp hơn mức bằng lòng chi trả cho việc sử dụng tài nguyên môi trường
đó.
+ Bên cạnh đó, những câu hỏi thường được điều tra dựa trên tình huống
giả định, do vậy khả năng áp dụng còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức,
hành vi, thái độ, quan điểm, ứng xử về tài nguyên môi trường cần định giá
của người được phỏng vấn.
+ Người phỏng vấn cần có kinh nghiệm thì thông tin thu thập thì mới
đảm bảo được độ chính xác cao.
3.2.4. Phương pháp hồi quy
Phương pháp được sử dụng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến WTP
cho dịch vụ môi trường rừng của người dân như: tuổi, thu nhập, trình độ học
vấn, nghề nghiệp, giới tính, nhân khẩu gia đình,…có ảnh hưởng như thế nào
đến mức sẵn lòng chi trả của người dân địa phương. Ước lượng mức sẵn lòng
chi trả của người dân nhằm nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, đưa ra
các giải pháp để thu hút người dân tham gia chi trả dịch vụ môi trường rừng
để có chất lượng môi trường tốt hơn.
Mô hình được sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính bội có dạng:
WTP = bo + b1X1 + b2X2 + b3X3 + b4X4 + b5D1 + b6D2 + b7D3 + ui
Trong đó:
WTP: Mức sẵn lòng chi trả của người dân (nghìn đồng/hộ/năm)
19





nhiều hơn để có được điều đó so với những người thu nhập thấp hơn, những
người thường đắn đo hơn khi được yêu cầu chi trả thêm loại phí nào khác.
+ Trình độ học vấn: liên quan đến nhận thức của người dân, trình độ
càng cao họ càng thấy tác hại của việc suy giảm môi trường sống thế nào bởi
họ đã được bổ sung từ những năm đi học nên họ sẵn sàng chi trả để điều đó
không xảy ra.
+ Nhân khẩu: số nhân khẩu trong gia đình càng nhiều thì xu hướng chi
trả thêm cho sử dụng một thứ gì khác sẽ giảm đi.
+ Giới tính cũng ảnh hưởng đến WTP với giả định là có sự chi trả khác
nhau giữa nam và nữ. Nam giới thường rất hào phóng nên sẽ chi trả nhiều hơn
nữ giới, những người được coi như “thủ quỹ” của gia đình.
+ Nghề nghiệp: có sự khác nhau về mức WTP giữa các ngành nghề,
như cán bộ viên chức thường tiếp cận gần hơn với chủ trương, chính sách của
đảng-nhà nước nên ý thức họ nâng cao hơn các bộ phận khác nên họ sẽ sẵn
sàng chi trả cao hơn.
+ Dân tộc: có sự khác nhau giữa mức WTP của người dân tộc kinh so
với các dân tộc thiểu số khác.
Việc xem xét ảnh hưởng của các yếu tố tới WTP sẽ cho ta biết được
nhân tố nào ảnh hưởng nhiều nhất, nhân tố nào ảnh hưởng ít nhất, nhân tố nào
không ảnh hưởng. Từ đó có thể phân tích, đánh giá được thực trạng vấn đề
nghiên cứu và đưa ra các đề xuất trong việc thu hút người dân tham gia chi trả
dịch vụ môi trường rừng tại thành phố Tuyên Quang. Các hệ số của mô hình
được ước lượng bằng phần mềm Stata 11.0.

21


PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

theo hướng Bắc - Nam đã hình thành các khu dân cư dọc lưu vực sông, đồng
thời tạo nét đặc sắc về cảnh quan, môi trường sinh thái của thành phố.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu
Thành phố Tuyên Quang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có
đặc điểm của khí hậu vùng núi phía Bắc, một năm chia thành hai mùa rõ rệt;
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Mùa mưa tập trung nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9 và thường gây ngập
úng cho khu vực thành phố ở những nơi có cos dưới 26,5 m
Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,0oC. Lượng mưa trung bình năm là
1600 mm. Độ ẩm trung bình 84%. Hướng gió chính trên địa bàn thành phố là
hướng Tây Bắc - Đông Nam, tốc độ gió trung bình 1,4 m/s, tốc độ gió lớn
nhất 36 m/s, ít xảy ra bão lốc, lũ quét, mưa đá, sương mù.
4.1.1.4. Thủy văn
Chế độ thuỷ văn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông, ngòi, hồ nước có
trên địa bàn. Thành phố nằm ở hạ lưu sông Lô - Gâm và có 4 ngòi lớn là Ngòi
Cơi, Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục nên chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của
các sông, ngòi này.
Hiện nay, đã có nhiều công trình thuỷ điện được xây dựng và đưa vào
sử dụng ở thượng nguồn sông Lô, sông Gâm trong đó có nhà máy thuỷ điện
Tuyên Quang đã đi vào hoạt động chủ động điều tiết được lượng nước nên
những năm gần đây thành phố không còn bị lụt.
4.1.1.5. Địa chất
Cấu tạo địa chất công trình khu vực thành phố Tuyên Quang có điều
kiện thuận lợi cho xây dựng, ít phải gia cố nền móng khi xây dựng công
trình. Tuy nhiên, trên địa bàn phường Ỷ La và phường Hưng Thành đã có
hiện tượng sụt lún đất ở một số vị trí. Do vậy, trong thi công công trình phải
thực hiện đúng nguyên tắc khảo sát địa chất tránh sảy ra những thiệt hại
không đáng có.

23

100

11.921

100

100

100

100

Diện tích đất nông
nghiệp

8.107,47

68,01

8.072,90

67,72

8.056,21

67,58

99,57

99,79


334,98

2,81

309,95

2,6

92,43

92,53

92,48

Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường thành phố Tuyên Quang
24


4.1.1.6. Hiện trạng đất đai
Hiện trạng đất đai của thành phố Tuyên Quang được thể hiện trong
bảng 4.1. Diện tích đất nông nghiệp của thành phố có xu hướng giảm dần qua
3 năm. Từ năm 2010 đến 2012, diện tích đất nông nghiệp của thành phố giảm
0,32%/năm. Tuy giảm nhẹ nhưng đây vẫn là một tiến hiệu đáng mừng cho
từng bước chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất. Bởi từ khi lên thành phố vào năm
2010, thành phố Tuyên Quang đã được sát nhập thêm một số xã thuần nông
như: Lưỡng Vượng, Tràng Đà, Đội Cấn, An Tường... với diện tích rất lớn nên
cơ cấu đất đai thiên về đất nông nghiệp. Nhìn chung diện tích đất chưa sử
dụng rất ít và có xu hướng giảm qua các năm chúng tỏ thành phố biết tận
dụng triệt để những nguồn lực sẵn có tại địa phương. Dù theo xu hướng giảm


265.759

Tốc độ phát triển liên hoàn (%)

-

119,66

117,99

13,4

14,7

15,4

Giá trị sản xuất (triệu đồng)

Thu nhập bình quân
(triệu đồng/người/năm)

Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội thành phố Tuyên Quang
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status