giáo lí phật giáo trong tiểu thuyết tây du ký” của ngô thừa ân - Pdf 30

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN VĂN LÂM
MSSV: 6106401
GIÁO LÍ PHẬT GIÁO TRONG TIỂU THUYẾT "TÂY DU KÝ”
CỦA NGÔ THỪA ÂN
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: Ths. GV. L Ê THỊ NHIÊN
Cần Thơ, 2013
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. L
ịch sử nghiên cứu vấn
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương
pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.Giới thiệu về Phật giáo
1.1.1 Sự hình thành Phật giáo
1.1.2 Những quan niệm của nhà Phật
1.2 Giới thiệu về Phật giáo Trung Quốc
1.3. Tác giả và tác phẩm
1.3.1 Tác giả Ngô Thừa Ân
1.3.2 Giới thiệu tiểu thuyết Tây Du Ký
1.3.2.1 Hoàn c

v
ề lịch sử và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Văn học Trung Quốc không chỉ phát
triển mạnh ở Trung Quốc mà còn có ảnh hưởng không nhỏ trên văn đàn thế giới mà cụ
thể là ở Việt Nam. Văn học Trung Quốc là một mảng văn học khá quan trọng được
giảng dạy nhiều ở nhà trường phổ thông, không những thế văn học Trung Quốc còn là
đề tài hấp dẫn phong phú cho các nhà nghiên cứu.
Trải qua nhiều giai đoạn, văn học Trung Quốc không ngừng phát triển và đi lên,
ở mỗi giai đoạn văn học sẽ có tác
phẩm nổi tiếng gắn liền với những tên tuổi được
xem là bậc kì tài trong giới sáng tác, nếu nói đến văn học Trung Quốc thì không thể
không kể: “ Hồng lâu mộng ” – Tào Tuyết Cần, “ Liêu trai chí dị ” – Bồ Tùng Linh, xa
hơn nữa thì có sử kí Tư Mã Thiên, “ Tam quốc diễn nghĩa ” – La Quán Trung còn
khi nói đến văn học Trung Quốc hiện đại thì ta biết đến các tác giả nổi tiếng như:
Vương Sóc, Vương Mông, Mạc Ngôn, Quỳnh Dao
.
Và đặc biệt có một nhà văn tuy tác phẩm của ông đã đi qua gần IV thế kỉ
nhưng những dư âm mà nó để lại vẫn luôn tồn tại m
ãi với thời gian và nhân loại, đó là
tác phẩm Tây du ký của Ngô Thừa Ân. Tác phẩm Tây du ký, thành công về mặt nội
dung, tư tưởng, bởi nó
có chứa đựng nhiều giáo lí Phật giáo.Từ đó tác phẩm không chỉ
còn mang tính chất giải trí mà còn trở thành một tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến
thối nát, đề cao lí tưởng cá nhân. Đặc biệt nhờ yếu tố Phật giáo, trong tác phẩm đã
mang đến cho người đọc được sự hiểu biết thêm về cuộc đời, về con người, và cả về
bản thân của chính mình.
Tác ph
ẩm “ Tây du ký ” - Ngô Thừa Ân là một trong bốn “ Tứ đại kì thư ” của
văn học Trung Quốc. Chính v
ì những điều trên người viết quyết định chọn đề tài “
Giáo lí Phật giáo trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân ” nhằm mục đích mang lại cho

