Bài giảng hỗ trợ nhân viên công tác xã hội (quản lý stress) - Pdf 30


Trung tâm Nghiên cứu – Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
NĂNG ĐỘNG NHÓM

Chân thành cảm ơn Tổ chức Dịch vụ Gia đình và Cộng đồng
Quốc tế (CFSI) đã hỗ trợ Dự án “Nâng cao năng lực cho
NVCTXH cơ sở ở TP.HCM” ấn hành tập tài liệu này.

Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ
Dự án “Nâng cao năng lực cho Nhân viên Xã hội Cơ sở ở TP.HCM”
HỖ TRỢ NHÂN VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI

(QUẢN LÝ STRESS)
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 1 H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI
LỜI GIỚI THIỆU
Ngày nay, chúng ta thường nghe nói đến stress, một từ, phản ảnh nhận thức và phản
ứng của con người trước những tác động của môi trường bên ngoài và bên trong vào đời sống
của họ. Stress trở nên phổ biến ở mọi tầng lớp dân cư, bất kể giàu sang hay nghèo khó. Từ đó,
đặt ra cho giới nghiên cứu khoa học và những ngành nghề mang tính trợ giúp con người như
tâm lý học, tâm thần học, tham vấn, công tác xã hội… trách nhiệm tìm hiểu và đề ra những

vì nếu NVCTXH không tự chăm sóc bản thân, thì khó lòng hỗ trợ và chăm sóc cho người
khác. NVCTXH cần chủ động tiếp nhận các kiến thức để hiểu biết về stress, rèn luyện những
kỹ năng để ứng phó với stress, biến những yếu tố tiêu cực thành tích cực, biến điểm hạn chế
thành sức mạnh, để từ đó ứng phó đối mặt với stress có hiệu quả, góp phần nâng cao chất
lượng dịch vụ NVCTXH cung cấp cũng như chất lượng cuộc sống của bản thân Nhân
NVCTXH và gia đình họ.
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 2 H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI
MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU 1

ĐỀ CƯƠNG 3

I.

TÊN CHỦ ĐỀ 4

II.

MÔ TẢ CHỦ ĐỀ 4


KHÁI NIỆM CHUNG VỀ STRESS 8

II.

MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 10

III.

CÁC YẾU TỐ GÂY NÊN STRESS 12

IV.

CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS 13

V.

ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS 15

Bài 2: STRESS VÀ NHÂN VIÊN CTXH 18

I.

ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI 18

II.

STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC 18

Bài 3: CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VỚI STRESS 23


H
ỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý stress)
SDRC - CFSI

ĐỀ CƯƠNG
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 4 Đề cương – Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
I. TÊN CHỦ ĐỀ: “HỖ TRỢ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI” (Quản lý Stress)
II. MÔ TẢ CHỦ ĐỀ
Từ đặc điểm khó khăn và phức tạp của nghề công tác xã hội (CTXH) dẫn đến người
thực hành trong nghề này rất dễ bị căng thẳng. Nên chủ đề quản lý căng thẳng nhằm cung
cấp kiến thức, kỹ năng, để NVCTXH biết ứng phó với căng thẳng, biết tự chăm sóc bản
thân, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, vì nếu, NVCTXH không tự chăm sóc bản
thân, thì khó lòng hỗ trợ và chăm sóc cho người khác.
III. MỤC TIÊU GIẢNG DẠY
Sau khi kết thúc việc học tập chủ đề này trong 2 ngày, người học có thể:
-
Về kiến thức:


Môi trường
-
Nhận thức và hành vi
-
Hệ thống
2. Giới thiệu một số khái niệm liên quan
-
Căng thẳng
-
Trầm cảm
-
Cạn kiệt
-
Chấn thương thứ cấp (secondary traumatic stress)
-
Rối loạn do căng thẳng sau chấn thương (Post traumatic stress disorder-
PTSD)
3. Căng thẳng/yếu tố gây căng thẳng (stress/stressor)
[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 5 Đề cương – Hỗ Trợ Nhân Viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
4. Các dấu hiệu nhận biết về căng thẳng
5. Các ảnh hưởng của stress

-
Thiếu hệ thống giám sát, an sinh XH chưa đồng bộ
-
Thiếu hỗ trợ liên ngành
-
Thiếu tài nguyên
-
Nhiều nguy hiểm
-
Thủ tục hành chánh
-
Điều kiện nơi làm việc
-
Lây stress từ thân chủ
-
Stress của NVCTXH lây sang cho thân chủ
Bài 3: Stress và chiến lược ứng phó
1. Khái niệm chung về ứng phó
-
Stress và qui trình ứng phó với stress: qui trình ABC.
-
Khái niệm chung về: Ứng phó, Chiến lược, Lợi ích của ứng phó.
2. Tự nhận thức của NVCTXH (theo Shebib Bob 2003)
-
Hiểu biết bản thân
-
Chấp nhận bản thân với những đặc điểm trên
-
Nhận biết tổn thương của bản thân và tìm cách ứng phó
-


