1
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết
quả
nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của
đơn
vị thực
tập.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Hiển
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
1
2
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
2
3
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BEP Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
CTCP Công ty cổ phần
ĐBTC Đòn bẩy tài chính
GTCL Giá trị còn lại
HTK Hàng tồn kho
LNST Lợi nhuận sau thuế
LNTT Lợi nhuận trước thuế
NVDH Nguồn vốn dài hạn
NVLĐTX Nguồn vốn lưu động thường xuyên
phần kinh doanh thiết bị công nghiệp.
Bảng 2.9. Cơ cấu và sự biến động khoản mục tài sản ngắn hạn khác.
Bảng 2.10. Bảng cơ cấu và sự biến động khoản mục hàng tồn kho của
công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp.
Bảng 2.12. Cơ cấu và sự biến động các khoản phải thu.
Bảng 2.11. Hiệu suất sử dụng vốn tồn kho của công ty.
Bảng 2.13. Hiệu suất các khoản phải thu của công ty Cổ phần kinh doanh
thiết bị công nghiệp.
Bảng 2.14. Cơ cấu và sự biến động vốn bằng tiền của công ty
Bảng 2.15. Các hệ số khả năng thanh toán của công ty.
Bảng 2.16. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
4
5
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Bảng 2.17: Bảng cơ cấu và biến động tài sản cố định của công ty cổ phần kinh
doanh thiết bị công nghiệp
Bảng 2.18. Tình hình khấu hao TSCĐ của công ty cổ phần kinh doanh thiết bị
công nghiệp.
Bảng 2.19. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Bảng 2.20. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
5
6
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay, nhất là khi Việt Nam
đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực cũng như thế giới, các
doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội, nhưng bên cạnh đó
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích thống kê, phương
pháp đối chiếu so sánh, phương pháp diễn giải để xem xét và đánh giá các vấn
đề đặt ra trong đề tài nguồn vốn kinh doanh.
5. Kết cấu luận văn:
Kết cấu luân văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần kinh
doanh thiết bị công nghiệp.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh
của Công ty cổ phần kinh doanh thiết bị công nghiệp.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, em đã nhận được sự chỉ dẫn tận
tình của thầy giáo Nguyễn Đăng Nam và các cán bộ nhân viên của Công ty,
cùng với sự nỗ lực của bản thân, nhưng do thời gian thực tập có hạn và khả
năng thực tế của em còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót. Vì vậy, em mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các cán bộ
công ty để báo cáo của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, tháng 4 năm
2015.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Văn Hiển.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
8
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
tiền bộ khoa học công nghệ nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm khác
nhau là khác nhau, vì vậy, việc lựa chọn thời điểm để huy động và sử dụng
vốn kịp thời là một điều hết sức quan trọng.
Bốn là, vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng trong quá trình SXKD.
Đặc trưng này đòi hỏi doanh nghiệp cần lập kế hoạch để huy động một
lượng vốn cần thiết, và trong quá trình kinh doanh, thu được lợi nhuân, thì
cần phải tái đầu tư để mở rộng quy mô SXKD, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năm là, vốn có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.
Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn là
biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình.Đặc trưng này giúp doanh
nghiệp có sự nhìn nhận toàn diện về các loại vốn, từ đó đề xuất các biện pháp
phát huy hiệu quả tổng hợp VKD.
Sáu là, phải gắn với chủ sở hữu.
Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế tri thức nên
không thể có đồng vốn vô chủ.Vốn phải được gắn với chủ sở hữu thì mới chi
tiêu hợp lý và có hiệu quả.Tùy từng hình thức đầu tư mà người chủ sở hữu
vốn có thể đồng nhất hoặc tách rời với người sử dụng vốn.
Bảy là, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt.
Vốn cũng là một loại hàng hóa, cũng được trao đổi và buôn bán trên thị
trường.Tuy nhiên, người ta chỉ mua được quyền sở dụng vốn mà không thể
mua được quyền sở hữu vốn. Người mua (người vay vốn) phải trả cho người
bán (người cho vay) một lượng tiền lãi, và được tính theo một tỉ lệ lãi suất
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
10
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
nhất định, đó chính là giá của quyền sử dụng vốn. Đặc trưng này giúp cho
doanh nghiệp có được quyết định đúng đắn trong việc huy động vốn để có
được hiệu quả cao nhất với chi phí huy động vốn là thấp nhất.
