điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ hòa thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi - Pdf 30


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN HÓA HỌC
 TRẦN TRỌNG NHÂN ĐIỀU TRA NĂNG SUẤT VÀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA MỘT SỐ LOẠI CỎ HÒA THẢO DÙNG LÀM
THỨC ĂN CHĂN NUÔI LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: HÓA HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS. NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂN

2013

Trường Đại Học Cần Thơ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Khoa Khoa Học Tự Nhiên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bộ Môn Hóa Học
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

1. Cán bộ hướng dẫn: Ts. Nguyễn Thị Hồng Nhân
2. Đề tài: “Điều tra năng suất và thành phần hóa học của một số loại cỏ
Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi”.
3. Sinh viên thực hiện: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278
Lớp: Cử nhân Hóa Học – Khóa 36
4. Nội dung nhận xét:
a. Nhận xét về hình thức của LVTN: b. Nhận xét về nội dung của LVTN ( Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
 Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:

b. Nhận xét về nội dung của LVTN ( Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
 Đánh giá nội dung thực hiện của đề tài:  Những vấn đề còn hạn chế: c. Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (ghi rõ
từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện
nếu có): d. Kết luận, đề nghị và điểm:
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
Cán bộ phản biện Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân i MSSV: 2102278

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin cảm ơn quý thầy cô thuộc bộ môn Hóa Học – Khoa
Khoa Học Tự Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ, các thầy cô đã tận tình dạy
dỗ, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu, luôn tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt thời gian theo học tại trường.

Đề tài “Điều tra năng suất và thành phần hóa học một số loại cây họ
Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi” được thực hiện với mục tiêu điều tra
năng suất và thành phần hóa học của một số cây họ Hòa Thảo qua đó so sánh
về thành phần hóa học của những loại cỏ này ở vùng đất tốt và đất phèn.
Thí nghiệm tiến hành điều tra năng suất và thành phần hóa học trên năm
loại cỏ là cỏ Voi, cỏ Sả, cỏ Lông tây, cỏ Mồm mỡ và cỏ Mồm gạo trên vùng
đất tốt (Cần Thơ) và vùng đất phèn (Hòa An). Các chỉ tiêu phân tích thành
phần hóa học gồm có: DM, Ash, CP và CF.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về năng suất giữa
vùng đất tốt và vùng đất phèn nhưng thành phần hóa học không có sự chênh
lệch lớn giữa hai vùng. Ở vùng đất tốt, cỏ Sả có hàm lượng CP (8,29% ) thấp
nhất và hàm lượng CF cao nhất với 40,30% so với các loại cỏ còn lại. Ở vùng
đất phèn, cỏ Mồm mỡ có hàm lượng CP cao nhất là 11,12% và hàm lượng CF
thấp nhất là 35,55%. Từ đó cho thấy các loại cỏ này vẫn có thể sinh trưởng và
phát triển tốt trên vùng đất phèn Hòa An.
Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân iii MSSV: 2102278


Trần Trọng Nhân Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii

2.6 Cỏ Voi 17
2.6.1 Nguồn gốc và phân bố 17
2.6.2 Đặc điểm 18
2.6.3 Một số giống cỏ Voi 19
2.6.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 20
2.6.5 Sử dụng 22
2.7 Cỏ Lông Tây 22
2.7.1 Nguồn gốc và phân bố 23
Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

vi
2.7.2 Đặc điểm thực vật 23
2.7.3 Đặc điểm sinh học 23
2.7.4 Năng suất 24
2.7.5 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng 24
2.7.6 Sử dụng 24
2.8 Cỏ Mồm mỡ 25
2.8.1 Nguồn gốc và phân bố 25
2.8.3 Đặc điểm sinh học 25
2.8.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 26
2.8.5 Sử dụng 26
2.9 Cỏ Mồm gạo 26
2.9.1 Phân bố 26
2.9.2 Đặc điểm thực vật 26
2.9.3 Đặc điểm sinh học 27
2.9.4 Thành phần dưỡng chất và tính năng sản xuất 27
2.9.5 Sử dụng 27
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Phương tiện thí nghiệm 28


vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Hàm lượng một số chất dinh dưỡng trong thức ăn xanh so với cám (% thức
ăn nguyên dạng) 6
Bảng 2.2: Hàm lượng một số chất khoáng của cỏ (% vật chất khô) 6
Bảng 2.3: Thành phần hóa học của cỏ Sả 17
Bảng 2.4: Năng suất của cỏ Voi thay đổi theo mùa và thời gian thu hoạch ở Việt
Nam 21
Bảng 2.5: Thành phần hoá học của cỏ Voi 21
Bảng 2.6: Sự thay đổi giá trị dinh dưỡng theo mùa 24
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng của cỏ Lông tây 24
Bảng 2.8: Thành phần hóa học cỏ Mồm mỡ 26
Bảng 2.9: Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo 27
Bảng 4.1 Năng suất và thành phần hóa học trung bình ở 2 vùng 35
Bảng 4.2: Thành phần hóa học của 5 loại cỏ ở vùng đất tốt 36
Bảng 4.3: Thành phần hóa học của 5 loại cỏ ở vùng đất phèn 36
Bảng 4.4: Thành phần hóa học của cỏ Voi ở 2 vùng 37
Bảng 4.5: Thành phần hóa học của cỏ Sả ở 2 vùng 38
Bảng 4.6: Thành phần hóa học của cỏ Lông tây ở 2 vùng 39
Bảng 4.7: Thành phần hóa học của cỏ Mồm mỡ ở 2 vùng 40
Bảng 4.8: Thành phần hóa học của cỏ Mồm gạo ở 2 vùng 41

Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

nuôi và an toàn thực phẩm là phải nâng cao được năng suất, chất lượng, vệ
sinh thực phẩm và hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi trong tương quan giá cả
cùng loại với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài “Điều tra năng suất và thành phần
hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo dùng làm thức ăn chăn nuôi” được thực
hiện để tìm ra loại cỏ vừa cho năng suất tốt, giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp
với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, và mang lại hiệu quả kinh tế cho
người chăn nuôi.
1.2 Mục tiêu của đề tài
Điều tra năng suất và xác định thành phần hóa học của một số loại cỏ
Hòa Thảo.
So sánh thành phần hóa học của một số loại cỏ Hòa Thảo ở vùng đất tốt
và đất phèn. Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

2
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Thức ăn gia súc
2.1.1 Khái niệm
Thức ăn gia súc là tất cả những gì mà con gia súc ăn vào hoặc có thể ăn

SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

3
+ Thức ăn giàu protein. Tất cả những loại thức ăn có hàm lượng protein
thô chiếm trên 20% (tính theo vật chất khô) thì được gọi là những loại thức ăn
giàu protein.
+ Thức ăn giàu lipit: gồm các loại thức ăn mà hàm lượng lipit chiếm trên
20% (tính theo vật chất khô).
+ Thức ăn giàu gluxit: Là loại thức ăn trong đó có hàm lượng gluxit 50%
trở lên, gồm các loại hạt ngũ cốc, ngô, thóc cám, bột khoai, bột sắn. Thức ăn
này chiếm tỷ lệ rất lớn trong khẩu phần thức ăn gia súc dạ dày đơn, nó là
nguồn năng lượng dễ tiêu hóa và hấp thu mà giá thành lại rẻ.
+ Thức ăn nhiều nước: Gồm các loại thức ăn có hàm lượng nước từ 70%
trở lên.
+ Thức ăn nhiều xơ: gồm các loại thức ăn mà hàm lượng xơ thô 18% trở
lên. Loại thức ăn này là sản phẩm chế biến ngành trồng trọt, như rơm rạ, dây
lang, dây lạc những loại thức ăn này ít có ý nghĩa với gia súc dạ dày đơn
nhưng chiếm tỷ trọng lớn trong khẩu phần gia súc nhai lại.
+ Thức ăn giàu khoáng: gồm các loại muối khoáng, bột xương, muối ăn,
bột sò
+ Thức ăn giàu vitamin: gồm những loại vitamin hoặc những loại thức ăn
giàu vitamin như: bột rau xanh, dầu gan cá
+ Thức ăn bổ sung khác: gồm các loại thức ăn có nguồn gốc đặc biệt
như kháng sinh, các hợp chất chứa nitơ, các chất chống oxy hóa, các chất kích
thích sinh trưởng.
Phân loại theo đương lượng tinh bột
Theo phương pháp này, người ta phân thức ăn thành 2 loại: thức ăn tinh và
thức ăn thô.
+ Thức ăn thô: bao gồm các loại thức ăn có đương lượng tinh bột dưới
45% nghĩa là trong 100 kg thức ăn có không quá 45 kg tinh bột.

Thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein dưới 20% và xơ thô dưới
18%. Bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, gạo, sắn, củ khoai lang, cao
lương, mạch, mì và phế phụ phẩm của ngành xay xát như cám gạo, cám ngô,
tấm nhóm nguyên liệu này chiếm tỷ lệ cao nhất trong công thức thức ăn hỗn
hợp, thường chiếm 40−70% tỷ trọng. Một số loại dầu thô, mỡ thô cũng được
dùng bổ sung vào công thức thức ăn hỗn hợp nhưng không vượt quá 4−5%.
Ngoài ra còn có các loại củ, quả như sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ
Thức ăn giàu protein
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18%.
Thức ăn giàu protein có nguồn gốc động vật: bột cá, bột thịt, sữa bột, bột thịt
xương, bột máu, nước sữa ; thức ăn giàu protein có nguồn gốc thực vật: hạt đỗ
tương, lạc, đậu xanh, đậu triều, đậu nho nhe, khô đỗ tương, khô lạc, khô dầu
hướng dương, khô dầu dừa, khô dầu bông.
Thức ăn bổ sung khoáng
Bột vỏ sò, bột đá, vỏ hến, dicanxiphotphat, bột xương
Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

5
Thức ăn bổ sung vitamin
Các loại vitamin B1, B2, B3, D, A hoặc premix vitamin.
Các loại thức ăn bổ sung khác
2.2 Nhóm Thức ăn xanh
Thức ăn thô xanh ở nước ta rất đa dạng và phong phú, bao gồm thân lá
của một số cây, cỏ trồng hoặc mọc tự nhiên trên cạn hoặc dưới nước và là
nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc ở nước ta, nhất là các nông hộ.
Loại thức ăn này chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà vật nuôi cần như
protein, các vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng thiết yếu và các chất có hoạt
tính sinh học cao (Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006).

(% thức ăn nguyên dạng)

Cám loại 1
Cỏ Voi
Cỏ Ghi - nê
Rau muống
Vật chất khô
87,6
20
23,3
10,6
Protein thô
13,0
1,9
2,5
2,1
Xơ thô
7,8
7,2
7,3
1,6
Lipit
12,0
0,4
0,5
0,7
(Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006)
Hàm lượng lipit có trong thức ăn xanh dưới 4% tính theo vật chất khô,
chủ yếu là các axit béo chưa no. Khoáng trong thức ăn xanh thay đổi tùy theo
loại thức ăn, tính chất đất đai, chế độ bón phân và thời gian thu hoạch. Nói

> 250
Đồng
< 3,00
4,00–8,00
> 10,0
Kẽm
< 10,0
15,0–50,0
> 75,0
Coban
< 0,08
0,08–0,25
> 0,30
Molypden
< 0,40
0,50–3,00
> 5,00
(Lê Đức Ngoan và cộng sự, 2006)
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng của thức ăn xanh
Giống cây trồng: Nhóm cây trên cạn có hàm lượng vật chất khô
(10−30%) lớn hơn nhóm cây thuỷ sinh (1−10%), họ hoà thảo (2−10% protein
thô so với vật chất khô) có hàm lượng protein thô thấp hơn bộ đậu (10−30%).
2.2.3. Những điểm cần chú ý khi sử dụng
Theo Lê Đức Ngoan và cộng sự (2006), cần thu hoạch cỏ đúng thời vụ
để đảm bảo giá trị dinh dưỡng cao. Nếu thu hoạch sớm ít xơ, nhiều nước, hàm
lượng vật chất khô thấp. Ngược lại nếu thu hoạch quá muộn hàm lượng nước
giảm, vật chất khô tăng nhưng chủ yếu tăng chất xơ, còn lipit và protein giảm.
Thời gian thích hợp để thu hoạch các loại rau xanh nói chung là sau khi trồng
1−1,5 tháng, thân lá cây ngô trước khi trổ cờ, thân lá họ đậu: thời gian ngậm
Luận văn tốt nghiệp Đại học

vật bao gồm những cây lương thực chính của con người như lúa, lúa mì, bắp,
lúa miến và những loại cỏ làm thức ăn nuôi gia súc chủ yếu.
Các cỏ Hòa Thảo lâu năm có vai trò chính trong cân bằng thức ăn xanh
cho gia súc. Cỏ sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết quả vào mùa thu và
gần như ngừng sinh trưởng vào mùa đông. Cỏ có ưu điểm là cho năng suất cao
nhưng lại hạn chế về giá trị dinh dưỡng (prôtein thấp, xơ cao), thân tương đối
cao, thời gian ra hoa không ổn định và kéo dài, đặc biệt trong mùa ẩm (Dương
Hữu Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981).
Đặc tính thực vật của cỏ Hòa Thảo (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2005): cây
cỏ có thân rỗng, tròn hay dẹp, phiến lá mỏng, bẹ lá là phần dưới của lá thường
ôm lấy thân như một cái ống và thường xẻ dọc dài suốt bẹ lá. Mép lá là phần
nằm giữa phiến lá và bẹ lá, có thể là một miếng mỏng bao lấy thân hay một
lóng ngắn. Hoa của cỏ Hòa Thảo đặc sắc là ở phát hoa, đơn vị phát hoa ở đây
là một gié hoa thu ngắn lại gọi là epillet (gié hoa), mỗi gié hoa có hai vẩy
ngoài gọi là đỉnh (glumes), kế đến là hai vẩy khác gọi là trấu (glumelles),
trong trấu có nhiều hoa mọc theo hai hàng. Hoa gồm có hai vẩy gọi là
Iodicule, ba tiểu nhụy và noãn với hai vòi nhụy. Ở nhiều loài Hòa Thảo đỉnh
Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