1. Xác nhận tình trạng căng thẳng hiện có
2. Yếu tố gây căng thẳng
3. Chiến lược giải quyết
VI. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Giáo dục chủ động: động não, thảo luận nhóm, sắm vai

VII. YÊU CẦU HỌC TẬP
Liên tục, đầy đủ
VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] CaregiverStress.com
[2] Geoff Brennan. The handbook of community mental health nursing, Chapter 19:
Working with family II, phsychosocial intervention, Phsychosocial intervention.
[3] Hans Seley (1974).Stress without Distress. Philadelphia: J. B. Lippincott Co.,
[4] Michael Ong (2011). Tài liệu Hội Thảo “Quản lý Stress trong công tác xã hội”.
WWO
[5] Jacobson, E (1974). Progressive Relaxation. Chicago: University of Chicago Press.
[6] Jonathan Smith. (2002). Stress Management – A Comprehensive Handbook of
Techniques and Strategies. NY: Springer.
[7] Perlita G. Vicente. STRESS MANAGEMENTSEMINAR
[8] NASW (2008). Stress at Work: How Do Social Workers cope?
[9] Shebib Bob (2003). Choices. N.Y: Allyn & Bacon
[10] Stephen Covey (1989). The Seven Habits of Highly Effective People
[11] Các website

Trang 8 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Bài 1:

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ STRESS

I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CĂNG THẲNG
1. Từ góc độ sinh học
-
Theo Cannon (1927), stress được hiểu là phản ứng “cài đặt sẵn” của cơ thể
trước những nhân tố gây hại nhằm huy động sức mạnh của cơ thể để ứng phó.
Ông mô tả phản ứng đối với nhân tố gây hại (sự đe dọa) là phản ứng “chống
hoặc chạy” (fight or flight). Cannon là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách
khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc
chạy” (fight or flight).
-
Stress - Một đáp ứng sinh học Cannon cho rằng khi một sinh vật đương đầu
với một sự đe dọa cho sự sống còn của mình, thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra
theo một mô hình đã được “cài đặt” sẵn.

Có sự gia tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp.

Máu được phân bố đến các cơ bắp.

Quá trình tiêu hóa bị ngưng lại.


Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 9 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Trong quan niệm này, stress không chỉ từ các sự kiện của môi trường mà cả
trong nhận thức - hành vi của cá nhân. Những đáp ứng mang tính nhận thức -
hành vi của cá nhân nhằm điều hòa hai yếu tố môi trường và đáp ứng. Cách
nhìn này, nhấn mạnh vào khía cạnh nhận thức - hành vi (thuộc về tâm lý) và
đã bổ sung thêm những thiếu sót của các mô hình stress “sinh học” và stress
“môi trường” đề cập ở trên.
4. Stress dưới góc độ hệ thống
Một cách tiếp cận stress mang tính tổng thể khi họ cho rằng, stress liên quan đến
nhiều thông số như sinh lý, nhận thức - cảm xúc, hành vi và môi trường. Quan điểm
này cho rằng, nhiều yếu tố gây nên stress và có nhiều cách thức đáp ứng của con
người với tình huống gây stress, chúng đều có ý nghĩa cả về sinh lý, tâm lý xã hội của
cá nhân (nhận thức, cảm xúc, hành vi).
Ví dụ minh họa:
Chị Ng. Th. H là cán bộ tham vấn tại trung tâm tư vấn X, hiện chị 50 tuổi, chị
đang gặp rất nhiều khó khăn khi có nhiều ca rất phức tạp, trong khi đó, ở gia đình
chồng chị lại hay rầy la về sự về muộn hay vắng mặt của chị ở nhà. Từ đó, anh
cũng hay về muộn và vắng mặt trong những bữa cơm. Cứ vậy, chị trở nên căng
thẳng và có những phản ứng như sau:
-
Về sinh học như:


Công việc bề bộn chưa giải quyết được

Gia đình có những phản ứng không thông cảm chia sẻ với chị

Chị cũng vào độ tuổi đang có thay đổi hooc-môn ở tuổi tiền mãn kinh
-
Những sự kiện đó đã gây nên trạng thái tâm lý bức xúc, nhận thức sai lệch về
chồng hay con, có hành vi phản ứng mang tính tiêu cực với người xung quanh
(chồng, con, thậm chí với thân chủ…). Những phản ứng đó cũng có thể khác ở
người NVCTXH, chị Ng. Th. B. có những suy nghĩ khác. Cũng có thể các sự
kiện đó gây cho chị B và có những phản ứng sinh học:
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 10 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Mất ngủ

