TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 37
NIÊN KHÓA 2011 - 2015
Đề tài:
HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT
THU HỒI - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
TS. PHAN TRUNG HIỀN
Bộ môn Luật Hành chính
Sinh viên thực hiện:
TRỊNH DƯƠNG TÂN
MSSV: 5115751
Lớp: Luật Thương mại 2 – K37
Cần Thơ, năm 2014
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- Lý luận và thực tiễn
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
----------
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
3. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 2
5. Bố cục của đề tài ................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM
CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT THU HỒI .......................................................................... 4
1.1 Khái niệm và vai trò của việc hỗ trợ tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi
đất................................................................................................................................ 4
1.1.1 Khái niệm về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi .................... 4
1.1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất và thu hồi đất nông nghiệp ........................... 4
1.1.1.2 Khái niệm hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất ........................................... 7
1.1.1.3 Khái niệm tạo việc làm cho người có đất bị thu thu hồi ....................... 8
1.1.1.4 Phân biệt giữa hỗ trợ tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất với một
số hỗ trợ, tạo việc làm khác ................................................................................. 9
1.1.2 Vai trò của việc hỗ trợ và tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất ............ 10
1.1.2.1 Đảm bảo lợi ích công cộng ................................................................... 10
1.1.2.2 Giải quyết sự hài hòa giữ lợi ít Nhà nước và lợi ích của người có đất
bị thu hồi ............................................................................................................ 10
1.2 Tác động của thu hồi đất đến việc hỗ trợ và tạo việc làm cho người có đất
bị thu hồi ................................................................................................................... 12
1.2.1 Tác động tích cực .......................................................................................... 12
1.2.2 Tác động tiêu cực .......................................................................................... 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề hỗ trợ và tạo việc làm cho
người có đất bị thu hồi ............................................................................................ 15
1.3.1 Điều kiện tự nhiên ......................................................................................... 15
1.3.2 Cơ chế chính sách kinh tế- xã hội ................................................................. 16
1.4 Pháp luật của một số quốc gia trong vấn đề thu hồi đất và hỗ trợ tạo việc
làm – Kinh nghiệm đối với Việt Nam .................................................................... 16
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM CHO
2.4.3 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ...................................................... 34
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ ĐẤT THU HỒI ..................... 37
3.1 Đánh giá quy định pháp luật khi áp dụng về hỗ trợ tạo việc làm cho
người có đất thu hồi ................................................................................................. 37
3.1.1 Hiệu quả của pháp luật trong quá trình hỗ trợ tạo việc làm cho người có
đất bị thu hồi .......................................................................................................... 37
3.1.2 Những tồn tại của pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất bị
thu
hồi…………………………………………………………………………………
40
3.2 Thực trạng việc hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi ở một số địa
phương ...................................................................................................................... 42
3.2.1 Thực trạng việc hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi địa tại địa
bàn thành thị…………………………………………………………………………………...42
3.2.2 Thực trạng việc hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi tại một số
địa
phương
ở
nông
thôn………………………………………………………………………43
3.3 Nguyên nhân của thực trạng trong hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất
thu hồi ....................................................................................................................... 45
3.3.1 Nguyên nhân từ chính quyền địa phương ..................................................... 45
người dân không có việc làm hoặc việc làm “bấp bênh” kéo theo nhiều hệ lụy xã
hội. Lần đầu tiên, Hiến pháp2 nước ta đã quy định về vấn đề về người sử dụng đất
sau khi thu hồi đất, kế thừa nguyên tắc hiến định Luật Đất đai năm 2013 quy định
chặt chẽ về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trong đó có hỗ trợ
tạo việc làm3.
