TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
ĐỀ TÀI
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG XÂM
PHẠM BÍ MẬT KINH DOANH TRONG PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. NGUYỄN MAI HÂN
THẠCH THỊ TUYẾT NGÂN
MSSV: 5115822
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LỚP: Luật Thương Mại 1 – K37
Cần Thơ, 12 - 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau khi hoàn thành xong luận văn cử nhân luật này, đồng nghĩa với việc kết
thúc khóa học tại ngôi trường Đại học cần thơ mà em đã gắn bó trong suốt bốn
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BÁO CÁO LUẬN VĂN
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh .......................................... 12
1.2.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ................................... 13
1.2.3. Sơ lược về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định
trong Pháp luật Việt Nam hiện nay ................................................................. 14
1.3. Khái quát chung về bí mật kinh doanh và vấn đề xâm phạm bí mật kinh
doanh................................................................................................................... 18
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm bí mật kinh doanh ............................................ 18
1.3.2. Khái niệm và đặc điểm xâm phạm bí mật kinh doanh .......................... 20
Khái niệm hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh ........................................ 20
1.3.3. Sơ lược về vấn đề xâm phạm bí mật kinh doanh trước và sau khi có luật
sở hữu trí tuệ 2005 .......................................................................................... 21
1.3.3.1.Xâm phạm bí mật kinh doanh trước khi có Luật sở hữu trí tuệ 2005
...................................................................................................................... 21
1.3.3.2. Xâm phạm bí mật kinh doanh sau khi có Luật sở hữu trí tuệ năm
2005.............................................................................................................. 23
1.4.Phân biệt hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh .......................................... 24
CHƯƠNG 2 ........................................................................................................... 25
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT, THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN VỀ
HÀNH VI XÂM PHẠM BÍ MẬT KINH DOANH TRONG LUẬT CẠNH
TRANH .................................................................................................................. 25
2.1. Chủ thể xâm phạm bí mật kinh doanh ......................................................... 25
2.2. Các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh đối với doanh nghiệp ............... 25
2.2.1.Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh là việc
doanh nghiệp tìm cách có được các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của
doanh nghiệp khác một cách bất chính ........................................................... 25
2.2.2. Hành vi tiết lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh ................................ 27
2.2.3. Sử dụng bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác ............................. 28
2.3. Những vấn đề xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh ........................ 29
trong khi áp lực cạnh tranh của nền kinh tế thị trường là vô cùng lớn, sự đào thải
khốc liệt của nó cùng với mục tiêu lợi nhuận đã khiến nhiều doanh nghiệp tìm
cách lợi dụng quyền sở hữu công nghiệp của người khác mà tìm kiếm lợi ích bất
chính cho mình. Luật cạnh tranh ra đời 2004 và Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) quy định với các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong
Luật cạnh tranh đã đặt ra nền tảng pháp lý quan trọng trong việc bảo hộ các thành
quả lao động của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp, bảo vệ lợi ích của doanh
nghiệp và người tiêu dùng. Bên cạnh đó, các quy định trên còn góp phần khuyến
khích các doanh nghiệp đầu tư, phát triển các đối tượng của quyền sở hữu công
nghiệp trong hoạt động kinh doanh, thúc đẩy khoa học-công nghệ trong nước phát
triển, đồng thời đáp ứng những yêu cầu của các điều ước quốc tế về quyền sở hữu
công nghiệp mà Việt Nam tham gia, kí kết.
Tuy nhiên, so với thế giới thì vấn đề pháp luật về xâm phạm bí mật kinh
doanh trong Luật cạnh tranh của Việt Nam còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực
tiễn, các quy định ở hai văn bản luật còn có những điểm mâu thuẫn, chồng chéo
nhau, nhiều quy định chưa rõ ràng, hợp lý, do vậy chưa thật sự thể hiện rõ vai trò
của các cơ quan trong việc ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm. Bên cạnh
đó, sự hiểu biết của bản thân các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong việc
chống lại các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh còn nhiều hạn chế, dẫn đến
việc họ trở thành nạn nhân hoặc vô tình tiếp tay cho các hành vi bất chính này.
