m
BỘYTẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGHIÊN CỨU Sơ Bộ THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
VÀ TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM, GIẢM ĐAU CỦA
(Dracaena cambodiana Pierre ex Gapnep. Dracaenaceae)
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DUỌC SỸ KHOÁ 2000 - 2005)
Người hương aan : I ns. ùương Thị Ly Hương
: TSKH. Trần Văn Thanh
Nơi thực hiện : Bộ môn Dược lực
: Bộ môn Dược liệu
Thời gian thực hiện: 02/2005 - 05/2005
TRẦN MANH DŨNG
HUYET GIÀC
m
£ jò ’i ea rn đ it
Trong những dòng đầu tiên này, em muốn bày tỏ lòng kính trọng và lòng
biết ơn sâu sắc đến:
Th.s Dương Thị Ly Hương
Th.s Đào Thị Vui
Bộ môn Dược lực - trường Đại học Dược Hà Nội
TSKH. Trần Văn Thanh
Bộ môn Dược liệu - trường Đại học Dược Hà Nội
Là những người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo cho em trong
quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành gửi lòi cảm ơn tới TS. Vũ Thị Trâm phó chủ nhiệm bộ
môn Dược lực đã quan tâm, tạo điều kiện cho em rất nhiều trong quá trình tiến
hành làm khoá luận.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cô kỹ thuật viên bộ môn Dược lực, bộ
môn Dược liệu, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên em trong thời gian
thực hiện khoá luận này.
1.3.4. Thành phần hoá học 16
1.3.5. Tác dụng, công dụng 17
Phần 2: Thực nghiệm và kết quả 18
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu 18
2.1.2. Động vật thí nghiệm 18
2.1.3. Phương pháp nghiên cứu 18
2.1.4. Tính toán kết quả20
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét 20
2.2.1. Nghiên cứu thành phần hoá học 20
2.2.2. Nghiên cứu tác dụng chống viêm 28
2.3. Bàn luận 42
2.3.1. Về thành phần hoá học
42
2.3.2.Tác dụng chống viêm cấp 42
2.3.3. Tác dụng chống viêm mạn
43
2.3.4. Nghiên cứu tác dụng giảm đau
44
Phần 3: Kết luận và đề xuất
45
Tài liệu tham khảo
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ADP Adenosin diphosphat
AMP Adenosin mono phosphat
thể lên tới 20-30 tấn.
Huyết giác còn là vị thuốc chưa được nghiên cứu. Vì vậy, với mong muốn
tìm hiểu vị thuốc Huyết giác có tại Việt Nam và làm sáng tỏ công dụng của vị
thuốc, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu này với các mục tiêu sau:
1. Sơ bộ định tính một số hợp chất tự nhiên có trong vị thuốc.
• • • • r • 9«
2. Nghiên cứu tác dụng chổng viêm cấp và chống viêm mạn của vị thuốc.
3. Nghiên cứu tác dụng giảm đau của vị thuốc.
1
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỂ VIÊM
1.1.1. Khái niệm viêm:
Trong từ điển bách khoa Dược học viêm được định nghĩa như sau: “Viêm
là một phản ứng tại chỗ của cơ thể, do các mô bị kích thích hoặc bị tổn thương
gây ra. Đó là một phản ứng phức tạp của các mô liên kêt và của tuân hoàn mao
mạch ở nơi bị tác động, được thể hiện bằng các triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau
và rối loạn chức phận” [16].
Theo Vũ Triệu An “Viêm là một phản ứng bảo vệ của cơ thể mà nền tảng
là phản ứng tế bào, phản ứng này được hình thành và phát triển phức tạp dần
trong quá trình tiến hoá của sinh vật” [6].
1.1.2. Nguyên nhân và phân loại viêm
I.I.2.I. Nguyên nhân [6]:
Có nhiều nguyên nhân gây viêm, có thể chia thành hai nhóm:
❖ Nguyên nhân bên ngoài:
- Sinh vật: do nhiễm vi khuẩn, vi rus, ký sinh trùng
- Vật lý: cơ học (đụng đập, chấn thương), nhiệt (bỏng nóng hoặc bỏng lạnh),
bức xạ ion
- Hoá học: các chất hoà tan gây hoại tử tế bào như các dung dịch hoá chất
(acid, kiềm muối ), hoặc các chất độc gây thực bào của bạch cầu.
**** Nguyên nhăn bên trong:
Giai đoạn này diễn ra rất ngắn.