thì t
ất cả đều nhờ vào bản thân, không nên chờ đợi vào một thế lực nào khác. Tuy
nhiên tác gi
ả lại không chỉ ra được trong tác phẩm sự giải thoát được biểu hiện cụ thể
qua nhân vật nào từ đó gây ra sự khó hiểu cho người đọc.
Tác giả Thái Hà lại có nhận định như sau “ Cốt truyện Tây du ký liên quan đến
đạo Phật như
ng tác phẩm không nhằm mục đích truyền đạo. Đạo Phật ở đây được
hiểu như một lý tưởng chính trị, một ước mơ về tự do, bình đẳng” [tr. 58]. Tác giả có
nhận định Tây du ký không phải là một tác phẩm để truyền bá đạo Phật, mà thông qua
đạo Phật để hiểu được giá trị của tác phẩm, bên cạnh đó tác giả cũng đánh giá cao vai
trò của Phật giáo đối với sự ra đời của Tây du ký.
Nhà sư Thích Chơn Thiện
khi nhận định về Tây du ký thì có nhấn xét như sau
“ Ngô Thừa Ân hẳn và viết về những gì trong giáo lý Phật giáo đã tạo nên pháp sư
Trần Huyền Trang và sự nghiệp vĩ đại của người. Ðó là con đường tu tập thoát ly mọi
nỗi khổ đau trần thế, cái nỗi khổ đau đang đè nặng cuộc đời của Ngô Thừa Ân và xã
h
ội Trung Hoa phong kiến đương thời ” [tr. 72]. Tác giả đã chỉ ra được yếu tố Phật
6
giáo có vai trò quan trọng trong Tây du ký nhưng những chứng minh của tác giả chưa
thật sự đi sâu vào vấn đề.
Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng lại có nhận định “ Đọc Tây du hóa ra không
ph
ải đọc Tây du, mà là đọc lại chính ta. Ngô Thừa Ân hóa ra không phải Ngô Thừa
Ân mà là mật ngữ siêu thoát của Lão, Phật. Ngô là họ Ngô; Thừa là thừa hưởng,
thọ nhận; Ân là ân sâu đức cả. Ai xưa kia đã thọ hưởng được cái học của thánh
hiền mà giác ngộ, không nỡ đem giấu làm của báu tư riêng, nên lấy cuộc văn
chương, mượn
trò chữ nghĩa bày truyện Tây du ” [tr. 86] . Nghiên cứu này đã chỉ ra

người viết những b
ài nghiên cứu trên chưa thật sự làm rõ được nội dung tư tưởng,
cũng như những điều mà Ngô Thừa Ân muốn gửi gắm đến cho người đọc. Điều quan
7
trọng nhất đó là triết lí và giá trị của giáo lí Phật giáo mang lại cho tác phẩm thì vẫn
chưa được nh
ìn nhận và đánh giá một cách khách quan.
3. Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu “ Tây du ký ” người viết nhằm mục đích khám phá những vấn
đề mới lạ để cung cấp th
êm cho mình những kiến thức cần thiết về văn học nưóc
ngoài, khi nghiên cứu ta sẽ phát hiện ra cái hay cái đẹp của văn chương- một giá trị
tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Nghiên cứu đề tài: “ Giáo lí
Ph
ật giáo trong Tây du ký ” giúp ta nhận ra cái nhìn của tác giả về xã hội Trung Quốc
trong thời kì phong kiến cũng như nhận ra được ý nghĩa thâm thúy của Phật pháp trong
“Tây Du”. Những yếu tố Phật giáo xuất hiện trong tiểu thuyết làm cho người viết nhận
ra rằng, trong cuộc sống luôn luôn tồn tại cái xấu, cái ác, cái vui, cái buồn hài hước và
dí d
ỏm. Tiểu thuyết “ Tây du ký ” của Ngô Thừa Ân như một bức tranh trung thực
phản ánh cuộc sống mà thông qua đó ta sẽ cảm nhận được bối cảnh xã hội, cũng như
phản ánh tâm tư, nguyện vọng, của người dân đặc biệt là người nông dân trong thời
buổi loạn lạc lúc bấy giờ. Bên cạnh đó thông qua việc nghiên cứu giáo lí Phật giáo
trong Tây du ký, còn giúp ích rất nhiều cho người viết trong việc hiểu biết thêm về
văn hóa T
rung Quốc, đặc biệt là về Phật giáo.
Yêu c
ầu của đề tài là phải làm rõ giáo lí Phật giáo trong từng nhân vật chính
trong Tây Du ngoài ra thông qua hành động, cũng như lời nói của các nhân vật n
êu lên

nhân vật có trong tiểu thuyết “ Tây du ký ” để chỉ ra những yếu tố Phật giáo có trong
tác phẩm, từ đó phân tích được triết lí “ Từ, bi, hỉ, xả ” và tư tưởng giải thoát của đạo
Phật.
Trên cơ sở của quá tr
ình phân tích, người viết sẽ vận dụng phương pháp tổng
hợp để kết hợp giáo lí Phật giáo có trong tác phẩm với lối sống cũng như quan niệm
văn hóa của x
ã hội Trung Quốc xưa và nay.
Tất cả những phương pháp trên đều nhằm mục đích chỉ ra giá trị thực tiễn của
giáo lí Phật giáo đối với cuộc sống hiện thực với cuộc sống có trong tác phẩm. Từ đó
nêu ra được những tư tưởng mà nhà văn Ngô Thừa Ân muốn gửi đến x
ã hội của ông
và xã hội hiện tại bây giờ.
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1.Giới thiệu về Phật giáo
1.1.1 Sự hình thành Phật giáo
Vị giáo chủ sáng lập Phật giáo là Siddhartha Gautama, một hoàng tử thuộc thị
tộc Sakya một vương quốc nhỏ hiện nay thuộc đất nước Nepal. Theo truyền thuyết, sự
đản sinh của Đức Phật được đánh dấu bằng những điềm l
ành cho thấy thái tử
Siddhartha trong tương lai sẽ l
à một “ chuyển luân vương” ( kravartin ) hay là một
thánh nhân vĩ đại.
Khi còn trẻ thái tử chỉ sống trong cảnh giàu sang tráng lệ, tránh xa mọi đau khổ,
phiền não trong cuộc sống. Ngài cũng lập gia đình và có một hoàng nam. Vào khoảng
năm 29 tuổi thái tử lần đầu ti
ên trực nhận ra sự đau khổ trong kiếp người qua hình ảnh
một lão già, một bệnh nhân, và một xác chết. Đối với một tâm thức Ấn Độ, đây không