1.1.1.3. Thành phần vốn kinh doanh, phân loại vốn kinh doanh
- Trong quá trình thực hiện một vòng SXKD, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị của
mình vào sản phẩm mới.
- Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ SXKD, luôn thay đổi hình thái biểu
hiện, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật
tư, hàng hóa và kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm, VLĐ lại trở về hình thái
vốn ban đầu là vốn tiền tệ. Sự vận động của VLĐ từ hình thái ban đầu qua các
hình thái khác đến khi trở về hình thái vốn ban đầu được gọi là sự tuần hoàn
của VLĐ. Do quá trình SXKD của DN diễn ra thường xuyên, liên tục nên sự
tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính chu kỳ.
- VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi DN tiêu thụ sản phẩm và thu được
tiền bán hàng.
Từ những đặc điểm trên của VLĐ, các nhà quản lý cần xác định nhu
cầu VLĐ cần thiết, huy động nguồn tài trợ và sử dụng VLĐ phải phù hợp sát
với tình hình SXKD. Và để thực hiện điều này, dựa theo các tiêu thức khác
nhau có thể chia VLĐ thành các loại khác nhau:
Dựa theo hình thái biểu hiện của vốn
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu
- Vốn về hàng tồn kho
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp đánh giá được mức độ dự
trữ tồn kho, khả năng thanh toán,tính thanh khoản của các tài sản đầu tư trong
doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
12
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
Dựa theo vai trò VLĐ đối với quá trình SXKD:
- Vốn lưu động trong khâu giữ trự sản xuất (Nguyên liệu, vật liệu, vốn bằng
tiền,…)
- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất ( Sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, chi phí trả trước,…)
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông ( gồm vốn thành phẩm, vốn trong thanh
phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho
người bán, cho Nhà Nước, cho người lao động trong doanh nghiệp.
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, thông thường một
doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ sở hữu và Nợ phải
trả. Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà
doanh nghiệp hoạt động, tùy thuộc vào quyết định của người quản lý trên cơ
sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp.
1.1.2.2. Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp ra làm
hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
14
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
- Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm
thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm
thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các
khoản nợ ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này
thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận
tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác
định bằng công thức:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn.
Hoặc
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị TTS – Nợ ngắn hạn.
1.1.2.3. Dựa vào phạm vi huy động vốn
- Nguồn vốn bên trong DN: Là nguồn vốn có thể huy động được từ bản than
cường khả năng cạnh tranh của DN.
1.2.2. Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1. Tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
Khái niệm: Tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh là việc thực hiện
huy động và sử dụng các nguồn vốn để đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn ngắn hạn
và nguồn vốn dài hạn ( nguồn vốn tạm thời và nguồn vốn thường xuyên).
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
16
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
- Nguồn vốn tạm thời:Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời
phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời
thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản
nợ ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này
thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận
tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Các mô hình tài trợ nhu cầu vốn
- Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm
bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng
nguồn vốn tạm thời. Ưu điểm của mô hình này là giúp cho doanh nghiệp hạn
chế được rủi ro thanh toán, mức độ an toàn cao hơn. Tuy nhiên gặp phải hạn
chế là chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn.
- Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần
của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn thường xuyên, và một phần
TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời. Ưu điểm của
vốn đầu tư ngắn hạn, vốn bằng tiền. Ảnh hưởng đến loại vốn này là các
phương thức thanh toán; việc chấp hành hợp đồng thanh toán; trình độ quản
lý nợ phải thu của doanh nghiệp.
Tùy từng giai đoạn sản xuất mà doanh nghiệp có thể phân bổ các loại
nguồn vốn khác nhau.
1.2.2.3. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1. Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường
xuyên, liên tục. Trong quá trình đó luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một
lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng các yêu cầu mua sắm vật tư dữ trự,
bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
19
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành bình thường, liên tục.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần
thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên
tục.Dưới mức này sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn,
thậm chí đình trễ, gián đoạn.Nhưng nếu trên mức này thì lại gây nên ứ đọng,
sử dụng vốn lãng phí, kèm hiệu quả.Vì vậy, trong quản trị VLĐ cầm chú
trọng xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, phù
hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của DN.
Nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức:
Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà
cung cấp.
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như:
Qui mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm, tính chất ngành nghề; sự biến
động giá cả; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của DN… Việc xác định
động nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu
cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch.