Từ những phân tích trên và thực tiễn về hỗ trợ tạo việc làm người viết chọn đề
tài: “Hỗ trợ việc làm cho người có đất thu hồi – Lý luận và thực tiễn” để làm làm
đề tài tốt nghiệp Cử nhân Luật của mình. Nhằm tìm hiểu rỏ hơn về các chính sách,
pháp luật Nhà nước nói chung, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật trong hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Người viết chọn đề tài: “Hỗ trợ việc làm cho người có đất thu hồi – Lý luận
và thực tiễn” trước tiên tìm hiểu và nghiên cứu những quy định pháp luật của Nhà
nước ta về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi. Từ đó đánh giá các quy
định dựa trên thực tiễn một số địa phương áp dụng, tìm hiểu những khó khăn,
1
TS. Phan Trung Hiền (2008), Pháp luật về đền bù và giải phóng mặt bằng ở Việt Nam – Cân bằng giữa lợi
ích Nhà nước và lợi ích người dân, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tr. 2
2
Hiến pháp năm 2013 của nước CHXHCN Việt Nam
3
Cụm từ “Tạo việc làm” trong đề tài nghiên cứu này bao gồm: chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm
khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP hướng dẩn cụ thể Điều 84 Luật Đất đai
năm 2013.
GVHD: Phan Trung Hiền
1
tổng thể các vấn đề; phương pháp phân tích luật viết; phương pháp so sánh để đánh
giá các quy định của pháp luật hiện hành, phương pháp thu thập và phân tích số liệu
thực tế từ đó rút ra kết luận, góp phần hoàn thiện các quy định cũng như pháp luật
nói chung.
5. Bố cục của đề tài
4
Khoản 2, Điều 83, Luật Đất đai năm 2013
GVHD: Phan Trung Hiền
2
SVTH: Trịnh Dương Tân
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- Lý luận và thực tiễn
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu
hồi
Trong chương này người viết tập chung làm rõ và phân biệt các nội hàm khái
niệm liên quan trong hỗ trợ tạo việc làm, phân tích vai trò, tác động và các yếu tố
ảnh hưởng đến quá trình thu hồi đất và tạo việc làm cho người có đất thu hồi. Bên
cạnh đó người viết sẽ khái quát pháp luật và kinh nghiệm của một số quốc gia trong
vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi.
Chương 2. Quy định pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi
Trong chương này người viết sẽ trình bày khái quát lược sử hình thành và phát
triển của pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi, phân tích các
quy định của pháp luật như: phạm vi, điều kiện, phương thức… được hỗ trợ tạo việc
làm cho người có đất thu hồi.
vận dụng thống nhất5.
1.1.1 Khái niệm về hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất bị thu hồi
1.1.1.1 Khái niệm về thu hồi đất và thu hồi đất nông nghiệp
- Khái niệm thu hồi đất:
Xuất phát từ nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Hiến pháp năm
2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa (CHXHCN) Việt Nam tại Điều 53 quy
định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển,
vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là
tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lý”. Theo nguyên tắc trên thì người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền sử
dụng đất, còn quyền chiếm hữu và định đoạt đất thì chủ thể Nhà nước quyết định6.
Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) tại Khoản 11 Điều 3 đưa ra
khái niệm thu hồi đất như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định
thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc
thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”. Trước tiên, ta có
thể thấy một số đặc trưng pháp lý qua khái niệm trên như sau:
5
Phan Trung Hiền (2013), Về nội hàm của một số khái niệm trong pháp luật đất đai, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, Số 20 (252), tr. 31
6
Theo Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2005 một chủ thể được xem là sở hữu một tài sản khi có đủ ba quyền
năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
GVHD: Phan Trung Hiền
4
SVTH: Trịnh Dương Tân
khái niệm đất nông nghiệp như sau: “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu
để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản
7
Xem thêm Khoản 5, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003
Xem dự thảo Luật Đất đai năm 2013:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=528&TabIn
dex=1 [truy cập ngày 11/07/2014]
9
Từ Luật Đất đai năm 2003 đến Luật Đất đai năm 2013 đã không còn khái niệm “đất nông nghiệp”. Xem
khoản 1, Điều 10, Luật Đất đai năm 2013
8
GVHD: Phan Trung Hiền
5
SVTH: Trịnh Dương Tân
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp”. Thu hồi đất nông nghiệp được Nhà
nước ta đề cập đến những năm 90 thế kỷ trước nhằm phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển hạ tầng, đô thị… đất nước.