1
Vì những lý do nêu trên, người viết chọn nghiên cứu đề tài “Những vấn đề
lý luận và thực trạng xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật cạnh tranh”. để
hoàn thành luận văn tốt nghiệp khóa học của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài này trước hết là giúp cho người viết hiểu thêm
những quy định của pháp luật về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật
cạnh tranh. Qua đây, có thể trình bày những quy định trên một cách hệ thống, cùng
doanh trong Luật cạnh tranh. Trình bày khái quát chung về hành vi xâm phạm bí
mật kinh doanh, dựa trên cơ sở tìm hiểu các quan điểm khác nhau về khái niệm
của hành vi cạnh tranh, từ đó nêu lên khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh và những đặc điểm của nó. Bên cạnh đó, người viết trình bày cơ bản về hành
vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong luật cạnh tranh theo các giai đoạn phát triển
trước và sau khi Luật cạnh tranh 2004 và Luật sở hữu trí tuệ 2005 ra đời.
- Chương 2: Các quy định của pháp luật về hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh trong Luật cạnh tranh. Giới thiệu cụ thể nội dung quy định pháp luật về
hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật cạnh tranh 2004, Luật sở hữu trí
tuệ 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm: chủ thể xâm phạm bí mật
kinh doanh và các hành vi vi phạm xâm phạm bí mật kinh doanh trong luật cạnh
tranh và hình thức chế tài phổ biến là trách nhiệm hành chính và các quy trình thủ
tục xử lý hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. Bên cạnh đó, nói về thực trạng
xâm phạm bí mật kinh doanh hiện nay để từ đó người viết đưa ra một số đề xuất
nhằm hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh trong Luật
cạnh tranh. Từ việc nghiên cứu các vấn đề ở chương 1 và chương 2, người viết
trình bày một số đánh giá khái quát về các quy định pháp luật thông qua việc đưa
ra những nhận xét chung về những mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực còn tồn tại
trong các quy định pháp luật. Từ đó đưa ra ý kiến cá nhân về một số giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh
trong Luật cạnh tranh ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tuy bản thân đã có nhiều nổ lực,
cũng như đã nhận được sự hưởng dẫn và chỉ dạy tận tình của giáo viên hướng dẫn,
nhưng do có sự giới hạn về thời gian nghiên cứu cũng như vốn kiến thức chuyên
sâu, việc tìm hiểu của người viết cũng khó có thể tránh khỏi thiếu sót, hạn chế về
những quan điểm, nhận xét mang ý kiến chủ quan, cách đánh giá, tổng hợp vấn đề
cũng như tầm nhìn. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự phê bình, đóng góp
3
vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự mai rủi của một bên thể hiện
qua việc lôi kéo hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”3.
1
Bryan A .Garner, Black Law Dictonary, (St. Paul, 1999), tr.278.
2
Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam –
Luận án tiến sĩ – Đại học luật Hà Nội, năm 2002, tr. 12
3
Nguyễn Hữu Nguyên , Luật cạnh tranh của pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb.Tư pháp, Năm 2004,
tr.11.
5
Theo từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa cạnh tranh là cố gắng dành phần lớn,
phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi
ích như nhau.Trong môi trường tồn tại hoạt động môi trường cạnh tranh, cạnh
tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác, song xét
dưới gốc độ lợi ích cho toàn xã hội thì cạnh tranh luôn có những tác động tích cực.
Cạnh tranh buộc các đối thủ phải tự hoàn thiện mình và trang bị cho mình những
điều kiện tốt nhất để hội nhập, kết quả sẽ đem lại cho toàn xã hội những lợi ích
đáng kể.