ể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên.Đừng
lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định bạn sẽ ân hận. Khi nào
b
ạn thật sự buông xuống thì lúc ấy bạn sẽ hết phiền não. Mỗi một vết thương đều là
m
ột sự trưởng thành.
Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức
được m
ình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác. Bạn
đừng có thái độ bất m
ãn người ta hoài, bạn phải quay về kiểm điểm chính mình mới
đúng.
Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính bạn.
Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không
bao giờ được thanh thản. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của
mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác. Hủy diệt người chỉ cần
một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin bạn “Đa khẩu hạ lưu tình”.
V
ốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa bạn là ai? Giả sử bạn bị
chó điên cắn bạn một phát, chẳng lẽ bạn cũng phải chạy đến cắn lại một phát? Đừng
bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người bạn không hề yêu thích.
Mong b
ạn đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của
mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận.
Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao bạn lại chứa độc dược? Cùng một mảnh
tâm tại sao bạn phải chứa đầy những não phiền như vậy? Những thứ không đạt được,
chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời
gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện
nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn.
Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc,

c
ủa bạn đi.
Bạn cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế bạn sẽ rất
đau khổ. Người luôn e d
è với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa. Nói một
lời dối gian thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như
vậy? Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội
ăn trộm.
Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào. Im
l
ặng là một câu trả lời hay nhất cho sự phỉ báng. Cung kính đối với người là sự trang
nghiêm cho chính mình. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả. Đến là ngẫu nhiên,
đi là tất nhiên. Cho nên bạn cần phải “Tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng
tùy duyên”. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính bạn. Chỉ cần đối diện với hiện thực, bạn
mới vượt qua hiện thực.
Lương tâm là t
òa án công bằng nhất của mỗi người, bạn dối người khác được
nhưng không bao giờ dối nổi lương tâm m
ình. Người không biết yêu mình thì không
th
ể yêu được người khác.
12
Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta
s
ống vì cái gì? Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của bạn, cũng
đừng
vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác. Cảm ơn đời với những
gì tôi đã có, cảm ơn đời những gì tôi không có.
N
ếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi.

ĩ, họ chính là thiện tri thức của bạn.
Người khác có thể l
àm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh
chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì
chúng ta nh
ất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh.
13
Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông
cho người khác. Bạn muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, th
ì trước hết phải chịu đựng
được khổ nạn. Thế giới vốn không thuộc về bạn,
vì thế bạn không cần vứt bỏ, cái cần
vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc
về ta. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành
phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.
1.2 Giới thiệu về Phật giáo Trung Quốc
Theo truyền thống Trung Hoa thì vua Hán Minh Đế ( trị vì từ năm 57-75) đã
tiên đoán sự xuất hiện của Phật Giáo tại Trung Quốc. Trong một giấc mộng ông đã
nhìn th
ấy một thần nhân màu vàng chói sáng từ phương tây bay đến. Chắc chắn, triều
đại của Hán Minh Đế tr
ùng hợp với thời gian Trung Quốc có những mối quan hệ
thương mại với phía Tây Bắc Ấn v
à khu vực Trung Á. Sự sụp đổ của nhà Hán vào
năm 220 mở đầu cho hơn 3 thế kỷ vô cùng hỗn loạn về mặt chính trị xã hội, một bối
cảnh thích hợp để Phật Giáo trở thành một loại tôn giáo cứu khổ và bắt đầu phát triển
những hình thái thực hành tôn giáo đặc sắc phản ánh tính chất đặc thù của văn hóa
Trung Quốc.
Trong suốt thời kì này, người Trung Á cai trị khu vực Hoa Bắc và sử dụng các
nhà sư Phật Giáo l