Trước hết, đất nông nghiệp chủ yếu được canh tác bởi người nông dân chiếm
khoảng 70% cơ cấu lao động, họ sinh sống và “làm ăn” trên mảnh đất đó ổn định và
lâu dài. Về quan hệ khi thu hồi đất nông nghiệp có ba chủ thể: Nhà nước- cơ quan
quyền lực có thẩm quyền thu hồi đất, người sử dụng đất nông nghiệp và các nhà đầu
tư- có nhu cầu về đất đai để xây dựng, phát triển công nghiệp, hạ tầng, đô thị…
Thứ hai, mục đích thu hồi đất nông nghiệp về cơ bản nhằm chuyển đổi mục
GVHD: Phan Trung Hiền
6
SVTH: Trịnh Dương Tân
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
1.1.1.2 Khái niệm hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ (còn gọi là hộ trợ12) theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Hỗ trợ: Giúp
thêm, góp thêm vào"13. Hỗ trợ được hiểu là một chính sách trợ cấp ngoài việc bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Tại Luật Đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất như sau: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người
có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”14, khái niệm trên đã khắc
phục cơ bản những vướng mắc của Luật Đất đai năm 200315, vì bản chất của hỗ trợ
là chính sách nên ngoài những hỗ trợ được đề cập thì tùy mỗi điều kiện, cơ chế
chính sách của từng địa phương có những hỗ trợ riêng16.
Sau khi thu hồi đất người sử dụng đất được bồi thường giá trị sử dụng đất
tương xứng, bên cạnh đó Nhà nước có chính sách chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc
làm mới, tổ chức chổ ở mới (tái định cư) nhằm ổn định cuộc sống, việc làm do thu
hồi đất. Khác với bồi thường - có bản chất “tương xứng”, hỗ trợ có bản chất “giúp
đỡ” nên mang nặng tính “chính sách”17. Tuy nhiên, pháp luật nước ta trong một số
trường hợp chưa phân biệt hai khái niệm này. Ví dụ điển hình là hỗ trợ về giá đất
nông nghiệp đối với đất nông nghiệp là đất vườn ao, đất nông nghiệp trong khu dân
cư và đất nông nghiệp tiếp giáp với khu dân cư. Bản chất là bồi thường về đất,
nhưng do pháp luật quy định là giá đất nông nghiệp định theo phương pháp thu
nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm khoản gọi là
“hỗ trợ”18.
7
SVTH: Trịnh Dương Tân
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
liên quan đến đất - tư liệu sản xuất. Như đã phân tích trên bản chất của hỗ trợ mang
nặng chính sách, dễ dẫn đến hỗ trợ nghề nghiệp bằng một khoản tiền qua loa, sau đó
không quan tâm đến việc người được chuyển đổi nghề nghiệp có việc làm hay
không.
1.1.1.3 Khái niệm tạo việc làm cho người có đất bị thu thu hồi
Tạo việc làm trước hết được hiểu là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư
liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội
khác để kết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động, hay nói cách khác tạo việc làm
được hiểu là một cơ chế tạo nhu cầu công việc nhất định hoặc tạo ra cơ hội nghề
nghiệp cho người lao động. Như đã phân tích trên vấn đề việc làm cho người dân
khi thu hồi đất là một chính sách do Nhà nước tạo ra khi chuẩn bị thu hồi đất (có dự
án) hoặc sau khi thu hồi đất (chuẩn bị làm dự án), có thể học nghề, ưu tiên lao động
trong các khu công nghiệp, xuất khẩu lao động… nhưng phải thỏa mãn là người bị
thu hồi đất có thể tiếp cận được.
Vì vậy: Tạo việc làm cho nông dân khi thu hồi đất là những hoạt động kinh tế
- xã hội do Nhà nước tạo ra sau khi thu hồi đất cho người nông dân có thể tiếp cận
và sử dụng chúng để tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp cho bản thân và gia đình
Trước khi thu hồi đất, người nông dân chủ yếu làm nông nghiệp ( trồng lúa,
chăn nuôi, trồng trọt…) chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động của cả nước. Mặc
dù tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra ở nước ta, nhưng cho đến
nay vẫn còn 70,2% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu vực nông thôn, trong
đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn 81,2% 19, năng
xuất lao động thấp lại phải phụ thuộc vào tự nhiên. Bên cạnh đó, về thời gian lao
động cũng tùy thuộc vào mùa vụ, có khi rãnh rỗi, khi lại bận rộn.