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo
cáo: Thực chất phươnp pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo
cáo và điều chỉnh nhu cầu theo qui mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển
VLĐ năm kế hoạch.
- Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn
năm kế hoạch: Theo phương pháp này, nhu cầu VLĐ được xác định căn cứ
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
21
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
vào tổng mức luân chuyển VLĐ và tốc độ luân chuyển VLĐ dự tính của năm
kế hoạch.
- Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu: Nội dung của phương
pháp này là dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu tố cấu
thành VLĐ của DN năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ theo doanh thu
năm kế hoạch.
2. Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động
Khái niệm: Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động là việc huy động và sửdụng
các nguồn vốn lưu động để đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp.
Nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn lưu động ngắn
hạn và nguồn vốn lưu động dài hạn (Nguồn vốn lưu động tạm thời và nguồn
vốn lưu động thường xuyên).
- Nguồn vốn lưu động tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn
(dưới một năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính
chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn lưu động tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ
chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
- Nhân tố dữ trự sản xuất : Phụ thuộc vào qui mô tổ chức của doanh nghiệp;
khoảng cách giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp vật tư; điều kiện giao thông
vận tải; khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường; các hợp đồng được ký kết
giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp.
- Nhân tố về mặt sản xuất bao gồm độ dài chu kỳ sản xuất; đặc điểm quy trình
công nghệ đơn giản hay phức tạp; đặc điểm quy trình sản xuất theo loại hình
sản xuất hay phương pháp tổ chức sản xuất nào (sx theo dây chuyền. hay sx
đơn chiếc….)
- Nhân tố lưu thông : phụ thuộc vào hợp đồng tiêu thụ và phương thức thanh
toán; tình hình quản lý các khoản phải thu và khả năng chấp hành kỷ luật
thanh toán của khách hàng. Ngoài ra còn chính sách thanh toán, chiết khấu,
giảm giá của DN.
4. Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền là một bộ phận cấp thành tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp. Vốn bằng tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất và quyết định khả
năng thanh toán của doanh nghiệp.Tuy nhiên vốn bằng tiền bản thân nó
không tự sinh lời, nó chỉ sinh lời khi được đầu tư sử dụng vào mục đích nhất
định.Hơn nữa, với đặc điểm là tài sản có tính thanh khoản cao nên vốn bằng
tiền cũng dễ bị thất thoát, gian lận, lợi dụng.
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là phải đảm
bảo sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng
phải đáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp, nhu cầu lưu giữ vốn bằng tiền thường có 3 lý
do chính:
- Thứ nhất, nhằm đáp ứng các yêu cầu giao dịch, thanh toán hàng ngày như trả
tiền mua hàng, trả tiền lương, tiền công, thanh toán cổ tức, nộp thuế…
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17
24
Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính
6. Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà DN dữ trự để đưa vào sản xuất hoặc
sử dụng vào mục đích kinh doanh. Căn cứ vào vai trò của chúng, tồn kho dự
trữ của doanh nghiệp được chia thành ba loại: Tồn kho nguyên vật liệu, tồn
kho sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, tồn kho thành phẩm. Mỗi loại tồn
kho dự trữ trên có vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, tạo điều kiện
cho quá trình sản xuất kinh doanh của DN được tiến hành liên tục và ổn định.
Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng trước một lượng
tiền nhất định, gọi là vốn tồn kho dữ trự. Việc quản lý vốn tồn kho dữ trự là
rất quan trọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số
VLĐ của DN mà quan trọng hơn là giúp DN tránh được tình trạng vật tư hàng
hóa ứ đọng, chậm lưu chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển VLĐ.
1.2.2.4. Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản lý vốn kinh
doanh của các doanh nghiệp. Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thường
chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý
nghĩa quyết định tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử
dụng vốn cố định thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn
chậm và dễ gặp rủi ro.
Quản trị vốn cố định có thể khái quát thành năm nội dung cơ bản là: lựa
chọn quyết định đầu tư TSCĐ; lựa chọn phương pháp khấu hao; quản lý và sử
dụng quỹ khấu hao; xây dựng quy chế quản lý và sử dụng TSCĐ; kế hoạch
sửa chữa lớn, thanh lý, nhượng bán.
SV: Nguyễn Văn Hiển Lớp: CQ49/11.17