3
♦♦♦ Giãn mạch: sau khi co mạch chớp nhoáng ở các tiểu động mạch là hiện
tượng giãn mạch, đầu tiên là các tiểu động mạch rồi mao mạch và tiểu tĩnh
mạch, dẫn đến tăng tuần hoàn tại chỗ nhằm cung cấp năng lượng cho hoạt
động tại ổ viêm (gây nóng, đỏ) và đưa nhiều bạch cầu tối ổ viêm làm nhiệm
vụ bảo vệ.
Nguyên nhân của hiện tượng giãn mạch là do 3 yếu tố chính:
Hưng phấn thần kinh giãn mạch ở vùng động mạch và tiểu động mạch.
Do tác động của các yếu tố thể dịch có mặt tại ổ viêm như histamin,
bradykinin, leukotrien gây ra co tế bào nội mô; hoặc các cytokin (IL-1,
TNF, TNF -y ) gây nên sự tái tổ chức cấu trúc bộ xương tế bào dẫn đến hình
thành những vùng gian bào rộng, những lỗ hổng giữa các tế bào.
- Các sợi liên kết ở vùng mao mạch và tiểu động mạch bị tổn thương làm
giảm trương lực thành mạch, gây giãn mạch.
❖ Phản ứng tuần hoàn quá mạnh trên dẫn tới các rối loạn nghiêm trọng như
giãn mạch cực độ, dòng máu chảy chậm dần, gây tăng tính thấm thành mạch
làm thoát dịch rỉ viêm giàu protein vào các mô quanh huyết quản. Do sự chèn
ép của dịch ri viêm và do một số yếu tố khác như liệt thần kinh vận mạch, tế
bào nội mạc sưng to, tăng độ nhớt của máu .gây ứ máu, làm mất tuần hoàn từ
động mạch sang tĩnh mạch, thiếu oxy, gây rối loạn chuyển hoá nghiêm trọng,
tổn thương tổ chức và viêm phát triển toàn diện (biểu hiện lâm sàng là sưng và
đau).
1.13.2. Phản ứng tế bào [6,15]:
Đây là phản ứng cơ bản nhất phản ánh khả năng bảo vệ của cơ thể
chống viêm và trong phản ứng này bạch cầu đóng vai trò quan trọng nhất.
Do tốc độ tuần hoàn chậm lại, các bạch cầu, chủ yếu là bạch cầu đa nhân
trung tính dạt vào thành mạch, bám vào nội mô, rồi dừng lại tại một điểm gọi
là vách tụ cầu. Dưới tác dụng của các chất trung gian hoá học như IL-1, TNF
và nội độc tố, bạch cầu và tế bào nội mô bộc lộ hai loại phân tử dính trên bề
bạch cầu đơn nhân, gây giải phóng các chất trung gian hoá học của phản ứng
viêm, C5a còn là tác nhân hoá ứng động mạnh với bạch cầu.
- Bradykinin, một chất gây giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch, được
giải phóng từ a2-globulin khi hệ thống kinin bị hoạt hoá dưới tác dụng của
yếu tố Hageman (yếu tố XII của đường đông máu nội sinh).
- Hệ thống đông máu và tiểu tơ huyết: hệ thống đông máu là một loạt những
protein của huyết tương có thể bị hoạt hoá bởi yếu tố Hageman. Bước cuối
cùng của quá trình là sự chuyển fibrinogen thành fibrin do tác động của
thrombin. Trong quá trình biến đổi này, các fibrinopeptid được hình thành, nó
gây tăng tính thấm mao mạch và có hoạt tính hoá ứng động đối với bạch cầu.
1.1.4.2. Các amin hoạt mạch[15]:
- Histamin: được hình thành sẵn trong các hạt và được giải phóng do sự
mất hạt của các dưỡng bào khi đáp ứng với các kích thích: tổn thương vật lý
(chấn thương, bỏng), phản ứng miễn dịch làm gắn các kháng thể với các
dưỡng bào, các đoạn của bổ thể được gọi là các độc tố gây phản vệ (C3a và
C5a), các protein giải phóng histamin xuất phát từ bạch cầu, các neuropeptid,
các cytokin (IL-1, IL-8). Histamin gây giãn các tiểu động mạch và tăng tính
thấm thành mạch đối vói các tiểu tĩnh mạch.