đạo, phủ nhận x
ã hội, ăn bám nhân dân. Các Phật tử trả lời rằng các tu sĩ thực hành
m
ột thứ hiếu đạo cao hơn cả đạo hiếu của Nho gia và các tu sĩ cũng đóng góp cho xã
h
ội bằng cách đọc kinh cầu phước cho toàn thể quốc gia. Lời tuyên bố này được minh
h
ọa cụ thể thông qua câu chuyện về Mục Liên, một đại đệ tử của Đức Phật nhờ tích
lũy bao nhiêu công đức tu luyện và cúng dường chư Phật nên có thể cứu mẹ và nhiều
sinh linh khác ra khỏi địa ngục.
Các tu viện Phật Giáo trong thời đại nhà Đường tích lũy rất nhiều của cải nhờ
việc cúng dường đất đai, thóc lúa và vàng bạc. Các tu sĩ Phật Giáo được miễn thuế
ruộng đất nên các địa chủ thường lợi dụng tự viện làm nơi trốn thuế bằng cách đưa
ruộng đất riêng của mình làm bộ tặng cho tự viện. Phương pháp trốn thuế này khiến
cho sự chống đối Phật Giáo của các giai cấp Nho sĩ càng thêm trầm trọng. Đỉnh cao
c
ủa sự chống đối này xảy ra trong thảm kịch bức hại Phật Giáo năm 845 khi Đường
Vũ Tông ra lệnh hủy bỏ hơn 40 ngàn tự viện Phật Giáo và bắt hoàn tục hơn 260500
tăng ni. Mặc dù thảm kịch này không kéo dài, rất nhiều tông phái Phật Giáo biến mất
sau cuộc bức hại này, và Phật Giáo không bao giờ phục hồi lại được thế lực và ảnh
hưởng như trước kia.
Tôn giáo Trung Hoa luôn luôn mang tính chất tổng hợp và Phật Giáo trong các
vương triều về sau hoàn toàn đ
ã bị bản địa hóa, thẩm thấu trong nhiều phương diện
của văn hóa dân gian và các phong trào giáo phái. Phật Giáo cũng ảnh hưởng đến sự
ra đời của Lý học Tống nho về sau, chẳng hạn trong phương pháp
“ tĩnh tọa” của
Tống nho. Các phương pháp thực hành tôn giáo của Phật Giáo càng vươn ra khỏi
phạm vi tự viện, chẳng hạn việc tụng kinh, niệm phật, hay làm phước.
Có rất nhiều con đường dẫn tới sự giác ngộ. Những tông phái Phật Giáo Trung

truyền thừa liên tục từ Đức Phật đến Bồ Đề Đạt Ma, từ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục Tổ Huệ
Năng và xa hơn nữa. Bồ Đề Đạt Ma, một thiền sư Ấn Độ, được xem l
à tổ Thiền Tông
Trung Hoa đầu ti
ên và là tổ đời 28 của dòng Thiền Ấn Độ mà Đức Phật là sơ tổ đầu
tiên trên đất Ấn.
Các tông phái Phật Giáo Trung Quốc thường chọn tập trung vào một cuốn kinh
nào đó làm trung tâm giải thích to
àn bộ giáo lý Phật Giáo. Các tu sĩ có thể học hỏi với
nhiều vị thầy khác nhau, do đó có thể xuất hiện trong các hệ thống truyền thừa khác
nhau. Một số tu sĩ trong cùng một tông phái có thể cộng cư với nhau trong một tự viện.
Sự phân biệt chia ly giữa các tông phái chỉ có ý nghĩa đối với những tu sĩ thuộc tông
phái đó, c
òn trong con mắt của người dân Trung Quốc bình thường, thì tất cả cũng là
tăng ni tu theo đạo Phật.
Những tông phái Phật Giáo quan trọng đầu tiên tại Trung Quốc là du nhập trực
tiếp từ Ấn độ không sửa chữa, thêm thắt gì nhiều, chẳng hạn phái Tam Luận Tông do
16
Cưu Ma La Thập ( 344- 413) thành lập và Pháp Tướng Tông do pháp sư Huyền Trang
( 602-664) thành lập. Cưu Ma La Thập và Huyền Trang là hai nhà phiên dịch kinh
điển lỗi lạc nhất trong lịch sử văn hóa Trung Quốc. Phái Tam Luận Tông du nhập học
thuyết Trung Quán ( Madhyamika) giảng dạy giáo lý Đại Thừa không tính: không có
sự phân biệt giữa sinh tử và Niết Bàn. Giáo thuyết Pháp Tướng Tông (còn gọi là Duy
Th
ức) của Huyền Trang khẳng định tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Hai trường
phái này cũng tham gia tranh luận, phê phán lẫn nhau, khác với truyền thống Trung
Hoa là
“ dĩ hòa vi quý” tâm thức Trung Quốc vẫn cho rằng người hiểu đạo thì không
c
ần tranh luận. Có lẽ đó cũng là một trong những lý do cả hai tông phái này không thể

