giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động của tỉnh bắc giang - Pdf 30



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
 LƯƠNG VĂN HUẤN GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC GIANG CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 60 34 04 10

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Dương Nga



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài làm luận văn
tốt nghiệp cao học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát
triển nông thôn, Bộ môn Phân tích định lượng đã truyền đạt cho tôi những kiến
thức cơ bản và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sâu sắc cô giáo hướng dẫn - TS. Nguyễn Thị
Dương Nga - Trưởng bộ môn Phân tích định lượng về sự hướng dẫn nhiệt tình và
những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bắc Giang, lãnh
đạo các doanh nghiệp có chức năng XKLĐ hoạt động trên địa bàn tỉnh, lãnh đạo
các địa phương và người lao động đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, đồng nghiệp nơi cơ

Danh mục bảng vii
Danh mục hình, đồ thị viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm chung 4
2.1.2 Quy trình xuất khẩu lao động ở Việt Nam 7
2.1.3 Các hình thức XKLĐ 9
2.1.4 Vai trò của xuất khẩu lao động 10
2.1.5 Một số giải pháp đẩy mạnh XKLĐ 12
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến XKLĐ 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam 15
2.2.2 Các chương trình XKLĐ của Việt Nam 21
2.2.3 Kinh nghiệm XKLĐ một số nước trên thế giới 23
2.2.4 Kinh nghiệm XKLĐ một số địa phương ở Việt Nam 24
2.2.5 Chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước về XKLĐ 26
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh 30
3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

4.4 Định hướng và giải pháp đẩy mạnh XKLĐ đến năm 2020 89
4.4.1 Định hướng XKLĐ của tỉnh Bắc Giang 89
4.4.2 Giải pháp đẩy mạnh XKLĐ của tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 90
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
5.1 Kết luận 107
5.2 Kiến nghị 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 112

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CSHT Cơ sở hạ tầng
CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CƯLĐ Cung ứng lao động
HĐND Hội đồng nhân dân
ILO Lao động Quốc tế
IOM Tổ chức Di dân quốc tế
KTXH Kinh tế xã hội
LĐ-TB&XH Lao động thương binh và Xã hội
LLLĐ Lực lượng lao động
MTTQ Mặt trận tổ quốc
NLĐ Người lao động
UBND Ủy ban nhân dân
XĐGN Xóa đói giảm nghèo
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XKLĐ Xuất khẩu lao động



4.5 Tỷ lệ lao động có nghề trong tổng số lao động xuất cảnh giai đoạn 2012-2014
47

4.6 Số lao động của tỉnh xuất khẩu theo loại hợp đồng giai đoạn 2012 - 2014 48

4.7 Cơ cấu XKLĐ theo độ tuổi của lao động tỉnh giai đoạn 2012-2014 48

4.8 Nước làm việc của lao động tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2012 - 2014 50

4.9 Ngành nghề làm việc của lao động xuất khẩu tỉnh Bắc Giang tại nước ngoài,
giai đoạn 2012 - 2014 50

4.10 Độ tuổi và giới tính của người tham gia XKLĐ 52

4.11 Tình trạng hôn nhân của người tham gia XKLĐ 54

4.12 Nơi cư trú và mức thu nhập bình quân của lao động đi XKLĐ đã về nước . 54

4.13 Mức chi phí của người đi XKLĐ đã về nước 56

4.14 Một số thị trường XKLĐ Việt Nam trong thời gian qua 58

4.15 Mức độ cạnh tranh giữa các nước XKLĐ 59

4.16 Xu hướng cung – cầu lao động tại một số thị trường XKLĐ 61

4.17 Nhu cầu đi XKLĐ của người lao động 65

4.18 Số doanh nghiệp vi phạm về XKLĐ năm 2014 68

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước đang phát triển, có dân số 90 triệu người, đứng thứ 13
trên thế giới và thứ 7 tại Châu Á, hàng năm với mức tăng dân số trung bình
khoảng một triệu người, là nước có nhiều lợi thế về sức lao động. Sau hơn 20
năm đổi mới, mở cửa, hội nhập và phát triển theo kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa (XHCN), nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to
lớn trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, do tình trạng gia tăng nhanh về dân số và lao
động, dẫn đến nhu cầu việc làm luôn là vấn đề gay gắt, bức xúc đối với Đảng,
Nhà nước và toàn xã hội. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng
toàn cầu hóa, Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy lợi thế về nguồn nhân lực,