Chán ăn
-
Nhưng nhận thức của chị lại là:

Mình đi vắng nhiều, chồng con không có bữa ăn ngon

thân chủ để thể hiện thấu hiểu, vừa phải đầu tư thời gian nhằm làm tốt công
việc chuyên môn, những bất đồng trong quan điểm khi làm công tác biện hộ
cho quyền lợi của thân chủ (ví dụ một trẻ em có HIV cần được tới trường…),
cùng với trách nhiệm công việc chăm sóc con cái, gia đình… Khiến họ luôn
trong tình trạng lo lắng về trách nhiệm công việc cơ quan, về trách nhiệm với
gia đình.
-
Đôi khi, con người có quá nhiều nghĩa vụ cần phải thực hiện, mà vượt quá khả
năng của mình, khi đó xuất hiện những lo lắng mà họ không kiểm soát được.
Những yêu cầu từ công việc, từ gia đình, từ thân chủ khiến cho NVCTXH trở
nên bị quá tải, cảm thấy mình không thể điều tiết được công việc. Mối quan
hệ và từ đó họ trở nên bị stress, cảm giác căng thẳng trong cuộc sống.
-
Không đạt được những giá trị cho cuộc sống của riêng cá nhân cũng là một
trong những lý do gây ra căng thẳng ở cá nhân. Ví dụ, những mâu thuẫn trong
giá trị của cá nhân, giá trị nghề nghiệp của CTXH cũng dễ làm cho NVCTXH
trở nên căng thẳng trong cuộc sống…
Nói chung: Căng thẳng liên quan đến cả hai yếu tố bên ngoài và nội lực.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 11 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Các yếu tố bên ngoài bao gồm:

các yếu tố gây stress đến khi họ bị kiệt sức, hết năng lượng cả về thể chất và
tinh thần. Các dấu hiệu có thể là: trầm cảm, hoài nghi, chán chường, mất đam
mê (Maslach, 1982).
-
Maslach và đồng nghiệp (1970) đã đưa ra công cụ đo luờng ảnh hưởng của sự
cạn kiệt ở 3 khía cạnh:

Sự kiệt quệ (exhaustion);

Sự hoài nghi/yếm thế (cynicism),

Và kém hiệu quả (inefficacy).
4. Chấn thương thứ cấp (STS)
-
Những cảm xúc và hành vi ứng phó với biến cố đau buồn của con người
được nhớ lại, hồi tưởng lại khi họ gặp trường hợp tương tự (nghe thấy, nhìn
thấy về những biến cố đó). Đây là một cảm xúc rất tự nhiên của con người,
mỗi khi họ gặp hay có cơ hội nghe lại về biến cố đó, họ sẽ có cảm giác căng
thẳng, họ sẽ nhớ lại những biến cố, những hình ảnh về biến cố luôn lặp đi
lặp lại trong họ.
-
Với NVCTXH khi giúp đỡ những thân chủ, những người có vấn đề tương tự
như vấn đề hay sự kiện mà NVCTXH đã trải qua, thì họ luôn có cảm giác đau
buồn, hình ảnh đau khổ được hồi tưởng lại. Những trạng thái này có thể
không mang tính bùng phát, mà nó cứ dai dẳng tích lũy lại, khiến cho đến một
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 12

Người ta có thể xem xét nguyên nhân của stress từ các góc độ sau đây:
- Yếu tố từ môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, giao thông, bụi, và sự
ô nhiễm.
- Yếu tố từ môi trường xã hội

Vấn đề quan hệ trong gia đình: con cái lấy vợ chồng, mâu thuẫn trong gia
đình, nuôi dạy con, mất mát của người thân, tài chính trong gia đình…

Quan hệ xã hội (ngoài gia đình, bạn bè, đồng nghiệp)
- Yếu tố từ công việc: vấn đề liên quan tới ngành nghề, công việc, áp lực thời gian
công việc, quan hệ cấp trên - dưới, môi trường làm việc không phù hợp, không
nghề nghiệp…
- Yếu tố từ bản thân cá nhân chủ thể:

Thể chất: Thay đổi cơ thể (tuổi về hưu, tuổi tiền mãn kinh, dậy thì…),
không đủ chất dinh dưỡng, ốm đau, bệnh tật…