- Serotonin: có tác động tương tự như histamin, được giải phóng từ các tiểu
cầu bị kích thích khi chúng kết dính sau khi tiếp xúc vói sợi tạo keo, ADP, các
phức hợp kháng nguyên-kháng thể, hoặc do yếu tố hoạt hoá tiểu cầu (PAF) có
nguồn gốc từ các dòng tế bào trong các phản ứng do tác động trung gian của
IgE.
1.1.43. Các chất chuyển hoá của acid arachidonic như prostaglandin,
prostacyclin, thromboxan (chuyển hoá theo đường cyclooxygenase),
leucotrien (chuyển hoá theo đường lipooxygenase). Acid arachidonic là một
thành phần của màng lipid và được giải phóng do tác động của phospholipase
Á2. Các chất chuyển hoá của nó như prostacyclin và thromboxan đóng vai trò
quan trọng trong điều hoà đông máu. Trong viêm, prostaglandin A2 làm tăng
6
nên có tác dụng chống viêm (sơ đồ 1.1).
Ngoài ra, tác dụng chống viêm của các thuốc chống viêm steroid còn là
kết quả của một loạt tác dụng: ức chế sản xuất kháng thể, ức chế khả năng di
chuyển và tập chung của bạch cầu, cản trở thực bào, hạn chế việc giải phóng
và phát huy tác dụng của các enzym tiêu thể Tác dụng của thuốc thường
nhanh, nhưng khi ngừng, thuốc bệnh dễ tái phát.
Các thuốc trong nhổm: dựa vào thời gian tác dụng, có thể chia các
thuốc chống viêm steroid làm 3 nhóm chính:
- Nhóm có thời gian tác dụng ngắn: (8- 12 giờ) như hydrocortison, cortison.
Đây là các hormon tự nhiên, có tác dụng giữ muối và nước mạnh trong khi
tác dụng chống viêm lại yếu.
- Nhóm có thời gian tác dụng trung bình: (12-16 giờ) như prednison,
prednisolon, methylprednisolon, triamcinolon. Nhóm này ít có tác dụng
giữ muối và nước hơn nhóm trên nhưng tác dụng chống viêm lại mạnh hơn.
Nhóm có thời gian tác dụng dài: (36-72 giờ) như dexametheson và
betamethason. Đây là các hormon tổng hợp, có tác dụng chống viêm mạnh
hơn hydrocortison 20- 30 lần và không có tác dụng giữ muối, nước.
1.1.5.2. Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) [3]:
Là nhóm thuốc chống viêm không có cấu trúc steroid.
Cơ chế chung: Các thuốc chống viêm không steroid đều ức chế enzym
cyclooxygenase (COX), do đó ngăn cản tổng hợp prostaglandin, là chất trung
gian hoá học gây viêm, nên làm giảm quá trình viêm (sơ đồ 1.1).
Ngoài ra các thuốc này còn đối kháng với hệ enzym phân huỷ protein,
ngăn cản quá trình biến đổi protein làm bền vững màng lysosom và đối kháng
vói tác dụng của các chất trung gian hoá học như bradykinin, histamin,
serotonin, ức chế hoá ứng động bạch cầu, ức chế sự di chuyển của bạch cầu tới
ổ viêm.
8
Các thuốc trong nhóm: dựa vào cấu trúc hoá học, có thể chia các thuốc
chống viêm không Steroid làm các nhóm như sau:
1.2. TỔNG QUAN VỂ ĐAU
1.2.1. Khái niệm đau
Đau là một cảm giác thuộc về giác quan và xúc cảm, do tổn thương đang
tồn tại hoặc tiềm tàng ở các mô gây nên và phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ
của tổn thương ấy [10].
Đau là một cơ chế tự bảo vệ của cơ thể, nó xuất hiện tại một vị trí nào đó
bị tổn thương và tạo nên một đáp ứng nhằm loại trừ tác nhân gây đau. Nhờ
cảm giác đau mà con người nhận biết được bệnh tật. Vì thế trong nhiều trường
hợp, triệu chứng đau phải được đánh giá thận trọng để nhận định ý nghĩa của
nó và xác định cách tiếp cận xử lý [12].
1.2.2. Phân loại cảm giác đau [7]:
- Đau nhói: là cảm giác đau như khi có kim châm vào da xuất hiện khi một
vùng da rộng bị kích thích.
- Đau rát: là cảm giác đau khi da bị bỏng cháy, gây đau đớn và hành hạ bệnh
nhân.