chính sách đặc thù của Nhà nước ta thể hiện một điểm khác biệt so với các hỗ trợ
tạo việc làm khác như sau:
Về chủ thể, người bị thu hồi đất thuộc trường hợp được Nhà nước hỗ trợ tạo
việc làm thì chỉ giới hạn là những người thuộc độ tuổi lao động trong hộ gia đình,
hay nói cách khác chỉ khi thu hồi đất thì người bị thu hồi đất mới được xem chủ thể
của hỗ trợ tạo việc làm. Còn các trường hợp hỗ trợ tạo việc làm khác thì thường là
các đối tượng rộng hơn người bị thu hồi đất, các đối tượng chính sách, ví dụ Quyết
định 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến
năm 2020”.
Về điều kiện, thì người bị thu hồi đất do sự kiện phát sinh là Nhà nước thu hồi
đất nên Nhà nước có chính sách đào tạo nghề cho họ ổn định cuộc sống - chuyển
đổi nghề nghiệp, còn cơ bản họ không mất việc làm. Còn các trường hợp còn lại thì
do một chính sách Nhà nước nhằm giải quyết việc làm khi cơ cấu lao động thấp hay
có thể các đối tượng họ bị tàn tật, quân nhân xuất ngũ… được hỗ trợ tạo việc làm.
Về quy mô, tạo việc làm cho người bị thu hồi đất thường được thực hiện ở một
địa bàn nhất định (vùng có đất bị thu hồi), nhỏ hẹp, không thường xuyên. Còn các
trường hợp hỗ trợ việc làm khác thì ngược lại.
1.1.2 Vai trò của việc hỗ trợ và tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.2.1 Đảm bảo lợi ích công cộng
Khi thu hồi đất ngoài bồi thường người sử dụng đất còn được Nhà nước hỗ trợ,
tái định cư ổn định cuộc sống. Chính sách hỗ trợ tạo việc làm và ổn định chỗ ở cho
người bị thu hồi đất được Nhà nước ta quan tâm từ Luật Đất đai năm 2003, tầm
quan trọng và vai của việc tạo việc làm cho người bị thu hồi đất là rất lớn. Trước
GVHD: Phan Trung Hiền
9
SVTH: Trịnh Dương Tân
đai. Lợi ích của Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương
xứng; nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan
20
Trịnh Công Khanh (2011), Kỷ yếu hội thảo khoa học và diển đàn đầu tư Vì Hà Giang phát triển thì sinh kế
được hiểu: “bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động
cần thiết để kiếm sống”.
21
Phan Trung Hiền (2013), Báo cáo: Nghiên cứu giải quyết những khó khăn trong giải phóng mặt bằng khi
thực hiện các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Cần Thơ”, đề tài được thực hiện (2/20116/2013).
GVHD: Phan Trung Hiền
Dương Tân
10
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí,
hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này còn lớn; thị trường bất động
sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch "ngầm" còn khá phổ biến;
tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp22.
Một chính sách đất đai hiệu quả khi nó phát huy được tính tích cực trong quá
trình phân bổ nhằm phục vụ quốc gia, lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội… và hài hòa
giữa các chủ thể trong quan hệ đất đai. Từ Hiến pháp năm 1980 của nước
CHXHCN Việt Nam đã xác định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” 23(quốc hữu hóa
đất đai), như vậy người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền sử dụng còn định
Phạm Thị Như Quỳnh (2014), Hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế- xã hội,
Luận văn thạc sỹ, Đại học Cần Thơ, tr. 26
GVHD: Phan Trung Hiền
Dương Tân
11
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
Thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đáp ứng nhu cầu đô thị hóa diễn ra là
điều tất yếu của quá trình phát triển26. Tuy nhiên, cần bảo đảm lợi ích các bên, đặc
biệt lợi ích của người dân bị thu hồi đất. Mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư cần hướng đến hạn chế tối đa việc thu hồi đất và các
trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội, giải phóng mặt bằng,
cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu
tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì phải có sự chuẩn bị cẩn thận
phương án bồi thường, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của Nhà nước, tập thể và
cá nhân, bảo đảm cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện
mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.