Đặc điểm cá nhân: Tính cách cá nhân, cách suy nghĩ hay giải thích những
điều đã hoặc sẽ xảy ra. Thường đó là những suy nghĩ tiêu cực. Ví dụ: nếu
trượt đại học thì tương lai thật mù mịt; nếu không hoàn thành công việc thì
sẽ bị sa thải…
Hoặc cũng có người nhìn nhận các yếu tố nguồn gốc của stress như sau:
- Stress liên quan tới yếu tố thời gian: Nó được xem như sự căng thẳng xuất phát từ
tình huống mâu thuẫn giữa thời gian quá ít, mà khối lượng công việc, con người
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 13


cá nhân cũng tác động rất lớn tới khả năng, mức độ bị stress của cá nhân. Yếu tố
này cũng mang tính chủ quan và giải thích tại sao sự khác biệt về khả năng ứng
phó với stress khác nhau ở những người khác nhau.
IV. CÁC DẤU HIỆU NHẬN BIẾT STRESS
1. Các biểu hiện cơ thể
-
Mệt mỏi, cảm thấy suy kiệt về sức lực (kiệt sức).
-
Run chân tay
-
Ra mồ hôi
-
Nhức đầu do căng thẳng
-
Đau nửa đầu kéo dài
-
Đau cột sống dai dẳng
-
Đánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp
-
Thở ngắn hơi
-
Hay đau bụng, thậm chí tiêu chảy, táo bón
-
Đau bàng quang với nước tiểu trong, hay mót tiểu
-
Hay có cảm giác chán ăn, xuất hiện các triệu chứng về dạ dày.
-
Sút cân, rụng tóc
-


Âu lo thường xuyên

Tỏ ra luôn sợ hãi

Ủ rũ

Mất hứng thú với cuộc sống vợ chồng

Cảm giác tuyệt vọng

Cảm thấy tâm trạng trống rỗng, thấy cuộc sống không còn ý nghĩa và giá trị.
-
Trí nhớ, tư duy

Chậm chạp, lẫn lộn

Hay quên

Có khó khăn khi suy nghĩ vấn đề cách lôgíc

Khó thu nạp thông tin

Hay nhớ lại những sự kiện gây khó khăn

Khó tập trung vào công việc

Khó đưa ra quyết định ngay cả quyết định đơn giản

Luôn cảm thấy tự ti, tự trách mình, mất niềm tin vào tương lai

chất gây nghiện lúc đầu làm giảm lo âu và trầm cảm, nhưng về sau bản thân chúng
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 15 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
lại là các chất gây lo âu và đối tượng bắt buộc phải tăng lượng sử dụng, do đó ảnh
hưởng tiêu cực đến mối quan hệ xã hội.
V. ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS
1. Ảnh hưởng tích cực
-
Tăng cường hoạt động của cơ bắp, con tim và não giúp ta thêm năng lượng, và
sự tập trung cao độ để hoàn thành tốt công việc, có lợi cho hệ miễn dịch.
Stress có thể giúp cơ thể trở nên mạnh mẽ, sôi nổi và thậm chí là khỏe mạnh
hơn, từ đó giúp tăng cường hoạt động cơ bắp, trái tim, não giúp tăng thêm
năng lượng, tăng sự tập trung để hoàn thành tốt công việc được giao.
-
Dấu hiệu của stress có thể là những cảnh báo nhằm tránh nguy hiểm đang rình
rập bởi stress giúp con người tỉnh táo hơn và cảnh giác hơn.
-
Stress rèn luyện khả năng bền bỉ, tăng cường ý chí nghị lực của cá nhân. Stress
cũng giúp tăng cường sự sáng tạo của cá nhân. Trong tình huống căng thẳng
những thách thức sẽ giúp cho chúng ta suy nghĩ, tập trung, sẵn sàng đối phó
vượt qua thách thức để thành công.
-

i
i
ê
ê
u
uc
c


c
c-
Các chuyên gia đã cho thấy, mắt xích giữa stress và những tác động không tốt
lên cơ thể con người. Cơ thể trải qua ba giai đoạn phản ứng khi gặp stress. Đầu
tiên, "hệ thống báo nguy" hoạt động khi cơ thể chuẩn bị "chống lại hoặc lẩn
trốn". Kế tiếp, cơ thể sẽ tạo sức đề kháng chống lại stress theo từng giai đoạn,
nó bị ép buộc phải theo kịp những đòi hỏi mà stress tạo ra, kéo theo là thiếu
ngủ. Tình trạng này kéo dài và cơ thể sẽ chạm đến mức thứ ba, đó là kiệt sức.
Tất cả tự thích nghi với stress nhưng chỉ tại một thời điểm nào đó, cơ thể sẽ
bảo rằng, đã đến lúc phải cắt bớt hoặc nó sẽ dẫn đến suy nhược cơ thể. Mức độ
ảnh hưởng tiêu cực phụ thuộc vào bản tính cá nhân của mỗi người.
-
Stress có thể ảnh hưởng đến bản thân họ về mặt thể chất, tinh thần/cảm xúc,
đến các quan hệ xã hội, cũng như công việc, lao động học tập của họ. Có thể
được phân tích chi tiết sau đây:

Cơ bắp: những cơn đau bất chợt ở cổ và vai, nhức cơ và đau thắt lưng cùng
với những cơn co thắt cơ bắp và co giật thần kinh là hậu quả của stress.

Tim: các bệnh về tim mạch và tăng huyết áp thường được cho là các bệnh
liên quan đến stress. Khi bị stress, cơ thể thường giải phóng một lượng lớn
hormone cortisol, góp phần làm xuất hiện bệnh cao huyết áp, béo phì và
tiểu đường. Ngoài ra, stress còn là nguyên nhân khiến tinh thần ủ rũ, lười
vận động.

Phổi: stress ở mức độ cao ảnh hưởng trầm trọng đến tình trạng hen suyễn.
Ngoài chất cortisol, stress còn kích thích tuyến thượng thận giải phóng
hormone adrenaline. Khi lượng hormone này tăng cao có tác động làm cho
hơi thở trở nên gấp gáp, không sâu. Điều này giải thích tại sao các nhà tâm
lý khuyên mọi người nên giữ bình tĩnh mỗi khi gặp căng thẳng, hay lo âu
bằng cách cố gắng hít thở thật sâu và đều đặn.

Mắt: dễ dàng nhận thấy mệt mỏi, căng thẳng luôn là nguyên nhân hàng đầu
dẫn đến chứng mất ngủ. Khi mất ngủ, bên cạnh một số biểu hiện thường
thấy như thần sắc kém tươi tỉnh, cơ thể suy nhược… thì tình trạng mắt mệt
mỏi, thâm quầng hoặc sưng đỏ cũng rất dễ xảy ra. Mất ngủ lâu ngày, thậm
chí còn có thể làm giảm thị lực cũng như gây thêm nhiều căn bệnh nguy
hiểm khác về mắt.

Bộ máy tiêu hóa: stress có thể làm cho nặng thêm hoặc gây ra những bệnh
đường tiêu hóa như viêm dạ dày, đau bao tử, viêm loét tá tràng, viêm loét
thành ruột kết. Khi bị stress, những loại hormone có tác dụng tăng cường
lưu lượng máu đến các cơ trên cơ thể sẽ thuyên giảm rõ rệt, hậu quả là sức
vận động cũng như sự co bóp của chúng bị giới hạn hoặc yếu đi, trong đó
có dạ dày, dẫn đến tình trạng khó tiêu, đầy hơi và chướng bụng.


-
Về tinh thần/cảm xúc

Gây xáo trộn cuộc sống hàng ngày: ảnh hưởng stress làm cho con người
không còn chủ động trong hoạt động hằng ngày. Những nề nếp trong cuộc
sống được thực hiện ổn định trước đây, sau khi bị stress bị xáo trộn rất là
nhiều, thậm chí có trường hợp bỏ mặc tới đâu hay tới đó.

Cảm xúc buồn rầu, chán nản không muốn làm việc: khi con người bị mắc
một chứng bệnh, ví dụ bệnh đau bao tử, bệnh tác động lên hệ sống thần
kinh làm cho chán nản, không có hưng phấn để làm việc. Stress cũng tác
động như vậy thậm chí còn tác động mạnh hơn, gây ra cảm xúc buồn rầu,
chán nản, không muốn tham gia vào bất kì hoạt động nào kể cả công ăn
việc làm ổn định.

Trí nhớ và sự tập trung kém: Sau một thời gian, stress sẽ làm cho sự tập
trung giảm dần. Một phần não bộ chịu trách nhiệm về bộ nhớ cũng già cỗi
nhanh chóng khi chịu đựng stress quá lâu.

Tăng nguy cơ tự sát: Khi bị stress nặng, bản thân con người không còn tự
chủ mình nữa, một số người suy nghĩ vu vơ trong đó có quyết định tìm đến
cái chết để không còn phải đối phó sự tác động nghiệt ngã của stress.
b. Ảnh hưởng về quan hệ xã hội
-
Chất lượng tư duy kém khi bị stress. Nếu không có biện pháp chế ngự kịp thời,
stress sẽ từng bước làm giảm khả năng tư duy, trí nhớ, khả năng tự kiểm soát,
phán đoán… của người bệnh.
-
Khi bị stress kéo dài con người có thể dễ mất đi niềm tin trong cuộc sống, mất
nghị lực và ý chí vươn lên.