- Đau quằn quại (đau nội tạng): đây không phải là cảm giác đau trên bề mặt
cơ thể mà là cảm giác đau sâu bên trong cơ thể, gây khó chịu cho bệnh nhân.
1.2.3. Đường dẫn truyền cảm giác đau từ ngoại biên về hệ thống thần
kinh trung ương:
Tín hiệu đau từ ngoại biên được truyền về tuỷ sống nhờ hai loại sợi thần
kinh:
- Sợi thần kinh cảm giác As: là sợi có myelin, đường kính lớn dẫn truyền với
tốc độ 6-30 m/s, gây cảm giác đau nhói.
- Sợi thần kinh cảm giác C: là sợi không có myelin, đường kính nhỏ, dẫn
truyền với tốc độ 0,5-2 m/s, gây cảm giác đau bỏng rát và đau sâu.
10
Các sợi cảm giác đau Aỗ và c truyền tín hiệu đau đến sừng sau tuỷ sống,
sau đó đưa tín hiệu lên não. Trên não, sợi Aô có tận cùng ở đồi thị và vùng
cảm giác của vỏ não, còn sợi c có tận cùng ở cấu tạo lưới của thân não và
nhân lá trong của đồi thị (thuộc hệ thống hoạt hoá chức năng của hệ lưới).
1.2.4.2. Các chất sinh học tham gia vào hệ thống giảm đau [7]:
Ở hệ thần kinh trung ương, đặc biệt ở các vùng của hệ thống giảm đau trong
não và tuỷ sống có các receptor tiếp nhận các chất truyền đạt thần kinh tham
gia vào hệ thống giảm đau. Đó là các chất p-endorphin, met-enkephalin, leu-
12
enkephalin, dynorphin. Chúng được gọi là các opiat nội sinh, được bài tiết một
cách tự nhiên ở các vùng khác nhau của vỏ não. Các receptor tiếp nhận opiat
nội sinh chính là các receptor tiếp nhận morphin.
1.2.5. Thuốc giảm đau
Thuốc giảm đau được chia làm 2 loại:
Thuốc giảm đau gây ngủ.
Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm.
1.2.5.1. Thuốc giảm đau gây ngủ [2,4]:
Thuốc giảm đau gây ngủ (còn gọi là thuốc giảm trung ương, giảm đau loại
morphin) có chung một đặc tính là: giảm đau mạnh, giảm đau sâu và giảm đau
chọn lọc. Thuốc giảm đau gây ngủ thường được dùng cho những cơn đau dữ
dội, cấp tính hoặc đau do ung thư giai đoạn cuối. Tuy nhiên ngoài tác dụng
giảm đau, các thuốc này còn gây ngủ, gây khoan khoái và gây nghiện. Nhóm
thuốc này bao gồm [4]:
Opiat: là các dẫn xuất của thuốc phiện (opium), có tính chất giống như
morphin
Opioid: là các chất tổng hợp, bán tổng hợp, có tác dụng giống như morphin
hoặc gắn được vào các receptor của morphin.
Đại diện tiêu biểu của nhóm này là morphin. Các chế phẩm và thế phẩm
của morphin đều có cơ chế tác dụng giống morphin:
Cơ chế:
- Ở ngoại biên, ngoài việc làm tăng ngưỡng nhận cảm giác đau, morphin còn
ức chế trước sinap, làm giảm giải phóng chất dẫn truyền thần kinh (do đóng
kênh calci).
- ức chế vùng sau sinap của các neuron trung gian, làm mất tác dụng gây
14
- Dẫn chất pyrazolon: phenylbutazon, metamizol, noramidopyrin
- Dẫn chất indol: indomethacin, sulindac, etodolac
- Dẫn chất oxicam: piroxicam, tenoxicam, meloxicam
- Dẫn chất acid propionic: ibuprofen, naproxen, fenoprofen, ketoprofen
- Dẫn chất phenylacetic: diclofenac.
- Dẫn chất coxib: celecoxib, rofecoxib
- Dẫn chất acid fenamic: acid fenamic, acid meclofenamic.
- Dẫn chất aminophenol: acetaminophen.
- Dẫn chất acid flotafenic: flotafenin.
1.3. TỔNG QUAN VỂ CÂY THUỐC
1.3.1. Đặc điểm thực vật
Cây Huyết giác còn gọi là cây xó nhà, cây dứa dại, cây giáng ông, có tên
khoa học là: Dracaena cambodiana Pierre ex Gapnep. thuộc họ Huyết giác
(Dracaenaceae).
