tăng cường quản lý tài sản công tại bệnh viện đa khoa tỉnh bắc giang - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN ĐIỀU

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.34.04.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN HỮU NGOAN
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm
ơn tới thầy giáo PGS. TS. Nguyễn Hữu Ngoan - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Kế hoạch đầu tư; các
thầy cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn phòng Đào tạo Học viện Nông
nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Y tế Bắc Giang; Ban giám đốc
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang; cán bộ, nhân viên, Phòng Kế toán - Tài
chính; Phòng Vật tư – Trang thiết bị; Phòng tổ chức cán bộ; Cùng các Khoa,
phòng trong Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi
trong quá trình thu thập phân tích số liệu.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp và
bạn bè - những người đã luôn bên tôi, động viên, giúp đỡ tôi về vật chất cũng như
tinh thần trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Điều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv

MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii

3.1.3. Tổ chức bộ máy 40
3.1.4. Nguồn nhân lực 41
3.2. Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin 44
3.2.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 46
3.2.3. Phương pháp phân tích thông tin 46
3.2.4. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
47
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1. Thực trạng quản lý và sử dụng tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa
tỉnh Bắc Giang 48
4.1.1. Hiện trạng tài sản công của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 48
4.1.2. Tình hình quản lý trong đầu tư mua sắm tài sản. 55
4.1.3. Quản lý trong quá trình sử dụng tài sản y tế 78
4.1.4. Quản lý trong khâu khấu hao và thanh lý tài sản 91
4.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý trang tài sản tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Bắc Giang 94
4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại
Bệnh viện đa khoa Bắc Giang 98
4.2.1 Định hướng quản lý tài sản công 98
4.2.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài sản công 99
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
5.1. Kết luận 103
5.2. Kiến nghị 104
5.2.1. Đối với Bộ Y tế 104
5.2.2. Đối với Sở Y tế tỉnh Bắc Giang 104
5.2.3. Đối với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

VT-TTB Vật tư trang thiết bị

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

2.1 Tình hình đầu tư xây mới cơ sở hạ tầng trên toàn quốc năm 2013 33
3.1 Phân loại cán bộ, công chức của Bệnh viện (2012 – 2014) 42
3.2. Tình hình cán bộ viên chức của Bệnh viện qua các năm 44
3.3 Nội dung và phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 44
3.4. Tổng hợp số mẫu khảo sát 45
4.1 Tình hình sử dụng đất của Bệnh viện Đa Khoa Bắc Giang
giai đoạn 2012 - 2014 50
4.2 Chất lượng tài sản cố định là Nhà cửa, vật kiến trúc của
BVĐKTBG năm 2014 51
4.3 Tài sản là phương tiện vận tải của BVĐKTBG từ 2012 -2014 53
4.4 Tài sản là máy móc thiết bị của BVĐKTBG từ năm 2012 - 2014 54
4.5. Chủng loại tài sản được trang bị của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 56
4.6 Tình hình đầu tư tài sản công qua các năm 2012 - 2014 57
4.7 Quản lý hoạt động mua sắm tài sản công theo nguồn vốn tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 59
4.8. Kế hoạch mua sắm tài sản công hàng năm của bệnh viện Đa khoa
tỉnh Bắc Giang 62
4.9. Số lượng đầu tư mua sắm tài sản cho Bệnh viện Đa khoa Bắc
Giang theo dự án JIBIG năm 2015 64
4.10 Mức độ hài lòng của cán bộ bệnh viện về công tác lập kế hoạch
mua sắm tài sản trang thiết bị y tế 66

DANH MỤC SƠ ĐỒ

STT Tên sơ đồ Trang

2.1. Hệ thống quản lý 14
3.1. Tổ chức của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 40

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

STT Tên biểu đồ Trang4.1 Tài sản công Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 48
4.2 Cơ cấu TSCĐ không phải là đất theo giá trị kiểm kê năm 2012 49
4.3. Sự tham gia vào công tác lập kế hoạch mua sắm tài sản 61
4.4. Tổng nguồn vốn mua sắm tài sản phân theo nguồn vốn 69
4.5 Các thủ tục khi nhập tài sản công 71
4.6 Đánh giá về tỷ lệ đáp ứng theo kế hoạch mua tài sản 78
4.7 Thời gian sửa chữa các tài sản bị hỏng trong năm 2013 88
4.8. Đánh giá của người dân về tình hình tài sản, trang thiết bị của Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang 97