Trang 18 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI

Bài 2:

STRESS VÀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘII. ĐẶC ĐIỂM NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Nghề CTXH là một nghề mới ở nước ta, do đó chưa được xã hội

biết đến nhiều. Tuy
nhiên, nó có nền móng khoa học, có sứ mạng, quan điểm, giá trị, có nguyên tắc làm việc,
phương pháp làm việc, tiến trình giải quyết vấn đề, … và áp dụng vào nhiều lĩnh vực
khác nhau, để giải quyết các vấn đề xã hội.
Nhóm đối tượng của nghề CTXH là khá đa dạng như những người dễ bị tổn thương,
những người nghèo, những người đứng bên lề xã hội… Người thực thi nghề CTXH phải
tuân thủ Quy điều đạo đức nghề nghiệp và các nguyên tắc chuyên môn. NVCTXH là
những người trong các nghề giúp đỡ. Đây là một trong những đặc điểm nổi bật của nghề
CTXH.
Do tính chất đặc điểm của nghề CTXH nên NVCTXH làm việc với nhiều thân chủ có
rất nhiều vấn đề khác nhau. Quá trình tiếp cận làm việc với thân chủ khiến NVCTXH gặp
phải những căng thẳng trong công việc, cộng thêm những yếu tố khác tác động nên
NVCTXH dễ bị stress. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu cụ thể nhưng nhiều công trình
nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vấn đề này.
II. STRESS CỦA NHÂN VIÊN CTXH TẠI MỘT SỐ NƯỚC

Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
Lý do bị stress Lĩnh vực hoạt động Tỷ lệ bị stress (%)

Lương bổng không cân
xứng
Sức khỏe tâm thần 37
Sức khỏe 16
An sinh trẻ em và Gia đình 9
Đền bù không thỏa đáng Sức khỏe tâm thần 44
Sức khỏe 11
An sinh trẻ em và Gia đình 10
Thân chủ khó
khăn/thách thức
Sức khỏe tâm thần 40
Sức khỏe 13
An sinh trẻ em và Gia đình 11
2. Việt Nam
Chưa có cuộc khảo sát chính thức về stress trong giới NVCTXH, tuy nhiên, khi
gặp gỡ ở các buổi họp mặt hay hội thảo mọi người đều cho rằng áp lực công việc
quá lớn. Trong một cuộc phỏng vấn nhanh nhóm NVCTXH (12 người)
2
thuộc
Câu lạc bộ CTXH chuyên nghiệp TP. Hồ Chí Minh gần đây (10/6/2011) thì cả 12
người đều cho rằng mình bị stress (ở các cấp độ khác nhau).
a. Nội dung tính chất công việc rất khó khăn và phức tạp
-
Bị áp lực công việc: Công việc của NVCTXH chủ yếu là giải quyết vấn đề
cho thân chủ, như đã đề cập ở trên nghề CTXH là nghề giúp đỡ (helping

Trang 20 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
người cao tuổi, người khuyết tật… Do đó, có trường hợp NVCTXH gặp rủi ro
nghề nghiệp, thí dụ bệnh nhân tâm thần tấn công, người có H đe dọa…
-
Kỳ vọng về sự thay đổi nơi thân chủ: Một trong những áp lực đối với
NVCTXH là khi giúp đỡ thân chủ là sự mong mỏi thân chủ của mình mau
thay đổi. Do kỳ vọng đặt vào thân chủ lớn lao như vậy nên khi thấy thân chủ
chậm thay đổi, hoặc không thay đổi, tất yếu NVCTXH bắt đầu thất vọng về
thân chủ, về bản thân mình, từ từ dẫn đến bị áp lực.
-
Áp lực tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề của thân chủ: Thông thường
NVCTXH có khả năng tìm ra giải pháp cho vấn đề của thân chủ trên cơ sở
nhận diện vấn đề, phân tích đánh giá chẩn đoán vấn đề, từ đó cùng thân chủ
đưa ra giải pháp. Nhưng cũng có trường hợp thân chủ thiếu sự hợp tác, tham
gia, nên áp lực tìm ra giải pháp giúp thân chủ giải quyết vấn đề tăng sức ép lên
NVCTXH. Họ lo lắng, băn khoăn nên dễ nóng nảy với người xung quanh kể
cả thân chủ.
-
Vấn đề của thân chủ quá khó, vượt quá khả năng của NVCTXH: không ít
trường hợp mà NVCTXH gặp phải là vấn đề của thân chủ phức tạp, nan giải,
vượt khỏi tầm giải quyết của mình. Điều đó, cũng nên được nhìn nhận là bình
thường, vì NVCTXH cũng là con người có những hạn chế, không thể giải
quyết hết mọi vấn đề của xã hội. Nhưng NVCTXH có ý thức trách nhiệm
nghề nghiệp cao, có sự thôi thúc của đạo đức nghề nghiệp thì họ lại bị áp lực,
bị stress. Họ cảm thấy bị tự ái nghề nghiệp nên dẫn đến những suy nghĩ, dằn