Huyết giác là một cây nhỏ, cao chừng l-l,5m có thể tói 2-3m, sống lâu
năm, thân phân nhiều nhánh. Lá hình lưỡi kiếm, trung bình dài 25-80cm, rộng
3-4cm có khi tới 6-7cm, lá cứng màu xanh tươi, mọc cách, không có cuống.
Lá rụng để lại trên thân một vết sẹo. Thường chỉ còn một bó lá tập trung trên
ngọn. Cụm hoa mọc thành chùm, dài tới lm, đường kính phía cuống tới 1,5-
2cm, trên có lá nhỏ dài 15cm, rộng 2cm, phân cành nhỏ dài tói 30cm. Hoa tụ
từng 2-4 hoa gần nhau. Hoa nhỏ, đường kính 7-8mm màu vàng lục nhạt. Quả
mọng, hình cầu đường kính chừng lcm khi khô có màu đen, hạt hình cầu [13].
15
Ánh 1.1: Cây Huyết giác
1.3.2. Đặc điểm vị thuốc
Vị thuốc Huyết giác là lõi gỗ, phần gốc thân phơi hay sấy khô của cây
Huyết giác. Lõi gỗ hình trụ, rỗng ở giữa hoặc đôi khi là những mảnh gỗ có
hình dạng và kích thước khác nhau, màu đỏ nâu [9].
Theo Đỗ Tất Lợi, Huyết giác là chất gỗ màu đỏ, do một loài sâu hay nấm
2.1.3.1. Nghiên cứu thành phần hoá học:
- Định tính sơ bộ các nhóm chất thường có trong thực vật bằng các phản ứng
hoá học [1].
2.13.2. Nghiên cứu tác dụng chống viêm, giảm đau:
a. Chuẩn bị chế phẩm thử:
- Dịch chiết nước: vị thuốc Huyết giác được thái nhỏ sấy ở 50-60° cho tới
khô. Lấy 200g cho vào nồi nhôm, thêm nước ngập dược liệu 2-3cm, đun
sôi nhỏ lửa trong lh, gạn lấy dịch, bã còn lại đem chiết tiếp với nước như
vậy 2 lần nữa. Gộp nước sắc lại, đem cô thành cao lỏng (2:1) hoặc (1:2).
- Dịch chiết cồn: cho 200g dược liệu vào soxhlet, đổ ngập dược liệu tới 2cm
bằng cồn 70°. Đun sôi trong khoảng lh, gạn lấy dịch chiết, bã còn lại đem
chiết tiếp với cồn 70° như vậy 2 lần nữa. Sau đó cất thu hồi dung môi và cô
cách thuỷ tới cắn. cắn được hoà tan trong gôm Adragan 5% để được dịch
18
I
chiết cồn (1:2).
b. Nghiên cứu tác dụng chống viêm cấp:
Tác dụng chống viêm cấp của dịch chiết Huyết giác được thử nghiệm trên
chuột cống trắng và trên hai mô hình:
- Mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin 1% theo Winter [21]:
Sau khi cho chuột uống thuốc, gây viêm bằng cách tiêm dưới da gan bàn
chân sau phải chuột chất gây viêm là carrageenin 1%. Đo thể tích bàn chân
chuột trước và sau khi gây viêm tại các thcd điểm lh, 3h, 5h. So sánh tác dụng
chống viêm của các lô thử vói lô chứng.
- Mô hình gây chấn thương thực nghiệm theo Riesterer (1970) [17,19]:
Sau khi cho chuột uống chế phẩm thử, gây chấn thương bằng cách thả một
quả nặng lOOg từ độ cao 50cm dọc theo ống nhựa đã được đặt sát bàn chân
phải của chuột. Đo thể tích bàn chân chuột trước và sau khi gây chấn thương
tại các thời điểm lh, 3h , 5h. So sánh tác dụng chống viêm của các lô thử với
lô chứng.
tiến hành các phản ứng định tính:
+ Phản ứng với thuốc thử DragendorfF
Cho vào ống nghiệm lml dịch acid, thêm vài giọt thuốc thử Dragendorff,
không thấy kết tủa màu da cam. Phản ứng âm tính.
+ Phản ứng với thuốc thử Mayer
Cho vào lml dịch acid ống nghiệm, thêm vào vài giọt thuốc thử Mayer,
không thấy tủa trắng. Phản ứng âm tính.
+ Phản ứng với thuốc thử Bouchardat.
20