Giống như những quy luật tồn tại và đào thải của tự nhiên, quy luật cạnh
tranh trong kinh tế thị trường luôn khẳng định chiến thắng thuộc về kẻ mạnh,
những chủ thể kinh doanh có tiềm năng, có trình độ quản lý về tri thức công nghệ,
trường địa lý liên quan.
Công việc này suy cho cùng là xác định khả năng thay thế cho nhau giữa
các sản phẩm của doanh nghiệp trên một khu vực không gian nhất định, khi họ có
chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, có chung nguồn lợi ích để hướng
tới, từ đó mới có căn nguyên nảy sinh ganh đua giữa họ với nhau.
1.1.3. Phân loại về cạnh tranh
Căn cứ vào mức độ và tính chất biểu hiện, cạnh tranh được chia thành loại
hình cạnh tranh hoàn hảo, loại hình cạnh tranh không hoàn hảo và loại hình cạnh
tranh độc quyền.
- Cạnh tranh hoàn hảo:
Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó người mua và người
bán đều không có khả năng tác động đến giá cả của sản phẩm trên thị trường.
Trong hình thái thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả của sản phẩm hoàn toàn do
quan hệ cung cầu, quy luật giá trị quyết định, không có sự tồn tại của bất cứ khả
năng hay quyền lực nào có thể chi phối các quan hệ trên thị trường.
“Phân tích các yếu tố của thị trường, các nhà kinh tế học cho rằng, cạnh
tranh hoàn hảo sẽ chỉ tồn tại khi có đủ 5 điều kiện sau đây:
• Một là, số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường và số lượng khách
hàng rất lớn, đủ để không một ai trong số họ có khả năng tác động đến thị
4
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb.Tư pháp,
Hà Nội, 2006, tr.10- 15.
7
trường. Do đó thị phần của các doanh nghiệp và khả năng tiêu dùng của khách
hàng là không lớn;
Trên thực tế, hình thành cạnh tranh không hoàn hảo hình thức cạnh tranh
phổ biến trên thị trường, ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành của nền kinh tế. Nếu như
trong cạnh tranh không hoàn hảo, do các điều kiện để sự hoàn hảo tồn tại không
đầy đủ nên mỗi thành viên của thị trường đều có một mức độc quyền lực nhất định
đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm. Tùy từng biểu hiện của hình thức cạnh
tranh này mà cách thức tác động đến giá cả sẽ là khác nhau. Kinh tế học chia cạnh
tranh không hoàn hảo thành cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm:
• Cạnh tranh mang tính độc quyền
Lý thuyết về hình thức cạnh tranh mang tính độc quyền gắn liền với các
công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học người Mỹ Edward Chamberlin (1899 –
1967) và nhà kinh tế học người Anh Joan V.Robinson (1903- 1983). Mặc dù là
những nhà nghiên cứu độc lập nhưng trong các tác phẩm đã công bố, hai nhà khoa
học có nhiều quan điểm tương đồng trong việc miêu tả về hiện tượng cạnh tranh
mang tính độc quyền.
Cạnh tranh mang tính độc quyền là hình thức cạnh tranh sản phẩm, mà mỗi
doanh nghiệp đều có mức độ độc quyền nhất định vì họ có sản phẩm của riêng
mình. Mặc dù các sản phẩm trên thị trường có thể thay thế cho nhau, song các
doanh nghiệp luôn nổ lực thực hiện cá biệt hóa sản phẩm phù hợp với sự đa dạng
và tính hay thay đổi của nhu cầu thị trường quyết định mức độ độc quyền và thành
công của doanh nghiệp.
Các tiêu chí được sử dụng để cá biệt hóa sản phẩm thường là mẫu mã, chất
lượng, nhãn mác, dịch vụ bán hàng,... chúng ta có thể tìm thấy sự hiện diện của
cạnh tranh mang tính độc quyền trong thị trường của các ngành như hóa mỹ phẩm,
may mặc, ô tô,...