1.2 Tác động của thu hồi đất đến việc hỗ trợ và tạo việc làm cho người có đất
bị thu hồi
Thu hồi đất trước hết làm chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của vùng từ
nông nghiệp sang phi nông nghiệp, đời sống người dân ngày càng được nâng lên rõ
rệt. Các khu công nghiệp, đô thị phát triển phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ người dân bị ảnh hưởng đến việc làm, cuộc
sống lâu của họ do thu hồi đất diễn ra. Tác động trên chủ yếu dựa trên ba mặt: việc
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
động được đào tạo nghề, một số chuyển sang là công nhân trên “chính mảnh đất
cha, ông” họ có thu nhập ổn định, không lo sợ vấn đề “tiền nông” như trước kia. Có
những nơi vùng kinh tế khó khăn nhưng chủ đầu tư và chính quyền địa phương làm
tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ riêng vấn đề tạo việc làm, kèm theo điều kiện
“những gia đình bị thu hồi đất sẽ được tuyển làm công nhân, phần đất bị thu hồi sau
đó sẽ được giao lại cho chính các gia đình chăm sóc theo chính sách của công ty,
nhiều người dân tự nguyện bàn giao đất, công tác giải phóng mặt bằng diễn ra
nhanh chóng”28 nên thu nhập người dân được vươn lên, họ trở thành những “nông
dân hóa”.
- Về nếp sống, tinh thần, cùng với việc xây dựng các khu công nghiệp, vùng đô
thị mới là sự xuất hiện của kết cấu hạ tầng giao thông, thông tin, trường sở, các loại
hình dịch vụ điện, nước v.v… Nhờ đó đời sống tinh thần vật chất của dân chúng
cũng được chuyển biến. Người nông dân dần trở nên có nếp sống và làm việc có
tinh thần kỷ luật cao so với trước đây. Trước kia, việc “đồng áng” không đòi hỏi họ
phải làm việc “khoa học”, nhưng sau khi trở thành công nhân buộc họ có thói quen
làm việc phù hợp với môi trường và “tác phong công nghiệp”.
1.2.2 Tác động tiêu cực
Hệ quả tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa là diện
tích đất canh tác nông nghiệp nói chung giảm mạnh trong những năm qua. Diện tích
đất canh tác ở Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 0,12%.
Mỗi năm, nước ta mất đi khoảng 7.000 ha (hét-ta) đất trồng lúa, việc duy trì được
diện tích 3,81 triệu ha trồng lúa đến năm 2020 là khó khăn. Ước tính cả nước có 9,4
triệu héc-ta đất nông nghiệp29, như vậy trung bình diện tích đất nông nghiệp trên
đầu người là 1.560,4 m2, chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Cam-pu-chia30.
Về việc làm, bên cạnh một bộ phận người dân tìm được việc làm ổn định thì
nhìn chung một bộ phận lớn người dân rơi vào tình trạng mất việc, thậm chí cuộc
sống khó khăn hơn trước khi thu hồi đất. Khi mất việc làm đặc biệt ở nông thôn
thường họ di cư lên các thành phố lớn tìm việc, gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực,
“bấp bênh”, một bộ phận nhỏ không chuyển đổi nghề được đành quay lại làm nông
nghiệp nhưng do số tiền không còn nhiều nên họ chỉ nhận chuyển nhượng lại được
những vùng đất “xấu” khó sinh lợi, ví dụ điển hình: ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau
- có thế mạnh nuôi trồng thủy sản, khi thực hiện dự án Vinasin Năm Căn các hộ dân
không chuyển đổi do tập quán “nuôi tôm” lâu đời, nên dù lúc đầu có chuyển sang
buôn bán hoặc làm công nhân thì thời gian ngắn họ lại “tìm kiếm” để nhận chuyển
nhượng đất khác – tất nhiên không hiệu quả bằng đất trước kia để canh tác.
