Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trờng đại học kinh tế quốc dân
KHOA môi trờng và đô thị
chuyên đề tốt nghiệp
Đề tài :
thực trạng kiến nghị trong công tác quản lý và
sử dụng đất tại huyện tiên du - tỉnh bắc ninh
giai đoạn 2005 - 2010
Giảng viên hớng dẫn
: th.s nguyễn thanh bình
Cán bộ hớng dẫn tại cơ quan
: nguyễn trọng thịnh
Sinh viên thực hiện
: đỗ thị nga
Lớp
: kinh tế và quản lý đô thị 49
Mã sinh viên
: cq 491889
Hệ
: chính quy
Hà Nội 11/2010
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
2.1. Đất nông nghiệp..............................................................................................................................41
2.3. Đất chưa sử dụng.............................................................................................................................45
3. Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của việc sử dụng đất....................................................46
3.1. Cơ cấu sử dụng đất..........................................................................................................................46
3.2. Hiệu quả sử dụng đất.......................................................................................................................47
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân
bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, an ninh và quốc
phòng” (Luật đất đai 1993) “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy
hoạch và pháp luật, đảm bảo đúng mục đích và có hiệu quả” Luật đất đai năm
1993 và luật sửa đổi bổ sung ngày 02/12/1998 cũng quy định rõ nội dung,
trách nhiệm thẩm quyền, xét duyệt và sự cấp thiết của công tác quản lý, quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiên du là một là huyện đất hẹp , người đông có tổng diện tích tự nhiên
10.847,37 ha, nhỏ thứ tư so với các huyện, thị thành phố.Mật độ dân số 1.181
người/km2. Bình quân đất sản xuất nông nghiệp 558m2/người. Ngoài sức ép
về dân số, bên cạnh cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế chung và xu hướng
đô thị hoá ngày càng cao, nên nhu cầu sử dụng đất của tất cả các tổ chức và cá
nhân đều tăng nhanh dẫn đến tình trạng sử dụng đất và quản lý đất đai trong
những năm qua diễn biến rất phức tạp. Trước thực trạng đó em nghiên cứu đề
tài “Thực trạng và kiến nghị công tác quản lý và sử dụng đất tại huyện Tiên
Du – TP. Bắc Ninh giai đoạn 2005 -2010” để tìm hiểu thêm về những vấn đề
phức tạp đang diễn ra và đưa ra một số kiến nghị khắc phục
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tổng hợp, đánh giá lại thực trạng và tiềm năng đất đai huyện Tiên Du,
làm cơ sở đưa ra kiến nghị trong công tác quản lý và sử dụng đất, đảm bảo hài
hoà với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh, thành phố
với các tiêu chí cụ thể như sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Công tác quản lý đất đai của phòng, ban chịu trách nhiệm thực
hiện được đến đâu có đảm bảo yêu cầu sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên
đất hay không
1.1. Khái niệm về quản lý
Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho
rằng quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành,
điều khiển, chỉ huy. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người
chấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định
hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát
triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quan niệm này không những phù
hợp với hệ thống máy móc thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập
thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước.
1.2. Chức năng của quản lý
Chức năng dự báo: là sự phán đoán trước trên cơ sở thông tin chính
xác và kết luận khoa học về khả năng phát triển, thiếu nó không thể xác
định trạng thái tương lai của xã hội vì thế nó có ý nghĩa đặc biệt để thực
hiện tết các chức năng quản lý khác.
Chức năng kế hoạch hóa: là xác định mục tiêu nhiệm vụ cụ thể về tỷ
lệ, tốc độ, phương hướng và chỉ tiêu về số lượng, chất lượng cụ thể.
Chức năng tổ chức: là hệ thống quản lý và bị quản lý. Tổ chức là
hoạt động thành lập, giải thể, hợp nhất, phân định chức năng, nhiệm vụ, xác
định các quan hệ qua lại, lựa chọn sắp xếp cán bộ.
