Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp - Pdf 30

1)Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp
Mô hình PEST trong nghiên cứu môi trường vĩ mô
Trong khi mô hình 5 áp lực của M-Porter đi sâu vào
việc phân tích các yếu tố trong môi trường ngành kinh
doanh thì PEST lại nghiên cứu các tác động của các yếu
tố trong môi trường vĩ mô. Các yếu tố đó là
o Political (Thể chế- Luật pháp)
o Economics (Kinh tế)
o Sociocultrural (Văn hóa- Xã Hội)
o Technological (Công nghệ)
Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các yếu tố này là
các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành, và ngành phải chịu các tác động
của nó đem lại như một yếu tố khách quan. Các doanh nghiệp dựa trên các tác động
sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp.
1. Các yếu tố Thể chế- Luật pháp. Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các
ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến
khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị
hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp
tại khu vực đó.
+ Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị,
ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều
kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy
ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó.
+ Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu
nhập... sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp.
+ Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật chống
độc quyền, chống bán phá giá ...
+ Chính sách: Các chính sách của nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp, nó có
thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp. Như các chính sách thương
1
mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh tế, thuế, các chính sách điều tiết

Giáo được. Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủ nhận
những giao thoa văn hóa của các nền văn hóa khác vào các
2
quốc gia. Sự giao thoa này sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng
phát triển với các ngành.
Ngay tại Việt Nam chúng ta có thể nhận ra ngay sự giao thoa của các nền văn hóa đặc
biệt thời gian gần đây là văn hóa Hàn Quốc.
Ra đường thấy một nửa thế giới thay phiên
nhau đi ép tóc, giày hàn quốc, son môi Hàn
Quốc, xe máy hàn Quốc, ca nhạc Hàn Quốc tất
cả đều xuất phát từ những bộ phim Hàn Quốc.
Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội
cũng khiến các doanh nghiệp quan tâm khi
nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách
hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập ... khác nhau:
+ Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống
+ Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập
+ Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống
+ Điều kiện sống
Ở Đức trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều người có thu nhập cao, điều kiện sống
tốt, có khả năng trình độ và làm tại những vị trí ổn định của xã hội nhưng họ thích
sống độc thân, không muốn phải có trách nhiệm về gia đình, công việc sinh con đẻ
cái... Những yếu tố này đã khiến các doanh nghiệp của Đức nảy sinh các dịch vụ, các
câu lạc bộ, các hàng hóa cho người độc thân.
4. Yếu tố công nghệ. Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ,
hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch
vụ. Nếu cách đây 30 năm máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày
nay nó đã có đủ chức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập. Trước
đây chúng ta sử dụng các máy ảnh chụp bằng phim thì hiện nay không còn hãng nào
sản xuất phim cho máy ảnh. Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ

đang kinh doanh mà còn các khách hàng đến từ khắp nơi.
Mô hình P.E.S.T hiện nay đã được mở rộng thành các ma trận P.E.S.L.T ( Bao gồm
yếu tố Legal - pháp luật ) và S.T.E.E.P.L.E ( Socical/Demographic-Nhân khẩu học,
Techonogical, Economics,Envirnomental,Policy, Legal, Ethical- Đạo đức ) và càng
ngày càng hoàn thiện trở thành một chuẩn mực không thể thiếu khi nghiên cứu môi
trường bên ngoài của doanh nghiệp.
4
2) Thị trường của doanh nghiệp
VN khẳng định vị trí trên bản đồ viễn thông thế giới
Trái với sự suy giảm của nhiều ngành kinh tế, viễn
thông di động vẫn có bước tăng trưởng phi mã, đóng
góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đưa
Việt Nam trở thành một điểm sáng trên bản đồ viễn
thông thế giới.
Tăng trưởng ngoạn mục
Tiếp tục đà tăng trưởng của năm 2007, năm 2008 vừa qua, các doanh nghiệp viễn
thông di động tăng trưởng một cách toàn diện cả về số lượng thuê bao, chất lượng
dịch vụ lẫn doanh thu và lợi nhuận.
Số lượng thuê bao di động trên cả nước vào cuối năm 2008 tăng gấp 2 lần so với thời
điểm 1 năm trước đó. Viettel vẫn là mạng đứng đầu với gần 30 triệu thuê bao chiếm
hơn 40% thị phần.
Đi kèm với đó là doanh thu và lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệp viễn thông di
động đều tăng. Doanh thu của Viettel trong năm 2008 đạt khoảng 2 tỷ USD, đây là
năm thứ 3 liên tiếp doanh nghiệp này có doanh thu cao gấp đôi năm trước – một kết
quả khiến nhiều công ty phải mơ ước trong thời buổi kinh tế khó khăn.
Đáng kể nhất là những thay đổi tích cực do các doanh nghiệp viễn thông di động
mang đến cho xã hội. Mục đích “phổ cập hóa dịch vụ di động” do Viettel khởi xướng
và tiên phong đã được nhiều nhà mạng hưởng ứng. Bảy doanh nghiệp khai thác dịch
vụ này ở Việt Nam đều phải tham gia vào cuộc cạnh tranh lành mạnh theo hướng có
lợi cho người tiêu dùng.