Về nếp sống, tinh thần, khi thu hồi đất đa số người dân không đồng tình bởi
nhiều lý do, trong đó không loại trừ các nguyên nhân về tập quán địa của từng vùng
miền. Việc di dời mồ mả ông cha ảnh hưởng đến tâm linh, nhiều người không muốn
từ bỏ mảnh đất vì đó là “nơi cha, đất tổ”… Khi đô thị hóa phát triển, bên cạnh
những lợi ích thì tiêu cực kéo theo không ích, tình trạng mất an ninh khiến người
dân họ không khỏi “so sánh” với trước kia, có hộ dân họ kiếm vùng nông thôn khác
để sinh sống do không quen với môi trường sinh hoạt mới.
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề hỗ trợ và tạo việc làm cho
người có đất bị thu hồi
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên nước ta khá thuận lợi cho người sản xuất, canh
tác nông nghiệp lẫn phi nông nghiệp. Khi thu hồi đất, phần lớn đất đai nông nghiệp
được quy hoạch vào sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đây là một
trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giải quyết việc làm cho người nông dân
khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thứ nhất, do đất nông nghiệp bị “manh mún”, ngày càng thu hẹp dần mà
phần lớn người dân không muốn chuyển đổi nghề mà quay về “nghề truyền thống”
31
Phạm Thị Thủy (2014), Việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội, Luận án tiến sỹ, Học viện Chính
trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 41
GVHD: Phan Trung Hiền
quyền lợi của người dân thì hiệu quả vấn đề việc làm rất cao, đời sống nhân dân
được nâng cao và ngược lại. Một số tỉnh thực hiện khi thu hồi đất thì người nông
dân được đào tạo nghề phù hợp với thực hiện dự án và sau đó được nhận vào làm,
hay một số tỉnh có lực lượng lao động trẻ và dồi dao thì đào tạo và xuất khẩu lao
động. Tuy nhiên, thực tế nhiều hộ dân trở nên khó khăn xuất phát từ chính sách tạo
việc làm của địa phương, nguyên nhân chủ yếu là: khu tái định cư và công việc
không phù hợp, chính sách đào tạo nghề chưa thật sự phù hợp với nhu cầu thực tế.
Tóm lại, chính sách hiệu quả cho người nông dân khi thu hồi đất phù hợp điều kiện
kinh tế - xã hội của từng địa phương và bản thân người nông dân là yếu tố quyết
32
Vtv.vn: Vì sao hàng trăm hộ dân tái định cư quay về nơi ở cũ?
http://vtv.vn/trong-nuoc/vi-sao-hang-tram-ho-dan-tai-dinh-cu-quay-ve-noi-o-cu-62315.htm [ truy cập ngày
19/9/2014]
GVHD: Phan Trung Hiền
Dương Tân
15
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
định đến việc làm, cuộc sống lâu dài của ho và toàn toàn xã hội khi nước ta đang
trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay33.
1.4 Pháp luật của một số quốc gia trong vấn đề thu hồi đất và hỗ trợ tạo việc
làm – Kinh nghiệm đối với Việt Nam
Ngày nay trên thế giới có hai hình thức sở hữu đất đai là đa hình thức sở hữu
36
Theo Luật quản lý đất đai của Trung quốc năm 2004, Điều 47 và Quy định về trưng mua nhà trên đất thuộc
sở hữu nhà nước và bồi thường năm 2011, Điều 19
37
Theo khoản 2, Điều 74, Luật Đất đai năm 2013 thì ưu tiên bồi thường đất cùng diện tích sử dụng, nêu
không còn đất thì mới bồi thường bằng tiền
34
GVHD: Phan Trung Hiền
Dương Tân
16
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
tại một địa phương cho thấy hiệu quả từ chính sách này Trung Quốc đã xây dựng
thành công hai mô hình công nghiệp hóa nông thôn là mô hình doanh nghiệp tư
nhân ở phía nam tỉnh Giang Tô và mô hình doanh nghiệp tập thể ở thành phố Văn
Châu. Mô hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu, nhưng