17
trong vòng một tuần lễ. Mặc dù các nho gia chống đối các phương thức tu tập như vậy,
Tịnh Độ Tông vào thế kỉ XII có tín đồ trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân Trung Quốc.
Trong th
ời Minh Thanh các phương pháp tu Tịnh Độ thậm chí còn được thực hành
ngay trong các t
ự viện của Thiền Tông.
Phật giáo Tây Tạng là một tông phái Phật giáo quan trọng trong thời kì người
Mông Cổ ( nhà Nguyên) và Mãn Châu ( nhà Thanh) thống trị Trung Quốc. Tây Tạng
vào thế kỉ XIII nội thuộc đế Quốc Mông Cổ Phật Giáo Tây Tạng còn có tên là “ Lạt
Ma Giáo” Lạt Ma là những bậc thầy đống vai trò quan trọng trong các tự viện Tây
Tạng. Phật Giáo Tây Tạng là một hỗn hợp đặc biệt của giáo lý Phật Giáo Đại Thừa và
M
ật Tông, kèm theo những yếu tố thuộc tôn giáo bản địa Tây Tạng. Mặc dù không
bao gi
ờ được phổ biến trong dân gian, Phật Giáo Tây Tạng trở thành một loại quốc
giáo sau khi Khubilai Khan ( Nguyên Thế Tổ) trở thành một tín đồ của Phật Giáo Tây
Tạng. Đến thời nhà Minh, tuy Tây Tạng không còn thuộc đế chế Trung Hoa, nó vẫn
còn là một phiên quốc triều cống, nên Lạt Ma Giáo vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng. Nhiều
tu viện Phật Giáo được xây dựng ngay tại Bắc Kinh.
Các Hoàng đế Thanh Triều cũng theo Phật Giáo Tây Tạng, thậm chí tự xem
mình là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, một Bồ Tát rất được sùng bái tại Tây Tạng.
Năm 1720 Tây Tạng nội thuộc về đế quốc Trung Hoa v
à kể từ đó trở đi cho đến lúc
nhà Thanh sụp đổ Đạt Lai Đạt Ma của Tây Tạng đương nhiên chịu sự bảo trợ trực tiếp
của vương triều nhà Thanh.
1.3. Tác giả, tác phẩm
1.3.1 Tác giả Ngô Thừa Ân
Ngô Thừa Ân tự Nhữ Trung, hiệu Xạ Dương sơn nhân, người Hoài An- Sơn
Dương ( nay là Hoài An, tỉnh Giang Tô, là nhà văn viết tiểu thuyết đời nh

d
ụng khuyên răn giáo dục” [ 2; tr.112] . Đúng như lời Ngô Thừa Ân đã từng phát biểu
tiểu thuyết Tây du ký, tuy chứa trong đó nhiều tính chất ma quái li kì, tạo cho người
xem nhiều thích thú, và nhiều tiếng cười, nhưng không phải truyện ông viết ra là nhằm
mục đích giải trí mà là nhằm mục đích phê phán, tố cáo bọn vua, quan phong kiến bù
nhìn, nh
ững tên đạo sĩ hoang dâm vô độ. Ngoài ra ông còn ca ngợi tinh thần chiến đấu
của quần chúng nhân dân, những người anh hùng áo vải , Tuy nhiên tư tưởng của ông
vẫn chưa đủ mạnh ông vẫn còn dè dặt khi phê phán những tên vua, quan phong kiến có
lẽ do ông chịu ảnh hưởng quá nhiều của chế độ phong kiến lúc bấy giờ. Tư tưởng của
ông đôi khi c
òn hạn chế ông chỉ đưa ra những biện pháp tức thời để giải quyết vấn đề
chứ chưa chỉ ra được nguyên nhân sâu xa của vấn đề và cách giải quyết triệt để. Trong
ti
ểu thuyết ông chỉ cho rằng các Quốc Vương dẫu bi u mê, dâm đạo như vậy là do các
đạo sĩ chỉ điều sai trái cho Quốc Vương, từ đó ông đưa ra giải pháp là nếu tiêu diệt bọn
đạo sĩ n
ày thì Quốc Vương sẽ sáng suốt và đất nước sẽ được an bình, đây có thể nói
cũng là một phần hạn chế trong tư tưởng của Ngô Thừa Ân. Tuy nhiên chúng ta cũng
phải công nhận rằng những tư tưởng mà Ngô Thừa Ân mang vào trong tác phẩm đều
19
hướng con người đến cái đẹp và cái chân, thiện, mĩ để con người và xã hội từng bước
được ho
àn thiện.
1.3.2 Giới thiệu tiểu thuyết Tây Du Ký
1.3.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Tây du ký ra đời vào khoảng giữa những năm Gia Tĩnh ( 1522-1567) và vạn
lịch ( 1567-1619) đời Minh. “ Tây du ký ” là bộ tiểu thuyết thần thoại thành công nhất
trong lịch sử cổ đại Trung Quốc. Tiểu thuyết kể lại truyện Đường Tăng ( Sư Huyền
Trang ) nhà sư trẻ đời Đường sang Ấn Độ học kinh Phật. Hư cấu Đường Tăng và ba