Chức năng điều chỉnh: là chức năng có mục đích thiết lập chế độ cho
hoạt động nào đó mà không tác động trực tiếp đến nội dung hoạt động, nó
được thực hiện bằng việc ban hành các văn bản pháp quy.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chức năng lãnh đạo: là chức năng định hướng cho hoạt động quản lý,
xác định cách xử sự của các đối tượng bị quản lý thông qua hình thức ban
hành các chủ trương đường lối có tính chất chiến lược.
Chức năng điều hành: là hoạt động chỉ đạo trực tiếp hành vi của đối tượng
bị quản lý thông qua việc ban hành các quyết định cá biệt, cụ thể có tính chất tác
Phương pháp thống kê
Phương pháp toán học
Phương pháp tâm lý, xã hội học
Phương pháp sinh lý học
* Nhóm thứ hai: bao gồm các phương pháp của chính bản than quản lý
nhà nước
Phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức (còn gọi là phương pháp
tuyên truyền, giáo dục)
- Phương pháp tổ chức (còn gọi là biện pháp tổ chức)
- Phương pháp kinh tế
- Phương pháp hành chính.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, trong 4 phương
pháp của nhóm thứ hai này thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức được
coi trọng hàng đầu, đòi hỏi phải được sử dụng thường xuyên, liên tục và
nghiêm túc; phương pháp tổ chức là hết sức quan trọng và có tính cấp
bách; phương pháp kinh tế là cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động
quản lý nhà nước; phương pháp hành chính là rất cần thiết và khẩn trương
nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn.
II. Đại cương về quản lý nhà nước về đất đai
1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao
gồm: quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân
phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bộ luật Dân sự quy định "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của
pháp luật ". Từ khi Luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài
sản dân sự đặc biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền
nước về đất đai.
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai như sau:
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà
nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất;
phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra
giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
2. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
2.1 Ban hành câc văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Khi tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử
dụng đất đai của các cấp trên, cơ quản quản lý hành chính nhà nước về đất
đai cũng phải căn cứ theo thẩm quyền của mình mà tổ chức hướng dẫn cho
các cấp quản lý bên dưới và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật
đất đai hiểu và thực hiện các văn bản đó đạt hiệu quả cao.
Cụ thể, ngày 26 tháng 11 năm 2003, tại kỳ họp thứ 4, Khoá XI,
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Đất
đai 2003. Sau đó, ngày 10 tháng 12 năm 2003, Chủ tịch nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh số 23/20031L-CTN công bố
Luật Đất đai 2003. Căn cứ theo thẩm quyền của mình, Chính phủ đã ban
hành một loạt các Nghị định để thi hành, bao gồm:
Nghị định số 181/20041NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai 2003 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 181/2004/NĐ-CP).
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 18212004/NĐ-CP).
Sau đó, các cơ quan cấp bộ có liên quan như Bộ Tài nguyên và Môi
hiện các văn bản đó" đã được xác định là cơ sở để thực hiện các nội dung
khác và được xếp lên vị trí thứ nhất trong 13 nội dung quản lý nhà nước về
đất đai.
2.2 Xác định địa giới hành chính lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính
2.2.1. Xác định địa giới hành chính và lập, quản lý hồ sơ địa giới hành chính
* Xác định địa giới hành chính
Địa giá hành chính là ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa
danh và một số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Địa giới hành chính được xác định bằng các mốc giới cụ thể thể hiện
toạ độ vị trí đó.
Hiện nay nước ta được chia thành 4 cấp hành chính là: cấp trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Giữa các đơn vị hành chính các cấp
này đều có ranh giới được thể hiện bằng các mốc địa giới có toạ độ của vị trí
các mốc đó.
Việc xác định địa giới hành chính được quy định tại Điều 16, Luật
Đất đai 2003 như sau: Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính,
lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước. Bộ
Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý
mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính. Bộ Tài nguyên và Môi trường
quy định về kỹ thuật và đinh mức kinh tế trong việc cắm mốc địa giới
hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Uỷ ban nhân dân các
cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sơ địa giới hành chính trong phạm vi địa phương.
* Lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính
Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ quản lý nhà nước đối với
địa giới hành chính, gồm 9 loại giấy tờ sau đây:
bản đồ địa giới hành chính của đơn vị hành chính đó, tức là dựa vào các
mốc địa giới hành chính và các yếu tố địa vật, địa hình có liên quan để lập
bản đồ thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh và một
số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương.
2.3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch đất
2.3.1. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất
"Điều tra, khảo sát đất đai" luôn được xếp lên vị trí thứ nhất trong
công tác quản lý nhà nước về đất đai. Thông qua việc điều tra, khảo sát, đo
đạc, đánh giá đất đai mới có thế phân chia toàn bộ quỹ đất đai trong toàn
quốc thành các loại, các hạng thích hợp.
Để đánh giá đúng số lượng và chất lượng đất cần phải điều tra, đo đạc,
khảo sát và phân hạng đất. Điều tra, đo đạc, khảo sát là các biện pháp kỹ
thuật nhằm xác định về số lượng đất như: hiện nay tổng diện tích là bao
nhiêu? Từng vùng là bao nhiêu? Từng loại đất là bao nhiêu? Tất cả những
câu hỏi này cần được cơ quan quản lý đất đai phối hợp với các cơ quan
liên quan trả lời một cách chính xác và đầy đủ. Đồng thời, phải nắm chắc về
chất lượng của đất như độ màu mỡ, lý tính, hoá tính đất v.v...
Như vậy, để có cơ sở cho việc hoạch định chiến lược kinh tế của đất
nước thì không thể thiếu được việc đánh giá, phân hạng đất. Đồng thời, để
giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được tốt hơn, đạt hiệu quả cao
hơn thì ngoài việc đánh giá, phân hạng đất còn phải lập bản đồ địa chính,
Website: Email : Tel : 0918.775.368
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất. Chỉ khi lập
được các loại bản đồ này mới có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện công tác quản
lý nhà nước về đất đai.
2.3.2. Lập bản đồ địa chính
Theo Khoản 13, Điều 4, Luật Đất đai 2003 thì: "Bản đồ địa chính là
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc địa phương. Đồng thời, lập bản đồ
quy hoạch sử dụng đất còn làm cơ sở để cuối kỳ quy hoạch đánh giá việc thực
hiện phương án quy hoạch sử dụng đất đó.
2.4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.4.1. Khái niệm và ý nghĩa của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai cụ thể về số lượng và
chất lượng, vị trí, không gian... cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. Nó đảm
bảo cho việc sử đụng đất đạt hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về
đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất.
Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai có ý nghĩa to lớn trong công tác
quản lý và sử dụng đất đai. Đối với Nhà nước, nó đảm bảo việc sử dụng đất
đai hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục đích nhất định và phù hợp với các quy định
của Nhà nước.
2.4.2. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện bằng việc
công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trong thời hạn không quá 30 ngày
làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được công bố công
khai theo quy định của pháp luật đất đai như sau: Bộ Tài nguyên và Môi
trường có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu về quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của cả nước đã được Quốc hội quyết định tại trụ sở cơ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan Bộ trong suất kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng Công báo;
công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của Chính phủ và trích đăng
trên một báo hàng ngày của Trung ương.
2.4.3. Đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đánh giá là một biện pháp không thể thiếu trong công tác quản lý
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng
thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó.
2.6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa giới địachính,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.6.1. Đăng ký quyền sử dụng đất
Theo Khoản 19, Điều 4, Luật Đất đai 2003 "Đăng ký quyền sử dụng đất là
việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ
sơ địa chính nhằm xác tập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. "
Đăng ký sử dụng đất là một biện pháp của Nhà nước nhằm theo dõi
tình hình sử dụng và biến động thường xuyên của nó.
Như vậy, sau khi đăng ký quyền sử dụng, đất đai được công nhận sử
dụng một cách hợp pháp là điều kiện để được xem xét cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng.
Đối với các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, cán bộ địa
chính xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tổ chức cho người sử dụng đăng
ký quyền sử dụng đất; đồng thời, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải
đăng ký cả phần đất còn chưa sử dụng vào sổ địa chính Nhà nước.