thân khoảng 1.400 tỷ đồng (Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bắc Giang, 2014
a
). Sau thời
gian đi XKLĐ trở về nước hầu hết họ đều có tích lũy khá, cải thiện tình trạng
kinh tế gia đình, góp phần XĐGN, nhiều người trở nên giàu có. XKLĐ cũng tạo
ra nguồn thu đáng kể cho địa phương. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải kể đến
những mặt bất cập trong vấn đề quản lý về XKLĐ trên địa bàn tỉnh hiện nay như:
Một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XKLĐ về tuyển lao động trên địa
bàn tỉnh còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún, thực hiện chưa nghiêm quy định của
pháp luật về tổ chức, quản lý quá trình đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Đa số
NLĐ khi đi xuất khẩu đều là lao động phổ thông, trình độ chuyên môn tay nghề
còn hạn chế; một bộ phận lao động chưa chú tâm tìm hiểu kỹ pháp luật, thông tin
về thị trường lao động, trong quá trình lao động ý thức kỷ luật kém, chưa chấp
hành đầy đủ quy định pháp luật, thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán của nước
sở tại… Tình trạng lao động đã hết thời hạn hợp đồng nhưng không về nước mà
ở lại cư trú bất hợp pháp; lao động bỏ trốn, phá hợp đồng ra ngoài làm việc vẫn
diễn ra ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của NLĐ cũng như đất nước, con người
Việt Nam ở nước ngoài nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng.
Vậy tình hình XKLĐ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong những năm qua
diễn ra như thế nào? XKLĐ hiện nay đang gặp những vấn đề khó khăn gì? Giải
pháp được đưa ra để khắc phục những khó khăn đó như thế nào? Để góp phần
nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn cũng như đề xuất giải pháp cần thực hiện
triệt để ở cấp địa phương nhằm đẩy mạnh XKLĐ của tỉnh Bắc Giang trong bối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới và
thực hiện CNH-HĐH đất nước, đề tài: “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động
của tỉnh Bắc Giang” được tác giả lựa chọn làm luận văn thạc sĩ của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm chung
* Lao động: Theo Từ điển Tiếng việt, lao động là hoạt động có mục đích
của con người, nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội (Viện
Ngôn ngữ học, 2006).
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người (Nguyễn Văn
Hảo và cs., 2008).
Như vậy, lao động chính là hoạt động có mục đích, có ý thức của con
người nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên, biến đổi tự nhiên để phù hợp với
mục đích nhất định của con người. Lao động là sự vận động của sức lao động, là
quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất nhằm tạo ra của cải vật
chất cho xã hội, lao động là yếu tố chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh
(Bùi Sỹ Tuấn, 2012).
* Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử
dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường
lao động. Trong nền kinh tế thị trường, NLĐ muốn tìm việc phải thông qua thị
trường lao động. Về mặt thuật ngữ, “Thị trường lao động” thực chất phải được
hiểu là “Thị trường sức lao động” để phù hợp với khái niệm của tổ chức lao động
quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ
các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê
mướn sức lao động. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa
một bên là NLĐ và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó, cung - cầu về lao
động ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh
hưởng tới cung - cầu lao động (Phạm Diễm Ngọc, 2012).
* Di cư lao động là Sự di chuyển người từ quốc gia này sang quốc gia
khác, hoặc trong phạm vi quốc gia cư trú của họ, với mục đích làm việc. Phần
lớn các quốc gia đều quy định vấn đề di cư lao động trong luật di cư. Việc người
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động
của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

XKLĐ là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ CƯLĐ cho nước ngoài, mà
đối tượng của nó là con người (Đặng Đình Đào, 2005).
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì “XKLĐ là hoạt động kinh
tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên
cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự
thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động”.
Xét theo hướng tiếp cận của nội dung nghiên cứu, khái niệm XKLĐ có thể
được khái quát như sau: XKLĐ là hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài. XKLĐ có tổ chức, hợp pháp thông qua các tổ chức kinh
tế, các doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động XKLĐ.
* Doanh nghiệp: Là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các nhiệm vụ kinh doanh (Quốc hội, 2005). Cũng theo Luật doanh nghiệp
thì tất cả các loại hình doanh nghiệp đều được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt
động theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp
danh hoặc doanh nghiệp tư nhân. Như vậy theo Luật doanh nghiệp thì mọi doanh
nghiệp ở mọi thành phần kinh tế đều hoạt động theo luật doanh nghiệp.
Doanh nghiệp XKLĐ: là doanh nghiệp được Nhà nước cấp phép hoạt
động XKLĐ, doanh nghiệp XKLĐ thực chất là doanh nghiệp hoạt động kinh tế
dưới hình thức thực hiện dịch vụ cung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo
hợp đồng có thời hạn, đáp ứng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp nước ngoài
(Hoàng Văn Tú, 2008). Hoạt động trong quá trình tổ chức thực hiện gồm: Tìm
kiếm thị trường, ký kết và thẩm định hợp đồng cung ứng lao động; tuyển chọn
lao động; tổ chức đào tạo - giáo dục định hướng; tổ chức quản lý lao động xuất
khẩu trong thời gian làm việc ở nước ngoài; thanh lý hợp đồng (Quốc hội, 2006)