TIỂU THUYẾT TÂY DU KÝ CỦA NGÔ THỪA ÂN.
2.1. Biểu hiện của giáo lí Phật giáo thông qua hình tượng các nhân vật
chính
2.1.1 Nhân v
ật Đường Tăng
Hình ảnh Đường Tăng là biểu trưng cho thức thứ tám, thức này trong đạo Phật
làm chủ cả bảy thức nên trong truyện Đường Tăng là thầy của Tôn Hành Giả, Sa Ngộ
Tịnh, Trư Ngộ Năng và Bạch Long Mã.
Th
ức này có nhiều tên gọi, nhưng ở đây người viết chỉ nêu lên vài danh từ đại
diện cho thức thứ tám và sơ lược một số biểu hiện. Sở dĩ thức này có nhiều tên gọi là
do có nhi
ều giả thiết được đặt ra. Hơn nữa có nhiều tên gọi khác nhau là vì thức này
quá sâu r
ộng, mỗi tên làm nổi bật mỗi khía cạnh trong một giai đoạn ở địa vị tu hay
còn là phàm phu mà gi
ả thuyết của nó đã thay đổi chẳng giống nhau, nên tên của nó
theo đó thay đổi, mỗi t
ên chỉ nói lên vài đặc điểm.
Thứ nhất, thức có tên là A lại da thức: Trung Hoa dịch là Tàng Thức hay còn
g
ọi là Tạng Thức, tức là cái thức bao hàm chứa dựa tàng trữ, gìn giữ những chủng tử
các pháp từ tinh thần lẫn vật chất để không hư mất và cũng là nơi xuất sanh ra các
pháp. Nó cũng như là kho chứa nhóm những chủng tử thiện ác từ ngoài đem vào gìn
gi
ữ mà trong nhà Phật gọi là " Hiện hành huân chủng tử". Kinh Lăng Già nói: "Thức
thứ sáu cùng thức thứ tám làm nhân, và thức thứ sáu với thức thứ tám làm duyên nên
th
ức thứ bảy có khởi ” [2; tr.71]. Vì thức thứ sáu nương sáu căn hướng cảnh giới
ngoại trần vọng có phân biệt, làm cho tàng thức mê thêm nên thức thứ bảy đồng thời