8
hay trấu mang một lông tơ gọi là lông gai (arete). Trái thường không có vỏ và
dính vào trấu đặc biệt gọi là đỉnh quả. Rễ thuộc loại rễ chùm.
Ở trên mỗi đốt thì có lá, càng gần mặt đất bao nhiêu thì lóng càng ngắn,
đốt càng dài và lá càng nhiều. Do đó khi sử dụng cỏ Hòa Thảo phải để lại độ
cao nhất định (6cm) để tạo điều kiện cho cỏ tái sinh mạnh và thu được sản
lượng lớn (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, 1979).
Lượng Prôtein thô tính trong chất khô của cỏ Hòa Thảo ở nước ta trung
bình là 9,8% (75−145 g/kg chất khô) tương tự với giá trị trung bình của cỏ
Hòa Thảo nhiệt đới. Hàm lượng xơ khá cao 269−372 g/kg chất khô. Khoáng

9
Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, người ta đánh giá độ phì nhiêu của đất
qua các chỉ tiêu dung trọng, độ pH, chất hữu cơ, % đạm tổng số, % lân tổng
số, % kali tổng số,…. Đối với một số loại đất có vấn đề như đất phèn, đất mặn,
… thì sự hiện diện của độc chất trong đất có thể là những chỉ tiêu đánh giá độ
phì nhiêu quan trọng (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004).
Ngoài các tác động sinh lý học của đất còn có vai trò quan trọng của các
nguyên tố đại lượng dưới dạng muối như N, P, K, Ca, Mg và các nguyên tố vi
lượng Bo, Co, Cu, Cl, I, Fe, Mn…các nguyên tố này có liên quan đến sự sinh
trưởng, phát triển và sinh sản của gia súc. Ví dụ: pH đất thay đổi theo hướng
kiềm (bón vôi) sẽ dẫn tới sự giảm Mg, Zn, Co trong cỏ. Hay trong điều kiện
ẩm độ đất cao Se, Mo, Mn và Nitrat dưới dạng tự do tập trung trong cỏ sẽ gây
bệnh dinh dưỡng cho gia súc (giảm tiết sữa, ngộ độc, sẩy thai,…) (Dương Hữu
Thời và Nguyễn Đăng Khôi, 1981).
Do đó, đất để trồng cỏ tốt nhất là đất thịt nhẹ, các loại đất sét nặng hoặc
nhiều cát cỏ mọc không tốt. Những đồng cỏ hoang đã lâu đời cỏ không mọc
tốt được vì thiếu vôi, đạm và nhiều nguyên tố vi lượng khác. Có rất ít giống cỏ
chịu được đất nhiễm phèn, nhiễm mặn và các loại đất sét nặng hoặc nhiều cát
cỏ cũng mọc không tốt. Mặt khác, cỏ hoà thảo trồng trên đất tốt thì mềm, gia
súc ăn ngon miệng và có giá trị dinh dưỡng cao hơn khi trồng trên đất chua,
đất không màu mỡ mặc dù cung cấp đủ nước. Với điều kiện trên đất chua thì
cỏ nhiều xơ, không ngon miệng và khi già có thể chát (Dương Hữu Thời và
Nguyễn Đăng Khôi, 1981).
Đối với đất bị rữa trôi nhiều năm nên pH rất chua (3,5−5,5) làm nhiều
loại vi khuẩn cố định N (Rhizobium) không phát triển được (do chúng phát
triển được ở pH khoảng 5,5−7), người ta cải tạo độ chua bằng cách bón vôi để
tăng pH đất lên gần trung hoà hay kiềm (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004).
Ngoài ra địa hình cũng ảnh hưởng ít nhiều đến việc trồng cỏ. Nên chọn
thế đất bằng phẳng để trồng cỏ, như vậy cỏ sẽ sinh trưởng và phát triển đồng
đều. Các vùng đất hơi dốc độ nghiêng vừa phải vẫn có thể trồng cỏ được. Tuy