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

ít cơ quan nhà nước khác cho thuê trụ sở làm việc và quyền sử dụng đất được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

giao quản lý. Đây là biểu hiện rõ ràng nhất về bất cập, vướng mắc trong quản lý
tài sản công . Ngoài ra, công tác thống kê theo dõi, sử dụng, sắp xếp chưa được
tốt và thường xuyên, trong khi Ngân sách nhà nước có hạn đã đặt ra yêu cầu lựa
chọn tối ưu cho sử dụng tài sản công là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong hơn mười năm thực hiện
đổi mới vừa qua, ngành Y tế đã đầu tư nâng cấp tài sản công cho các cơ sở y tế.
Trong đó đặc biệt quan tâm đến các đơn vị y tế tuyến tỉnh và tuyến cơ sở gần
dân, nhằm đem lại hiệu quả tạo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, giảm tải
bệnh nhân cho tuyến trên, tạo niềm tin cho nhân dân. Các đơn vị y tế tuyến tỉnh
và các truyến dưới đã được cung cấp tài sản, công cụ, dụng cụ cần thiết để phục
vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại và thách thức lớn trong thực
tế hoạt động của ngành y tế về lĩnh vực quản lý và sử dụng tài sản công. Việt
Nam là một nước còn nghèo, nền kinh tế đang phát triển, nguồn ngân sách cho y
tế của nước ta còn hạn chế, trong nhiều năm qua tài sản công ở Việt Nam được
cung cấp từ nhiều nguồn viện trợ khác nhau nhưng không được đánh giá đúng
nhu cầu nên có tình trạng vừa thừa vừa thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các
nước trong khu vực. Tình trạng này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc chẩn đoán,
điều trị và theo dõi bệnh tật, từ đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng của công tác
chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Từ năm 1990 đến nay, tài sản công của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang
(BVĐKTBG) được cung cấp từ nhiều nguồn như: Ngân sách nhà nước, quỹ
BHYT, viện trợ UNFPA, viện trợ từ dự án ITALIA, viện trợ từ dự án Hà Lan,
viện trợ WHO, viện trợ ODA, dự án phòng chống HIV/AIDS, từ đề án Xã hội
hoá y tế.
Do đó, một phần tài sản công hiện tại của BVĐKTBG còn mang tính

1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra
- Thực trạng quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang
hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố khách quan và chủ quan nào ảnh hưởng đến quá trình quản
lý tài sản công ?
- Giải pháp nào nhằm tăng cường quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Bắc Giang?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn về tài sản công và quản lý tài
sản công tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang
- Đối tượng khảo sát trực tiếp của đề tài là công tác quản lý tài sản công tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Tài sản công bao gồm trụ sở làm việc,
phương tiện vận tải, máy móc, trang thiết bị và các phương tiện làm việc khác
- Điều tra khảo sát Ban lãnh đạo, các trưởng phó các khoa, phòng, các cán bộ
công nhân viên liên quan đến quản lý Tài sản công, các bệnh nhân và người nhà
bệnh nhân được sử dụng Tài sản công của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu các vấn đề về quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bắc Giang; Đánh giá thực trạng tình hình quản lý tài sản công; Những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với công tác quản lý tài sản công; Các
yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tài sản công; Đề xuất giải pháp tăng
cường quản lý tài sản công tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
1.3.2.2. Phạm vi không gian
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
1.3.2.3. Phạm vi thời gian

Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân”. Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy
định tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước như sau: "Tài sản thuộc hình thức
sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ
ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn
lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà
nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế,
văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài
sản khác do pháp luật quy định". Tiếp đó, tại các Điều 239, 240, 241, 246, 254 và
644 của Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005,
Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 17 Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính năm 2002, Điều 35 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 đã quy
định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước do pháp luật quy định bao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

gồm: Các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, vật chứng trong vụ án hình
sự bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; vật bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, vật
vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu, vật do người khác đánh rơi, bỏ
quên được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật, di
sản không người thừa kế hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối
nhận di sản, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu tặng Chính phủ
hoặc tổ chức Nhà nước Từ những căn cứ pháp luật hiện hành, chúng ta có thể
đưa ra khái niệm về tài sản công như sau:
Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà
nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp
luật như: đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng
đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời.
Tài sản công trong cơ quan hành chính sự nghiệp là những tài sản mà Nhà
nước giao cho cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, các đơn vị lực
lượng vũ trang (của Nhà nước), tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ

Nhà nước. Khi các tài sản này được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, thì giá trị
của các tài sản đều được ghi thu cho ngân sách nhà nước. Như vậy, suy cho cùng
các tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước, tài sản viện trợ không hoàn lại,
tài sản do dân đóng góp giao cho các cơ quan hành chính sử dụng vẫn có nguồn
gốc hình thành từ ngân sách nhà nước.
Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của từng cơ quan. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, tài sản
công chỉ đơn thuần là điều kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước
thực hiện chức năng quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tài sản công
của các cơ quan này lớn nhất là trụ sở làm việc (công đường), các phương tiện
giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác, các trang thiết bị, máy móc và phương
tiện làm việc. Số lượng tài sản công cần phải có tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ
máy và biên chế cán bộ, công chức, viên chức của mỗi cơ quan, đơn vị.
Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu hồi
được trong quá trình sử dụng tài sản công. Thực tế các nước trên thế giới cho
thấy khoảng 80% chi NSNN là chi chuyển giao và có rất ít khoản chi là chi thanh
toán, được hoàn trả trực tiếp. Khác với doanh nghiệp kinh doanh, tài sản công
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

trong cơ quan chủ yếu là những tài sản trong lĩnh vực tiêu dùng của cải vật chất,
không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh; trong quá trình sử dụng không tạo ra
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường; do đó, không chuyển giá trị bị
hao mòn vào giá thành của sản phẩm hoặc chi phí lưu thông. Vì thế, trong quá
trình sử dụng, tuy tài sản bị hao mòn nhưng không trích khấu hao được (đối với
tài sản cố định), vì giá trị của nó không được chuyển dần sang giá trị của sản
phẩm vật chất, dịch vụ để hình thành bộ phận giá trị mới cần phải thu hồi. Do
không thực hiện trích khấu hao tài sản cố định, nên nguồn vốn đầu tư xây dựng,
mua sắm tài sản không thu hồi được trong quá trình sử dụng và không có nghĩa
vụ tài chính với ngân sách nhà nước trong việc sử dụng. Mức độ hao mòn của tài

ngày. Giá trị hao mòn hàng năm thời gian sử dụng ngắn hơn nhóm tài sản cố định
là trụ sở làm việc. Ở mỗi quốc gia khác nhau có cách quản lý tài sản này khác
nhau do quan niệm về giá trị tài sản và quy mô kinh tế.
+ Máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc và các tài sản khác. Đây
là nhóm tài sản có hao mòn trong năm. Nhóm này rất đa dạng tuỳ thuộc vào từng
cơ quan hành chính. Việc quản lý được thực hiện thông qua ghi sổ theo dõi hay
phiếu tài sản đơn giản.
- Trong thực tiễn để quản lý tài sản người ta đồng thời áp dụng cả hai cách
phân loại trên đây, cụ thể như sau:
+ Tài sản cố định, bao gồm: Trụ sở làm việc (bất động sản); phương tiện
vận tải; máy móc, trang thiết bị; phương tiện làm việc và các tài sản khác. Với
cách phân loại này có những nét tương đồng trong quản lý tài sản của doanh
nghiệp.
+ Tài sản khác (không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định). Đó là tài sản có
giá trị nhỏ chưa đạt tiêu chí chung để xếp làm tài sản cố định (Bộ Tài Chính,
2008).
2.1.1.4. Danh mục tài sản công thiết yếu cho Bệnh viện Đa khoa tuyến tỉnh
Để tăng cường hoạt động quản lý Nhà nước về lĩnh vực tài sản theo
Quyết định 32/2008/QĐ – BTC ngày 29/5/2008 phân theo danh mục như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10 I. ĐẤT KHUÔN VIÊN TRỤ SỞ
II. NHÀ CỬA, VẬT KIẾN TRÚC
2.1 Nhà làm việc
2.2 Nhà trẻ, nhà mẫu giáo - cấp 4
2.3 Bệnh viện, trạm xá - Nhà cấp 3
2.4 Nhà phòng khám
2.5 Nhà khác