Bồi dưỡng kiến thức cần thiết, hoặc liên kết với cơ sở dạy nghề, cơ sở đào
tạo để dạy nghề, bổ túc tay nghề, ngoại ngữ cho NLĐ trước khi đi làm việc ở
nước ngoài phù hợp với yêu cầu của từng thị trường lao động;
Tổ chức quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động do
doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài;
Phối hợp với bên nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh khi NLĐ
chết, bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, bị bệnh nghề nghiệp, bị xâm hại tính
mạng, sức khỏe, danh dự… và giải quyết tranh chấp liên quan đến NLĐ;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

Bồi thường cho người lao động, người bảo lãnh về những thiệt hại do
doanh nghiệp gây ra theo quy định của pháp luật; thanh lý hợp đồng đưa NLĐ đi
làm việc ở nước ngoài với người lao động theo quy định của pháp luật.
* Đối với cơ quan quản lí Nhà nước (Chính phủ, 2007):
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội:
Đàm phán, ký kết các Hiệp định Chính phủ về hợp tác sử dụng lao động
với nước ngoài theo uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ;
Trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định
về XKLĐ; cấp giấy phép XKLĐ; tiến hành thanh, kiểm tra hoạt động XKLĐ; xử
lý vi phạm, đình chỉ và thu hồi giấy phép.
Cục Quản lý lao động với nước ngoài:
Giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý thống nhất việc đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Đăng ký hợp đồng cho doanh nghiệp XKLĐ; quản lý chỉ đạo hoạt động
XKLĐ của các doanh nghiệp XKLĐ; quản lý nội dung, chứng chỉ đào tạo - giáo
dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Cơ quan quản lý Nhà nước khác:
Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quản lý nhà nước đối với lao
động Việt Nam ở nước sở tại, bảo hộ lãnh sự và tư pháp đối với NLĐ.

Thông qua doanh nghiệp XKLĐ:
Doanh nghiệp làm dịch vụ cung ứng lao động;
Doanh nghiệp nhận thầu, khoán xây dựng công trình, liên doanh, liên kết
chia sản phẩm ở nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.
Trực tiếp ký hợp đồng cá nhân với chủ sử dụng lao động nước ngoài:
Đăng ký hợp đồng lao động cá nhân ký với đối tác nước ngoài tại Sở LĐ-
TB&XH nơi thường trú.
2.1.3 Các hình thức XKLĐ
Theo Điều 6, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (Quốc hội,
2006) có 4 hình thức như sau:
(1) Hợp đồng đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp hoạt
động dịch vụ đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, tổ chức sự nghiệp được phép
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Hợp đồng đi làm việc
tại nước ngoài
Doanh nghiệp
XKLĐ Vi
ệt Nam

Bên nước ngoài
tiếp nhận lao động
Người lao động
Hợp đồng cung ứng
và tiếp nhận lao động
Hợp đồng lao động
Cơ quan quản lý nhà nước
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