2.6.2. Lập và quản lý hồ sơ địa chính
Theo quy định của Luật đất đai "Hồ sơ địa chính là hồ sơ phục vụ
quản lý nhà nước đối với việc sử dụng đất ". Hồ sơ địa chính gồm bản đồ
địa chính, sổ địa chính, sổ mục kế đất đai và sổ theo dõi biến động đất đai.
Việc quản lý hồ sơ địa chính được quy định như sau:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hồ sơ địa chính được lập thành 1 bản gốc và 2 bản sao từ bản gốc;
bản gốc được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu tại Văn phòng đăng ký quyền
sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, một bản sao được lưu
tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Bản gốc hồ sơ địa chính phải được
chỉnh lý kịp thời khi có biến động về sử dụng đất, bản sao hồ sơ địa chính
- Xây dựng tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác
định nhu cầu sử dụng đất đáp ứng cho việc thực hiện chiến lược, quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước, của các ngành,
các địa phương; thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng
năm của Nhà nước. Đề xuất việc điều chỉnh chính sách, pháp luật, quy hoạch về
đất đai.
- Công bố số liệu về đất đai trong niên giám thống kế quốc gia; phục
vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu về đất đai cho quản lý nhà nước, hoạt động kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu khoa học, giáo dục - đào tạo và
các nhu cầu khác của cộng đồng.
2.8 Quản lý tài chính về đất đai
Quản lý tài chính về đất đai bao gồm quản lý giá đất và quản lý các
nguồn thu ngân sách từ đất đai.
2.8.1. Quản lý giá đất
Giá đất (thực chất là giá quyền sử dụng đâu là số tiền tính trên một
đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong
giao dịch về quyền sử dụng đất. Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng
tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn
sử dụng đất xác định.
Mục đích của việc xác định giá đất là sử dụng làm căn cứ để tính thuế đối
với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
Website: Email : Tel : 0918.775.368
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tính tiền sử dụng đất và tiền thuê đất khi giao đất có thu tiền sử dụng đất.
2.8.2. Quản lý các nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai
Điều 54, Luật đất đai 2003 quy định nguồn thu ngân sách nhà nước
từ đất đai bao gồm: tiền sử dụng đất trong các trường hợp giao đất có thu
tiền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất được Nhà nước giao
không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử
Nội dung này là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
nhằm quản lý chặt chẽ, uốn nắn kịp thời các sai sót, vi phạm trong quá
trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật Đất đai
2003 quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Đồng thời, để
các quyền và nghĩa vụ này được thực hiện đúng, pháp luật đất đai còn quy
định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai các cấp là phải
quản lý, giám sát người sử dụng xem trong quá trình sử dụng họ thực hiện
các quyền và nghĩa vụ này như thế nào; quy định việc xử lý các trường hợp
người sử dụng và người quản lý vi phạm pháp luật đất đai.
2.11 Thanh tra, kiểm tra việc tranh chấp các quy định pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Thanh tra đất đai là việc điều tra, xem xét để làm rõ việc vi phạm
pháp luật đất đai và kiến nghị biện pháp xử lý. Kiểm tra đất đai là việc xem
xét tình hình thực tế về quản lý, sử dụng đất đai để đánh giá, nhận xét.
Thanh tra đất đai là thanh tra nhà nước theo chuyên ngành về đất
đai. Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực
hiện thanh tra đất đai trong cả nước. Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương
chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra đất đai tại địa phương.
Như vậy, ngoài hệ thống thanh tra nhà nước theo cấp hành chính từ
Chính phủ xuống đến cấp tỉnh, cấp huyện để thanh tra, kiểm tra việc chấp
hành các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về đất đai nói riêng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
còn có hệ thống thanh tra chuyên ngành về đất đai là Vụ Thanh tra thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thanh tra thuộc các Sở Tài nguyên
và Môi trường chuyên làm nhiệm vụ thanh tra về lĩnh vực tài nguyên môi
trường mà một phần chính là thanh tra về đất đai.
2.12 Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý đất đai