Thiếu hệ thống giám sát, hệ thống an sinh xã hội chưa đồng bộ: Một môi
trường tác nghiệp lý tưởng trong nghề CTXH là phải có đội ngũ NVCTXH
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 21 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
hội đồng bộ, có hệ thống kiểm huấn/giám sát đầy đủ, giúp nhân viên các cấp
hoàn thành công việc và tăng năng lực. Môi trường làm việc của NVCTXH
hiện nay ở nước ta cần cải thiện và tăng cường tính chuyên nghiệp khiến
NVCTXH cảm thấy kiến thức chuyên môn đã học không hữu ích vì không áp
dụng. Họ rơi vào tình trạng hoang mang, không còn tin vào năng lực của mình
nữa và ngày càng thui chột kỹ năng, cảm thấy mình vô dụng. Trong khi đó hệ
thống an sinh xã hội chưa đồng bộ, thiếu thốn, tính đáp ứng của hệ thống chưa
cao, chưa lấy con người làm trọng tâm của sự giúp đỡ nên ảnh hưởng đến
thành quả giải quyết vấn đề xã hội của thân chủ, làm NVCTXH cảm thấy
mình lạc lõng thiếu sự hỗ trợ và hợp tác.
-
Thiếu sự hỗ trợ liên ngành và bộ máy thực thi chính sách: Tính chất công
việc của NVCTXH phần lớn tập trung vận động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ
thân chủ giải quyết vấn đề theo nguyên tắc “tự giúp” (self-help). Do đó, việc
chuyển tuyến/chuyển gởi là việc làm thường xuyên, nhưng để làm được việc
này đòi hỏi cần có sự hợp tác và phối hợp từ các ngành liên quan và các đơn vị
trong bộ máy thực thi chính sách xã hội. Sự hợp tác liên ngành giữa CTXH và
các ngành cần được đặt ra từ lâu, như tâm lý học, tham vấn, xã hội học, tâm

đảo, miền núi… cho nên gặp nhiều khó khăn trong khi triển khai công việc.
Tuy rằng khi vào nghề ai cũng biết và chấp nhận sự gian khổ này nhưng thực
tế không ít người than thở và lo âu. Có người làm ở các cơ sở giáo dục dạy
nghề cho thanh niên nghiện ma túy đóng ở địa bàn miền núi, xa cách khu dân
cư, thiếu thốn đủ bề. Họ cố gắng hòa nhập nhưng vẫn có người bị stress phải
bỏ việc hoặc xin chuyển qua phần việc khác. NVCTXH làm việc với người có
H giai đoạn cuối, hay người có vấn đề sức khỏe tâm thần gặp phải áp lực từ
tâm lý lo âu, sợ hãi.
T[Type text]

Dự án “Nâng cao năng lực cho NVXH cơ sở ở Tp.HCM” - tháng 7/2012

Trang 22 Tài liệu phát - Hỗ Trợ Nhân viên CTXH (Quản lý sự căng thẳng)

SDRC - CFSI
-
Bị lây lan stress từ thân chủ: NVCTXH không xử lý tốt cảm xúc của mình dễ
bị lây lan stress từ thân chủ. Từ việc gắn bó với thân chủ trong tiến trình giải
quyết vấn đề, trong đó NVCTXH thấu cảm với cảnh ngộ thân chủ nên hóa
thân mình vào thân chủ lúc nào không hay. Điều này tốt cho việc vun đắp mối
quan hệ, nhưng nếu không phân biệt ranh giới giữa công việc cần làm và cảm
xúc bản thân, thì NVCTXH dễ bị vấn đề của thân chủ và bản thân thân chủ lây
lan stress cho mình.
-
Ngược lại có khi NVCTXH bị stress lại làm lây lan stress cho thân chủ của
mình: NVCTXH cần được cảnh báo là stress của mình sẽ tác động lên thân
chủ. Do đó, khi gặp stress và chịu đựng stress trong lúc làm việc với thân chủ