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của chế độ
gió mùa Châu Á, có sắc thái đa dạng với một mùa lạnh ở phía Bắc (từ đèo Hải
Vân trở ra) và khí hậu kiểu Nam Á (Tây Nguyên, Nam Bộ) cũng như khí hậu
có tính chuyển tiếp ở vùng ven biển Trung Bộ. Nước ta có tiềm năng về thời
gian chiếu sáng và lượng mưa dồi dào, phân bố tương đối đều giữa các vùng
trong nước. Phía Nam thuộc miền nhiệt đới không có mùa đông, chia làm ba
vùng sinh thái theo ba đới khí hậu: vùng cao, vùng đồi núi và vùng đồng bằng,
thành phần cây trồng nhiệt đới phong phú. Trong điều kiện có đủ nước, cây
nông nghiệp phát triển xanh tốt quanh năm (Viện chăn nuôi, 1995).
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta ảnh hưởng rất lớn đến khả năng
sinh trưởng và phát triển của cây thức ăn gia súc nói chung. Với cỏ Hòa Thảo,
hầu hết đều sinh trưởng nhanh vào mùa hè, ra hoa kết trái vào mùa thu và gần
như ngừng sinh trưởng vào mùa đông, đến mùa xuân thì phát triển nhanh và
cho nhiều lá. Tuy sinh trưởng nhanh, năng suất cao nhưng cỏ Hòa Thảo lại
nhanh hoá xơ, chính vì thế mà giá trị cũng giảm theo (Viện chăn nuôi, 1995).
2.4.4 Kỹ thuật canh tác
Việc làm sạch cỏ dại và làm đất là quan trọng bậc nhất. Trong hầu hết
các nghiên cứu cũng như trong sản xuất đại trà, các tác giả như Đinh Huỳnh
và Lê Hà Châu (1995), Phùng Quốc Quảng (2002), Nguyễn Thiện (2003)….
đều cho rằng phải làm đất kỹ trước khi xuống giống, đều này nhằm mục đích
Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

11
tạo sự tơi xốp nhất định, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ rễ phát triển. Đồng thời
làm sạch cỏ dại sẽ hạn chế sự cạnh tranh về ánh sáng, dưỡng chất và mật độ.
Theo Dương Hữu Thời, Nguyễn Đăng Khôi (1981) và Nguyễn Văn
Tuyền (1971): Thời gian thu hoạch có ảnh hưởng đến hàm lượng dưỡng chất
trong cỏ để cung cấp cho gia súc, năng suất của cỏ cũng như sự tồn tại lâu dài
hoặc tàn lụi của cỏ. Cỏ từ khi trồng thì năng suất và thành phần dưỡng chất

Luận văn tốt nghiệp Đại học
SVTH: Trần Trọng Nhân MSSV: 2102278

12
chuồng không gây hại lớn, lượng dưỡng chất dư thừa cây không sử dụng hết
có thể dùng tiếp cho vụ sau. Tuy nhiên phân chuồng có tỉ lệ dưỡng chất thấp
nên cần có khối lượng lớn, gây cồng kềnh, dưỡng chất phân chuồng lại không
ổn định, tác dụng chậm hơn so với phân hoá học (Lê Văn Căn, 1982).
Ngoài ra than bùn là loại phân hữu cơ được sử dụng khá phổ biến. Than
bùn được tạo từ các loại thực vật khác. Xác thực vật được tích tụ lại, vùi lấp
trong đất và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm, với điều
kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn. Than
bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18-24%, phần còn lại là chất hữu cơ, loại phân
bón này dùng để tăng chất hữu cơ cho đất, có khả năng giữ nước, kích thích
tăng trưởng cây và hàm lượng dinh dưỡng thay đổi tuỳ thuộc thành phần loài
thực vật, quá trình phân huỷ chất vô cơ (Ngô Ngọc Hưng và cộng sự, 2004).
Phân hoá học là một lợi thế để điều khiển năng suất nhưng do tính cụ thể
và chính xác nên mỗi sự thay đổi về liều lượng và cách bón sẽ thể hiện bằng
sự thay đổi rõ rệt về năng suất. Cùng một lượng phân hoá học chia ra bón làm
nhiều cách khác nhau về thời gian thì năng suất có thể thay đổi nhưng cùng
một lượng phân chuồng chia ra bón thì thay đổi không đáng kể. Một số phân
hoá học thường thấy trên thị trường như phân urea (chứa 46% N) phân kali
(chứa 63,2 % K
2
O), phân super lân (chứa 16−50% P
2
O
5
) phân NPK 16– 16–8
(chứa 16 % N, 16 % P


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status