• Độc quyền nhóm
Trong độc quyền nhóm hình thức cạnh tranh được tồn tại trong một số
ngành chỉ có một số ít nhà sản xuất và mỗi nhà sản xuất đều nhận thức được rằng
giá cả hàng hóa thấp hơn, có lợi cho người tiêu dùng, làm cho người dân tin vào
thị trường, vào quá trình cạnh tranh.
Nếu hàng hóa dịch vụ được sự tín nhiệm của khách hàng, các giao dịch
thương mại nhờ đó cũng sẽ gia tăng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cạnh
5
Lê Danh Vĩnh , Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb. Tư pháp,
Hà Nội, 2006, tr.11-13.
10
tranh có tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ, nguồn lực, vốn và các yếu tố khác
trong quá trình sản xuất, làm cho xã hội có đủ điều kiện về nguồn lực để thực hiện
những dự án lớn.
Cạnh tranh có cơ chế điều chỉnh dẫn đến trạng thái cân bằng tương đối của
thị trường. Những phát minh mới, những thành tựu khoa học công nghệ sẽ là yếu
tố kích thích các doanh nghiệp cạnh tranh mạnh mẽ hơn để tìm các cơ hội thu lợi
nhuận, đồng thời mang lại những giá trị tốt hơn về hàng hóa và dịch vụ cho người
tiêu dùng.
1.1.4.2. Nhược điểm
Cạnh tranh luôn là động lực tăng trưởng kinh tế, vì thế hậu quả kéo theo
luôn có thể xảy ra như tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, tăng
khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp,... cạnh tranh cao độ sẽ làm tích tụ quá
mức các nguồn lực của thị trường, có thể làm xuất hiện những doanh nghiệp có
khả năng thống lĩnh được thị trường, thậm chí giành vị trí độc quyền trên thị
trường hàng hóa, dịch vụ nào đó.
Bên cạnh đó, những doanh nghiệp có tiềm lực (nhưng sức cạnh tranh còn
hạn chế) buộc phải liên kết lại với nhau nhằm tạo ra ưu thế cạnh tranh đáng kể
trên thị trường qua đó cũng có thể dẫn đến hình thành vị trí thống lĩnh hoặc độc
1.2.Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau và hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định
trong công ước quốc tế như: Điều 10 Bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp quy định: “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực
tiễn, không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là
hành vi cạnh tranh không lành mạnh”6.
Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp
cạnh tranh với nhau hoạt động cùng một lĩnh vực hoặc là sản xuất cùng một mặt
hàng cạnh tranh với nhau nhằm mục đích lợi nhuận và chất lượng sản phẩm đưa
đến tay người tiêu dùng .
6
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb. Tư pháp,
Hà Nội, 2006, tr.132.
12
Chính vì mục đích trên để bảo vệ cho các doanh nghiệp cạnh tranh công
bằng với nhau nên luật cạnh tranh ra đời và quy đinh rõ về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh như sau :
“Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”7.
Như vậy, do bản tính ganh đua không chịu khuất phục của con người muốn
có tất cả dẫn đến phải cạnh tranh. Cạnh tranh một mặt giúp phát triển lợi ích xã
kinh doanh Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thuật ngữ “chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh”.Thuật ngữ này còn trừu tượng về lý thuyết
và pháp luật chưa có định nghĩa pháp lý nào quy định về chuẩn mực đạo đức kinh
doanh.
Mà đây lại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì đòi hỏi pháp luật phải
cần quan tâm hơn nhiều chỉnh sửa, bổ sung thêm khi xã hội ngày nay đang phát
triển không ngừng thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện ngày càng
nhiều và biểu hiện qua nhiều hành vi khác nhau.cần phải bổ sung thêm nhận thức
của con người hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Hành vi gây thiệt hại, hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước,
của doanh nghiệp khác và người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh hậu quả đã gây thiệt hại tác động trực
tiếp ảnh hưởng đến vật chất và tinh thần các chủ thể pháp luật bảo vệ như nhà
nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Tóm lại, việc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh là không giống
nhau giữa mỗi thời điểm lịch sử khác nhau và quốc gia khác nhau và quản lý môi
trường cạnh tranh cũng khác nhau đối với các chủ thể kinh doanh người ta thường
căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội để xác định tính lành mạnh và mức độ biểu
hiện của chúng.