thoát khỏi, hoặc làm quen với hoàn cảnh và bằng cách đó cải hoá được những tác
động gây stress của hoàn cảnh. Như vậy, nhiệm vụ chính yếu của “ứng phó” là cung
cấp và làm gia tăng độ bền bỉ về sức khỏe thể chất, tinh thần và về các quan hệ xã
hội của cá nhân để họ có thể đối mặt với những vấn đề trong cuộc sống.
2. Khái niệm chiến lược
Chiến lược là một từ có nguồn gốc quân sự, đề cập đến một kế hoạch hành động
được thiết kế nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể
4
. Khi nói đến chiến lược là nói
đến sự chủ động, có dự tính, sắp xếp, tính toán và đoán trước diễn biến cũng như
kết quả sẽ đạt được. Như vậy, chiến lược ứng phó với stress là một kế họach hành
động của cá nhân nhằm chủ động chế ngự, đương đầu với những vấn đề, những
hoàn cảnh gây stress.
3. Ích lợi của việc ứng phó với stress
Việc ứng phó với stress mang lại rất nhiều ích lợi cho NVCTXH như: làm giảm
thiểu tối đa những tác động tiêu cực, có hại của stress đến cuộc sống và công việc
của NVCTXH; giúp cá nhân làm chủ và điều khiển những phản ứng của bản thân
theo hướng thích nghi; tạo nên cuộc sống quân bình thể chất, tâm lý, xã hội; đem lại
hiệu quả cho công việc, niềm vui cho cuộc sống.
II. TỰ NHẬN THỨC CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Tự nhận thức là một trong những thuộc tính của trí tuệ cảm xúc (Emotional
Intelligence). Nó là cách thức chúng ta khám phá tính cách cá nhân, hệ thống giá trị, niềm
tin, khuynh hướng tự nhiên của mình
5
. Thông thường, tự nhận thức là khởi điểm cho việc
làm chủ bản thân và tạo ra những gì ta muốn.
Vì không ai giống ai trong cách tìm hiểu, và tổng hợp thông tin, phản ứng và tương
tác với sự vật, sự việc nên mọi người thỉnh thoảng cần dành thời gian nhìn lại để có được
một cái nhìn sâu sắc hơn về bản thân. Khi hiểu biết tốt hơn về bản thân mình, chúng ta
mới có thể làm chủ cảm xúc, hành vi, tích cách của mình mà ứng xử, hành động phù hợp

-
Chấp nhận bản thân với những đặc điểm nêu trên.
-
Nhận biết những tổn thương đặc biệt của bản thân và tìm cách ứng phó với
chúng. Thí dụ: Thể lý yếu ớt, ứng phó bằng cách tập thể dục thể thao, quan
tâm chế độ dinh dưỡng. Dễ xúc động ứng phó bằng cách đối diện với nhiều
tình huống gây xúc động để rèn luyện cơ chế kềm chế xúc động.
-
Biết được khi nào tôi đang đồng hoá/ quá thấu cảm với thân chủ. Thí dụ: Luôn
kiểm soát lời nói, cử chỉ hành vi thể hiện với thân chủ, để biết được những
biểu hiện quá mức thân thiện hoặc luôn nhắc nhớ lại những quy định của nghề.
-
Biết những gì tôi có thể làm và chấp nhận những gì tôi không thể làm.
Một số cách nhận diện và rèn luyện khả năng tự nhận thức:
-
Nhận diện và gọi tên những cảm xúc và hành vi mà bản thân NVCTXH có. Ví
dụ: NVCTXH biết là mình đang nóng giận, không công bằng… với thân chủ
thông qua những suy nghĩ, những phản ứng bằng lời hoặc không lời của bản
thân mình hay của thân chủ, từ đó NVCTXH kịp thời điều chỉnh hành vi của
mình.
-
Nhận biết và chấp nhận những lĩnh vực dễ bị tổn thương và những vấn đề mà
NVCTXH không giải quyết được. Thí dụ: Nếu bản thân đã có kinh nghiệm
chưa nguôi về một người thân đam mê cờ bạc thì không nên nhận những thân
chủ có vấn đề này.
-
Hiểu biết những giá trị của bản thân và ảnh hưởng của những giá trị đó trong
mối quan hệ tham vấn. Thí dụ: Nếu NVCTXH đánh giá thấp và gay gắt hành
vi bạo hành phụ nữ thì khi tham vấn thân chủ là nam giới bạo hành cần ý thức,
không để những giá trị này ảnh hưởng đến khả năng lắng nghe, và cách ứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status