(2) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh


Mở rộng quan hệ hợp tác: hoạt động XKLĐ cũng giúp quan hệ giữa nước
cung ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn
tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước.
* Đối với các doanh nghiệp XKLĐ: đảm bảo các hoạt động XKLĐ được
thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước. Hiện nay, có nhiều doanh nghiệp vi
phạm các quy định của Nhà nước, một trong những lý do đó là hoạt động XKLĐ
chưa được các doanh nghiệp đầu tư bài bản. Nội dung đào tạo - giáo dục định
hướng, quản lý lao động ở nước ngoài,… không làm rõ các quy định của luật,
tiêu chuẩn tuyển chọn lao động thiếu rõ ràng dẫn đến cán bộ vi phạm quy định.
Công tác thanh kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ cũng là nguyên nhân vi phạm kỷ
luật của cán bộ doanh nghiệp và NLĐ xuất khẩu (Đoàn Thị Yến, 2014).
Nâng cao uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp trong hoạt động XKLĐ,
giúp doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, giảm các tình trạng phá vỡ hợp đồng, bỏ
trốn, vi phạm kỷ luật cũng như đảm bảo công việc, thu nhập.
Doanh nghiệp tuyển được đúng đối tượng đi XKLĐ theo mục tiêu quản
lý; tiết kiệm được thời gian, chi phí; giảm tình trạng về nước trước thời hạn của
NLĐ; đồng thời giúp doanh nghiệp làm tốt công tác đào tạo - giáo dục định
hướng, NLĐ ra làm việc ở nước ngoài sẽ đáp ứng tốt hơn về chuyên môn, ngoại
ngữ, ý thức kỷ luật, cũng như nắm bắt được tốt hơn về phong tục tập quán, có
những ứng biến tốt hơn về sức khỏe khi họ biết được khí hậu, thời tiết của nước
nhập khẩu…; tăng doanh thu từ hoạt động XKLĐ; mở rộng quan hệ quốc tế, tăng
đối tác kinh doanh; giúp NLĐ tránh được các rủi ro…
* Đối với NLĐ: phần lớn lao động trực tiếp đi làm việc ở nước ngoài hiện
nay là từ khu vực nông thôn và từ các địa bàn huyện/xã nghèo. Vai trò của
XKLĐ đóng góp cho XĐGN đã được công nhận ở nhiều nơi trong cả nước. Có
thể thông qua các tiêu chí số người đi XKLĐ ở các hộ nghèo hoặc số hộ thoát
nghèo nhờ có người đi làm việc ở nước ngoài,… sẽ thấy rõ hơn vai trò của
XKLĐ với việc xóa đói giảm nghèo (Đoàn Thị Yến, 2014) .
Nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật: Khi tham gia XKLĐ,

động đó là:
Một là, cạnh tranh giữa các nước XKLĐ: XKLĐ được thực hiện trong sự
cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia XKLĐ. Ngày càng có nhiều nước tham gia
vào lĩnh vực XKLĐ, trong hiện thời và trước mắt các nước nhập khẩu lao động
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

chỉ muốn tiếp nhận lao động có kỹ năng cao, thích ứng với công nghệ mới, đặc
biệt là công nghệ thông tin, xiết chặt chính sách nhập cư có xu hướng quản lý lao
động nhập cư thông qua các hợp đồng lao động tạm thời và chính sách quản lý
lao động nhập cư; đồng thời các nước cũng thông qua Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) và Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) để giải quyết vấn đề di dân và nhập cư
lao động một cách toàn diện, phục vụ lợi ích của các quốc gia, người lao động và
toàn xã hội. Do đó, chúng ta cần căn cứ đặc thù về nguồn để nâng cao chất lượng
cạnh tranh.
Hai là, cung - cầu về lao động trên thị trường thế giới và khu vực: Các
nước kinh tế phát triển có tốc độ tăng trưởng GDP cao, nhưng tốc độ tăng dân số
thấp, dẫn đến thiếu hụt về nguồn nhân lực, có nhu cầu về nhập khẩu lao động,
trong khi các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển cần đầu tư mở rộng sản
xuất, tạo thêm việc làm, giải quyết nạn thất nghiệp, bổ sung nguồn thu ngân sách
và thu nhập cho NLĐ, rất cần đưa lao động ra nước ngoài làm việc. Cung - cầu
lao động của thị trường phụ thuộc nhiều vào sự phát triển và các chính sách kinh
tế của các nước như: thu nhập, đầu tư, thuế, lãi suất của nền kinh tế khu vực và
thế giới. Khi cung - cầu lao động mất cân đối nghiêm trọng do nhu cầu tìm việc
làm trong nước quá lớn nhưng khả năng xâm nhập, khai thác thị trường lao động
quốc tế còn hạn chế, cạnh tranh gay gắt sẽ đẩy chi phí khai thác thị trường lên
quá cao, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, chúng ta cần
nâng cao năng lực dự báo. Đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường ngoài
nước, kịp thời đón nhận các hợp đồng tiếp nhận lao động, nhất là thị trường có
thu nhập cao, an toàn, phù hợp với điều kiện lao động Việt Nam như: Đài Loan,