1.2.3. Sơ lược về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định
trong Pháp luật Việt Nam hiện nay
Trong điều kiện tự do kinh doanh các chủ thể cạnh tranh buộc phải vươn
lên để thu hút khách hàng và mở rộng thị phần, tránh các nguy cơ thua cuộc do
kinh doanh kém hiệu quả, nguy cơ bị đào thải ra khỏi thị trường. Để đạt được mục
đích của mình, ngoài những lợi thế cạnh tranh, dựa vào nguồn lực và khả năng
kinh doanh doanh nghiệp còn có thể dùng những thủ đoạn nhằm giảm khả năng
cạnh tranh của đối thủ khác và gây ra những tổn thất đối với họ.
14
- Thứ tư, là hành vi gièm pha doanh nghiệp khác
15
Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa
ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
- Thứ năm, là hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của người khác
Gây rối là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hành vi của doanh
nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp làm cản trở hoặc làm gián đoạn hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác.
- Thứ sáu, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Đây là một biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh để thu hút khách hàng,
chiếm lĩnh thị trường, quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, “việc chủ thể kinh doanh giới
thiệu đến người tiêu dùng về hoạt động kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ”, giúp các
doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm đến với khách hàng một cách nhanh chóng.
Đối với người tiêu dùng, hoạt động quảng cáo cung cấp cho người tiêu
dùng những thông tin cơ bản về tình hình thị trường, về hàng hóa, dịch vụ nhằm
nâng cao khả năng lựa chọn của họ đối với các sản phẩm trên thị trường.
Với ý nghĩa đó, hoạt động quảng cáo thực sự có vai trò quan trọng đối với
sự phát triển của nền kinh tế và của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thực hiện
việc quảng cáo (những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói,
chữ viết, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng,... chứa đựng nội dung quảng cáo) và
những phương tiện rất đa dạng để đưa sản phẩm quảng cáo đến với khách hàng
(phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện truyền tin, các xuất bản phẩm, các
loại bảng, biển, pano, áp phích,...).
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong luật
cạnh tranh cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:
• So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng
loại của doanh nghiệp khác;
Hiệp hội thành lập ra mục đích mong muốn là giúp các doanh nghiệp độc
lập liên kết lại với nhau và không phân biệt đối xử doanh nghiệp lớn hay doanh
nghiệp nhỏ. Nhưng bên cạnh đó hoạt động của hiệp hội ngành nghề lại bị chi phối
phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp gây bất lợi cho doanh nghiệp khi hiệp hội
từ chối một doanh nghiệp có nhu cầu gia nhập hoặc rút khỏi thị trường sẽ là cạnh
tranh không lành mạnh.
17
- Thứ chín, hành vi bán hàng đa cấp bất chính
Cấm các doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thu lợi bất
chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
• Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng
hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán
hàng đa cấp;
• Không can thiệp mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán
cho người tham gia để bán lại;
• Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác
chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
• Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán
hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ
người khác tham gia.
Hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo luật cạnh tranh, bán hàng đa cấp
được hiểu là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa pháp luật chỉ coi bán hàng đa
cấp là đối tượng của pháp luật cạnh tranh khi thuộc những trường hợp bị coi là bất
chính. Tại Việt Nam, về thái độ của nhà nước và pháp luật đối với bán hàng đa
cấp, có nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng “cần cấm các hình thức bán hàng đa cấp” cho rằng
nó có quá nhiều khuyết tật, đem lại những hậu quả về kinh tế xã hội. có quan điểm
rằng “cần quản lý bán hàng đa cấp”. Theo quan điểm thứ hai thì bán hàng đa cấp