nạn. Đó là những hình ảnh nói lên tấm lòng kiên trì vững chãi của bậc chân tu, luôn
vượt qua bao cạm bẫy thế tình và hằng kiên trì giữ vững ý chí mong thoát khỏi vòng
trói bu
ộc trần tục. Chính vì làm chủ được thức thứ tám nên Đường Tăng mới được
Quan Thế Âm ban cho áo Cà Sa để bảo vệ cho bản thân, tích trượng để tăng thêm sức
mạnh đôi chân, và bốn đệ tử để bảo vệ Đường Tăng trên con đường thỉnh kinh. Tất cả
những gì mà Bồ Tát ban cho Đường Tăng đều mang đến ý nghĩa là, muốn làm chủ
được thức thứ tám này Đường Tăng cần phải có một lý trí tốt, phải có khả năng tự bảo
vệ bản thân, không sa chân vào tội lỗi và ác nghiệp.
Trong b
ộ tiểu thuyết này ta thấy rằng hình tượng Đường Tăng không thật sự
nổi bật như hình tượng Tôn Ngộ Không hay là Trư Bát Giới. Nhân vật Đường Tăng
xuất hiện trong câu chuyện là một người lãnh đạo cho hành trình đến Tây Thiên để lấy
Kinh Phật nhưng con người Đường Tăng chỉ biết học và làm theo những gì Phật dạy
chứ không biết làm gì khác, mà trên đường đi thỉnh kinh phải gặp bao nhiêu hiểm
nguy, cách trở, phải đối đầu với biết bao tên yêu quái có phép thần thông quản đại.
Mỗi khi chứng kiến Đường Tăng xử lí các tình huống nguy hiểm chúng ta chắc hẳn
đều có nhận định rằng Đường tăng l
à một hòa thượng thành tâm đi theo đạo Phật, có ý
chí trong việc đi thỉnh kinh, nhưng lại là người nhu nhược đây có thể nói là một trong
những nhược điểm của thức thứ tám. Ở hồi 15 “ Khi qua núi rắn, cuối khe Ung Sầu,
22
một con rồng nuốt chửng con ngựa bạch còn đóng nguyên yên cương. Đường Tăng
nói: Nếu nó ăn thịt mất ngựa rồi thì làm sao được ! khổ chưa thiên sơn vạn thủy làm
th
ế nào mà đi được. Nói xong nước mắt giàn giụa. Hành Giả thấy Đường Tăng khóc
không nén được tức giận b
èn to tiếng: Sư phụ đừng làm cái trò bịn rịn như thế, ngồi
yên, để l
ão Tôn đi tìm con vật kia, bắt nó đền ngựa lại.

định ăn thịt Đường Tăng, nhưng vì lòng từ bi quá mức mà Đường Tăng tự gánh lấy
nguy hiểm cho mình, câu nói mà Đường Tăng hay nói trên cửa miệng là “ Người xuất
gia nghĩ điều gì cũng không rời khỏi thiện tâm, quét nhà sợ hại mạng sâu kiến, con
thiêu thân sa đèn c
òn thương tiếc, huống chi lại là con người…”[tr.70] lời Đường
Tăng nói không sai, nhưng Đường Tăng lại quá cứng nhắc nếu không làm như Ngộ
Không thì có lẽ Đường Tăng khó lòng đến Tây Phương được. Ở hồi 27 tác giả có nhắc
23
đến sự sai lầm của Đường Tăng trên bước đường thỉnh kinh “ Khi qua Bạch Hổ Linh,
Ngộ Không ba lần đánh chết yêu tinh để cứu Đường Tăng, nhưng ba lần Đường Tăng
đọc thần chú để Ngộ Không phải chịu mười phần đau đớn, thậm chí c
òn đuổi Ngộ
Không về thủy Liêm Động. Hoặc khi đoàn người thỉnh kinh qua núi cao, gặp ba mươi
tên cướp ở hai bên đường nhảy ra chắn lối đi, đ
òi tiền mãi lộ, Đường Tăng sợ run lập
cập, ngồi không vững, ngã từ trên ngựa xuống đứng lom khom trên đám cỏ bên
đường Hành Giả vung gậy Như ý đánh chết hai tên cướp. Tam Tạng thấy xác chúng
máu me lênh láng, không nở lòng nhìn bèn bảo Bát Giới đào lỗ chôn, sai Ngộ Không
đốt hương đốt hương nến để đọc “ Đảo đầu kinh” độ cho họ
, sau đó lại đuổi Ngộ
Không đi”
sau khi đuổi Ngộ Không đi Đường Tăng còn kêu linh hồn bọn chúng đến
kiện cáo cả Tôn “ Ta lấy lời lẽ van vỉ ân cần. Không nghe thì chớ, lại còn hung hăng.
Gặp phải Hành Giả gậy đánh hoại thân. Nghĩ nỗi thi hài bộc lộ, ta cho đắp điếm mộ
phần. Bẻ tre tươi làm hương nến, không vẻ sáng. Có lòng nhân lấy đá cuội làm bố thí ,
không mùi vị . Có thành nhân, các người đến điện Sâm La kiện cáo, cây bới, rễ lần. Y
họ Tôn, ta họ Trần. Mỗi người một họ, oan có đầu, nợ có chủ, chớ bảo nhà sư đi lấy
kinh văn.”
Và khi nhớ ra Bát Giới và Sa Tăng không liên quan đến chuyện này thì
Đường Tăng lại khẩn “ Bản cáo Trạng với hảo hán, chỉ cáo một hành giả. Bát Giới, Sa