2.1.2. Các chính sách quốc gia về tài sản công
Chính phủ (1998), Nghị định 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 của Chính
phủ về quản lý TSNN đây là cơ sở pháp lý thực hiện thống nhất quản lý TSNN
nói chung trong đó có trụ sở làm việc của cơ quan hành chính.
Trong quá trình thực thi liên quan đến quản lý TSNN là trụ sở cơ quan
hành chính và cụ thể những quy định của Nghị định này, một loạt các văn bản
liên quan đựơc ban hành kèm theo:
Chính phủ (1999), Quyết định 147/1999/QĐ-TTg ngày 5/7/1999 của Thủ
tướng quy định tiêu chuẩn định mức, sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp;
Chính phủ (2006), Quyết định 260/2006/QĐ-TTG sửa đổi bổ sung Quyết
định 147/1999/QĐ-TTg;
Bộ Tài chính (2004), Quyết định 32/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài chính
ngày 6/4/2004 về Tiêu chuẩn định mức sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan nhà
nước tại xã, phường, thị trấn;
Chính phủ (1999), Chỉ thị 02/1999/CT-TTg ngày 16/1/1999 Thủ tướng
Chính phủ nhằm tăng cường quản lý TSNN sau tổng kiểm kê;
Bộ Tài chính (1999), Quyết định 20/1999/QĐ-BTC của Bộ Tài chính
ngày 25/2/1999 về quản lý trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp;
Bộ Tài chính (2004), Thông tư 83/2004/TT-BTC ngày 17/8/2004 Bộ Tài
chính hướng dẫn nội dung quản lý trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp.
Đến năm 2006 một loạt các văn bản pháp quy mới và bổ sung được ban
hành trong quản lý TSNN trước khi Luật quản lý và sử dụng TSNN được thông qua.
Chính phủ (2006), Nghị định 13/2006/NĐ-CP ngày 24/1/2006 của Chính
phủ về xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của các tổ
chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất;
Bộ Tài chính (2006), Thông tư 29/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày
4/4/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định 13/2006/NĐ-CP;

sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lí cũng có nhiều
giải thích, lý giải khác nhau. Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về
quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan điểm về quản lý rngày càng phong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra một số khái niệm chủ yếu:
Theo Fayei: “ Quản lý là hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doang
nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo, điều chỉnh, và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ
đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
Theo Hard Koont: “Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt
giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định” (Giáo trình khoa
học quản lý, 2005)
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường. Chủ
thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản
lý đi đến mục tiêu. Chủ thể có thể là một người, một bộ máy quản lý gồm nhiều
người, một thiết bị. Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản
lý. Như vậy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các
tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường.
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Về cơ bản, mọi người đều cho rằng quản lý chính là các hoạt động do một hoặc
nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả
như mong muốn.
Tổ chức quản lý: Là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra
các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với

Sơ đồ 2.1. Hệ thống quản lý
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định
nghĩa thống nhất. Có người cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn
thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho rằng
quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân
nhằm đạt được mục đích của nhóm. Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản
hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó, v v. Tóm lại, có thể hiểu
quản lý là sự tác động chủ quan có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.
Chủ thể
qu
ản lý
Mục
tiêu
xác
định
Cơ chế quản lý:
- Nguyên tắc
- Phương pháp
- Công cụ

Đối
tượng
quản

Phải thường xuyên kiểm tra, đối chiếu, kiểm kê để xác định tình hình tài
sản và phát hiện những sai sót trong quản lý, bảo quản tài sản của cơ sơ y tế:
+ Mục đích của kiểm kê:
- Đảm bảo việc quản lý tài sản công được chính xác.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16

- Đảm bảo quyết toán có căn cứ.
+ Nguyên tắc kiểm kê:
- Khi kiểm kê phải cân, đong, đếm bằng những dụng cụ hợp pháp.
- Khi kiểm kê phải xét, đánh giá tình hình tài sản công .
- Phải đối chiếu giữa sổ sách với thực tế kiểm kê để xác định đúng mức
tồn kho hoặc thừa, thiếu.
- Phải giải quyết dứt điểm khi có tình trạng thừa, thiếu.
* Tất cả các cán bộ trong bệnh viện đều phải có trách nhiệm gìn giữ và
bảo vệ tài sản công .
Bảo vệ tài sản công được coi là nghĩa vụ, là quyền lợi thiết thân của mỗi
cán bộ công nhân viên trong đơn vị. Những người được trực tiếp phân công quản
lý, sử dụng, bảo quản, vận chuyển thì phải luôn chú ý tính toán sử dụng cho thật
hợp lý, hết công suất bảo đảm cho tài sản được an toàn về số lượng và chất lượng
Dựa trên những nguyên tắc cơ bản trên bệnh viện phải thực hiện công tác
quản lý tài sản công theo những quy định sau:
+ Hàng năm dưới sự hướng dẫn của Vụ trang thiết bị và công trình y tế,
Bộ y tế, Sở y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh cần chủ động kiểm tra lại tài sản công
và lập kế hoạch dự trù mua sắm theo thứ tự ưu tiên.
+ Bệnh viện phải phân công cán bộ có trách nhiệm theo dõi, quản lý tài
sản công của từng khoa, phòng chịu trách nhiệm về thống kê, kiểm kê, báo cáo
tình hình tài sản công hàng năm.
+ Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện việc đào tạo, nâng cao trình độ
chuyên môn cho đội ngũ quản lý nhằm nắm vững quy trình vận hành, sử dụng tài sản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status