Hàng loạt dịch vụ GTGT được tung ra thị trường với nội dung phong phú và có chất
lượng cao được coi là một bước thử nghiệm quan trọng trước khi nền tảng công nghệ
3G chính thức được khai thác.
Năm 2009 được đánh giá là năm bản lề cho các doanh nghiệp viễn thông di động
6
bước vào cuộc cạnh tranh mới, cạnh tranh về dịch vụ nội dung.
Những thành tựu mà ngành thông tin di động đạt được đã đưa Việt Nam trở thành
“miền đất hứa” trên bản đồ viễn thông thế giới. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia
kinh tế, năm 2009, ngành thông tin di động ở nước ta vẫn hứa hẹn sự phát triển khả
quan ngay cả trong bối cảnh nền kinh tế chung sẽ còn khó khăn hơn nữa.
Viettel "qua mặt" FPT trên thị trường ADSL
ICTnews - Sau thời gian dài giữ vị trí số 2 trên thị trường ADSL, giờ đây FPT
Telecom đã chính thức bị Viettel đẩy tụt xuống vị trí thứ 3.
Cuộc soán ngôi được báo trước
Theo tuyên bố từ đại diện truyền thông của FPT Telecom, tính đến thời điểm này,
FPT Telecom đang có khoảng 330.000 thuê bao ADSL. Trước đó, FPT Telecom đã
đưa ra mục tiêu đến hết năm 2008 sẽ đạt được khoảng 450.000 thuê bao ADSL.
Trong khi đó, Viettel khẳng định họ đang có khoảng 360.000 thuê bao ADSL. Đại
diện của Viettel khẳng định họ đã chính thức "qua mặt" FPT Telecom về số thuê bao
đã được vài tháng nay. Đây không phải là thông tin quá bất ngờ bởi việc soán ngôi
này đã được dự báo từ hồi đầu năm 2008.
Tuy đã đứng ở vị trí thứ hai sau VNPT trên thị trường cung cấp dịch vụ ADSL, thế
nhưng ngoài những thành phố lớn Viettel chỉ cung cấp dịch vụ ADSL ở các trung
tâm tỉnh và các huyện. Sức phủ về dịch vụ này của Viettel vẫn chưa thể mạnh bằng
VNPT. Mới đây, Viettel đã cam kết miễn phí đưa Internet băng rộng đến tất cả các
trường học. Giới phân tích cho rằng, chương trình này sẽ thúc đẩy thuê bao ADSL
của Viettel tăng mạnh trong thời gian tới để tiếp tục bứt phá xa khoảng cách với đối
thủ đứng vị trí thứ 3 là FPT Telecom. Với cục diện thị trường cung cấp dịch vụ
ADSL hiện nay, chỉ Viettel mới có khả năng cạnh tranh với VNPT trên toàn quốc.
Tuy nhiên, trên thực tế, VNPT vẫn đang gia tăng khoảng cách với các đối thủ khác.

Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Phó Giám đốc của MobiFone nhận xét về khả năng cạnh
Viettel Mobile: "Họ chưa ảnh hưởng gì đến việc phát triển thuê bao mới của chúng
tôi. Bây giờ mới chỉ có khoảng hơn 100.000 thuê bao thì họ chưa gặp nhiều vấn đề
nhưng khi lượng thuê bao phát triển nhiều hơn thì sẽ có nhiều vấn đề phát sinh như
thu cước, thiết lập hệ thống đại lý, khiếu nại khách hàng về chất lượng dịch vụ,
8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status