đã đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp, tạo việc làm ở nông
thôn. Do tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương nên đã có rất
nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dồi dào. Việc khuyến khích xây dựng
các doanh nghiệp địa phương không chỉ góp phần quan trọng trong giải quyết việc
làm tại chỗ, mà còn góp phần giảm sức ép về việc làm ở các đô thị lớn 38. Ngoài ra,
các biện pháp phục hồi thu nhập tuy không có quy định rõ ràng, nhưng tại một địa
phương ở Trung Quốc làm rất tốt như:(i)Tái định cư bằng tiền: theo đó các khoản
hỗ trợ sẽ được cung cấp tới các cá nhân (cộng thêm khoản bồi thường cho chi phí
Dương Tân
17
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
hóa lên phi nông nghiệp và dịch vụ ở Hàn Quốc được thực hiện khá dễ dàng so với
nước ta khi thu hồi đất, vì vậy khi thu hồi đất chính phủ đưa các hộ dân bị ảnh
hưởng vào các khu công nghiệp phù hợp với khả năng người lao động và khu tái
định cư (vấn đề nhà ở Hàn Quốc được tổ chức và quy hoạch rất khoa học), đẩy
mạnh chính sách ưu tiên về bảo hiểm cho người dân trong ba năm kể từ khi bị thu
hồi đất. Một khác biệt khi bồi thường về thiệt hại do mất tư liệu sản xuất kinh doanh
người dân được Nhà nước bồi thường về thiệt hại được tính dựa trên thiệt hại về thu
nhập hoặc lợi nhuận, chứ không dựa trên các tài sản hiện có, và việc sa thải tạm thời
hoặc thất nghiệp được áp dụng với những nhân công làm việc ít nhất 03 tháng, mức
bồi thường tương đương 70% lương trung bình cho thời gian tạm ngừng việc (tối đa
là 90 ngày). Về các biện pháp phục hồi thu nhập ở Hàn Quốc được thực hiện như
sau: Đào tạo nghề và ưu tiên tuyển dụng trong các dự án xây dựng khu đô thị; Cung
cấp địa điểm để kinh doanh thương mại trong các tòa nhà thương mại cho các nhân
công bị sa thải (không quá 27m2 một hộ gia đình)41.
- Kinh nghiệm của Ấn Độ:
Tại Ấn Độ có hẳn một đạo luật điều vấn đề thu hồi đất, khác với Việt Nam
được quy định chung trong Luật Đất đai (có một chế định riêng). Khi thu hồi đất
nông nghiệp, pháp luật Ấn Độ quy định rõ ràng về hạn mức đất nếu như người dân
muốn được bồi thường bằng đất hoặc được bồi thường bằng tiền: “Các hộ gia đình
được đền bù 1ha đất được tưới tiêu hoặc 02 ha đất không được tưới tiêu hoặc đất bỏ
hoang có thể canh tác được nếu như có sẵn nguồn đất ở khu tái định cư”. Về tạo
việc làm, Ấn Độ có những chính sách phù hợp với thực tiễn và nhu cầu người dân,
làm cơ sở để chúng ta tìm hiểu chính sách và pháp luật hiện nay của Nhà nước ta
trong việc hỗ trợ tạo việc làm cho người có đất thu hồi.
42
Bộ Tài nguyên và Môi Trường (2012), Kinh nghiệm nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai, [trang 24]
GVHD: Phan Trung Hiền
Dương Tân
19
SVTH: Trịnh
Hỗ trợ việc làm cho người có đất bị thu hồi- lý luận và thực tiễn
CHƯƠNG 2.
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CÓ
ĐẤT THU HỒI
Chương 2 này, trước tiên người viết trình bày lược sử hình thành và phát triển
của pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất. Sau đó, người viết sẽ
tập trung phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và so sánh với các quy
định trước đây trong hỗ trợ tạo việc làm khi Nhà nước thu hồi đất như: Phạm vi,
đối tượng, điều kiện… Bên cạnh đó, sẽ tìm hiểu về vai trò của các chủ thể trong quá
trình tạo việc làm cho người có đất thu hồi.
2.1 Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật về hỗ trợ tạo việc làm khi
Nhà nước thu hồi đất
Tính đến nay nước ta43 có bốn văn bản luật đất đai gồm: Luật đất đai năm
20
SVTH: Trịnh