khoảng hơn 60 nước có di cư và đi lao động nước ngoài, với tổng số gần 120
triệu người, trong đó các nước Châu Á chiếm hơn 50%. Hầu hết các nước trên
thế giới đều có lao động nước ngoài làm việc, ILO ước tính khoảng trên 200
nước trên thế giới tiếp nhận lao động nước ngoài, nhưng chủ yếu tập trung ở các
nước phát triển, khoảng 1/3 ở Châu Âu, 20% ở Bắc Mỹ, 15% ở Châu Phi, 12% ở
các nước Ả rập, tất cả các khu vực Châu Á và Nam Mỹ chiếm chưa đến 10%. Để
cạnh tranh với các nước trên chúng ta phải trang bị cho NLĐ về kiến thức, kỹ
năng và thái độ nghề nghiệp đúng đắn.
Sáu là, các nhân tố khác như: tăng cường công tác quản lý; hạn chế đến
mức thấp nhất lao động phá vỡ hợp đồng; xử lý nhanh, chính xác các tình huống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

phát sinh trong quan hệ lao động góp phần tăng niềm tin của chủ sử dụng lao
động khi sử dụng lao động Việt Nam.
Với tính chất phức tạp, nhạy cảm và tính chất quốc tế cao của xuất khẩu
lao động, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động với tư cách hỗ trợ, quản lý,
giám sát và định hướng cho công tác XKLĐ là cần thiết, ứng với mỗi giai đoạn
phát triển kinh tế của đất nước, phải có một phương thức tổ chức và quản lý
XKLĐ riêng, trong đó quản lý tài chính XKLĐ là một khâu quan trọng để đạt
được hiệu quả kinh tế - xã hội. Việc vận dụng, khai thác tốt các nhân tố mới có
ảnh hưởng đến XKLĐ sẽ giúp cho chúng ta có cơ hội thực hiện thành công chiến
lược XKLĐ Việt Nam trong những năm tới, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hội nhập sâu rộng với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam
2.2.1.1 Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Việt Nam với dân số khoảng 90 triệu người, là nước đông dân thứ 3 trong
khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. Tính đến hết năm 2012, cả

và chuyên gia đã đưa về nước một lượng hàng hóa thiết yếu với trị giá hàng
nghìn tỷ đồng (Khuyết danh, 2013).
Thời kỳ thứ hai từ năm 1991 đến nay: Thời kỳ này mở đầu bằng sự sụp đổ
của Liên Xô và các nước Đông Âu dẫn đến sự tan dã của khối SEV buộc Nhà
nước ta phải nhanh chóng đổi mới chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường. Kể từ đó đến nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền
kinh tế đất nước, hoạt động XKLĐ cũng được quan tâm một cách đúng mực. Số
lượng người đi làm việc ở nước ngoài tăng lên một cách nhanh chóng, từ con số
1.022 người năm 1991 đến năm 2000 đã tăng lên là 31.500 người, năm 2006 là
78.655 người và đến năm 2013 là 88.155 người (Nguyễn Thị Hoan, 2007). Hiện
có khoảng 500.000 lao động làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 30
nhóm ngành, nghề khác nhau; trong đó Đài Loan là một trong những thị trường
có nhiều lao động Việt Nam nhất, hiện tại có 93.000 lao động Việt Nam làm việc
tại thị trường này, chiếm 30% tổng số lao động Việt Nam, hàng năm gửi về nước
trên 400 triệu USD (Cục quản lý lao động ngoài nước, 2013). XKLĐ cũng trở
thành một kênh đem lại nguồn thu nhập quan trọng cho đất nước. Trong thời gian
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17

tới, nước ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động XKLĐ. Tuy nhiên, hoạt
động XKLĐ của ta còn gặp nhiều hạn chế do trình độ và chất lượng của lao động
xuất khẩu chưa cao, chưa tìm được đường vào cho những thị trường lớn, có thu
nhập cao như EU, Hoa Kỳ,
Từ thực tế hoạt động XKLĐ của Việt Nam trong thời gian qua có thể đánh
giá khái quát (Khuyết danh, 2013) như sau:
* Về ưu điểm:
Lĩnh vực XKLĐ đã và đang từng bước đổi mới phương thức hoạt động,
phát triển nhiều hình thức dịch vụ tiến bộ, đầu tư có trọng điểm và nâng cao năng
lực cạnh tranh. Lao động và chuyên gia đang làm việc ở nước ngoài với nhiều
ngành nghề đa dạng như xây dựng, cơ khí, điện tử, dệt may, chế biến thuỷ sản,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status