Nhân vật Tôn Ngộ Không từ nhân vật thứ yếu trở nên là nhân vật quan trọng
nhất trong cả câu chuyện. Ngộ Không được lí tưởng hóa một cách sâu sắc có tất cả khí
chất của một vị anh hùng không khuất phục trước bất kì thế lực hùng mạnh nào. Nhân
v
ật này thể hiện cho ước muốn, lí tưởng của người dân Trung Quốc là muốn chinh
phục thiên nhiên, tinh thần phản kháng của người dân đối với bọn cường quyền độc ác.
Ngộ Không trong đạo Phật là nhân vật tượng trưng cho lí trí và sự sáng suốt. Cái tên
Ng
ộ Không không phải ngẫu nhiên mà có, Ngộ Không có nghĩa là sự ngộ ra chân lí tất
cả là không, đây là một chân lí cao nhất của Thiền Tông.
Trước hết,
Tôn Ngộ Không khi sinh ra thật khác thường, sinh ra từ một hòn đá
tiên “ Trên đỉnh núi này có một tấm đá tiên cao ba trượng sáu thước, năm tấc, chu vi
hai trượng, bốn thước. Cao ba trượng sáu thước, năm tấc, hợp với v
òng giời 365 độ,
vây tròn hai trượng bốn thước, hợp với lịch chính 24 khí. Trên có 9 khiếu 8 lỗ, hợp với
9 cung 8 quẻ. Bốn mặt không có cây cối che bóng, hai bên tả hữu, chi lan quấn lấy
nhau. Có lẽ từ khi sinh ra, tấm đá cảm thụ tinh hoa của trời đất, của mặt trời, mặt
trăng nên mới linh thông được. Trong tấm đá lại có một thi
ên thai. Một hôm tấm đá
nứt ra, sinh một trứng đá to bằng quả cầu lớn, gặp gió hóa ra con khỉ đá, đủ mặt, mũi,
chân, tay. Con khỉ đá liền học cào, học chạy, váy lạy bốn phương, hai mắt có hào
quang sáng r
ực lên tận trời làm kinh động đến Ngọc Hoàng thượng đế” [tr.29]. Không
ph
ải ngẫu nhiên Ngộ Không được sinh ra một cách kì lạ như vậy, sự kì lạ này cho thấy
được mai n
ày Ngộ Không sẽ là một người anh hùng đội trời đạp đất. Khi mới được
sinh ra, con khỉ đã cho thấy được sự thông minh và dũng mãnh của mình, đôi mắt của
Ngộ Không là đại diện cho sự sáng suốt, biết phân biệt thực hư . Sự gan dạ và dũng

Không đã không ngại vất vả, nguy hiểm vượt qua muôn vạn đường núi để đi học đạo
và phép thuật. Khi đã học được phép thuật thì hành động ngang tàng của Ngộ Không
lại càng mạnh mẽ hơn. Ở hồi 3 có nói lên ý này “ khi đã học được 72 phép thần thông
Ngộ Không liền rẽ nước để xuống Long Cung mượn vũ khí và chỉ muốn nhận bửu bối
của Long Cung là cây thiết bổng nặng một vạn, ba nghìn năm trăm cân làm vũ khí, và
ni
ềm ước mơ được trường thọ của con người lên đến đỉnh điểm đó là khi Ngộ Không
giám m
ột mình đánh đến Sâm La, và đòi Diêm Vương cho coi sổ sinh tử, khi đã có
được sổ sinh tử trong tay Ngộ Không liền dùng bút gạch tên mình, và tất cả loài khỉ ra
khỏi danh sách tử, khi chứng kiến hành động của Tôn bọn Thập Điện Diêm Vương chỉ
biết đứng nhìn chứ không dám làm gì.”. Hành động quấy phá Diêm Vương và Long
cung của Tôn Ngộ Không đã thể hiện được tinh thần chiến đấu quyết liệt của dân
chúng chống lại số phận bị phụ thuộc, bị chi phối bởi triều đình. Sự ngang tàng ấy đã
th
ật sự lên đến đỉnh điểm khi Ngộ Không đi lên thiên đình, những khẩu khí và hành
động của Tôn lại càng đắc thắng và tỏ thái độ xem thường bọn vua chúa cường quyền.
Khi Ngọc Hoàng Thượng Đế mời Tôn lên để giao cho chức vụ Bạch Mã Ôn, lúc này

Trích đoạn Nhân vật Sa Ngộ Tịnh ( Sa Tăng ): Những điều giảng dạy của nhà Phật thông qua tiểu thuyết “Tây Du Ký” 1 Ngoại chướng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status